VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
11-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
MẠC
KHẢI
CỦA
THIÊN
CHÚA
(DEI
VERBUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Khóa
VIII
Ngày
18
tháng
11
Năm
1965
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Lời
Mở
Ðầu
1.
Trong
niềm
thầm
kính
lắng
nghe
và
tin
tưởng
công
bố
Lời
Thiên
Chúa,
2*
Thánh
Công
Ðồng
lặp
lại
lời
Thánh
Gioan:
"Chúng
tôi
loan
truyền
cho
anh
em
sự
sống
đời
đời,
đã
có
nơi
Chúa
Cha
và
đã
hiện
đến
với
chúng
tôi:
điều
chúng
tôi
đã
thấy,
đã
nghe,
chúng
tôi
loan
truyền
cho
anh
em,
để
anh
em
cũng
được
hiệp
nhất
với
chúng
tôi,
và
chúng
tôi
hiệp
nhất
với
Chúa
Cha
và
với
Chúa
Giêsu
Kitô
Con
Ngài"
(1Gio
1,2-3).
Bởi
thế
noi
gương
Công
Ðồng
Trentô
và
Vaticanô
I,
Công
Ðồng
này
muốn
trình
bày
giáo
lý
chân
thực
về
mạc
khải
của
Thiên
Chúa
và
lưu
truyền
mạc
khải
ấy,
để
khi
nghe
công
bố
ơn
cứu
độ,
toàn
thể
nhân
loại
tin
theo,
để
nhờ
tin
mà
hy
vọng,
và
nhờ
hy
vọng
mà
yêu
mến
1.
3*
Chương
I
Về
Chính
Việc
Mạc
Khải
4*
2.
Bản
tính
và
đối
tượng
của
mạc
khải.
Thiên
Chúa
nhân
lành
và
khôn
ngoan
đã
muốn
mạc
khải
chính
mình
và
tỏ
cho
mọi
người
biết
mầu
nhiệm
thánh
ý
Ngài
(x.
Eph
1,9).
Nhờ
đó,
loài
người
có
thể
đến
cùng
Chúa
Cha,
nhờ
Chúa
Kitô,
Ngôi
Lời
nhập
thể
trong
Chúa
Thánh
Thần,
và
được
thông
phần
bản
tính
của
Thiên
Chúa
(x.
Eph
2,18;
2P
1,4).
Trong
việc
mạc
khải
này,
với
tình
thương
chan
chứa
của
Ngài,
Thiên
Chúa
vô
hình
(x.
Col
1,15;
1Tm
1,17)
ngỏ
lời
với
loài
người
như
với
bạn
hữu
(x.
Xac
33,11;
Gio
15,14-15).
Ngài
đối
thoại
với
họ
(x.
Bar
3,38)
để
mời
gọi
và
đón
nhận
họ
hiệp
nhất
với
Ngài.
Công
cuộc
mạc
khải
này
được
thực
hiện
bằng
các
hành
động
và
lời
nói
liên
kết
mật
thiết
với
nhau.
Nên
các
việc
Thiên
Chúa
thực
hiện
trong
lịch
sử
cứu
rỗi
bày
tỏ,
củng
cố
giáo
lý
và
những
điều
được
giải
thích
qua
lời
nói.
Còn
lời
nói
thì
công
bố
các
việc
làm
và
khai
sáng
mầu
nhiệm
chứa
đựng
trong
đó
5*.
Nhờ
mạc
khải
này,
chân
lý
thâm
sâu
về
Thiên
Chúa
cũng
như
về
phần
rỗi
con
người,
được
sáng
tỏ
nơi
Chúa
Kitô,
Ðấng
trung
gian,
đồng
thời
là
sự
viên
mãn
của
toàn
thể
mạc
khải
2.
6*
3.
Chuẩn
bị
mạc
khải
Phúc
Âm.
7*
Thiên
Chúa,
Ðấng
tạo
dựng
và
bảo
tồn
mọi
sự
nhờ
Ngôi
Lời
(x.
Gio
1,3),
không
ngừng
làm
chứng
về
Mình
trước
mặt
loài
người
qua
các
tạo
vật
(x.
Rm
1,19-20).
8*
Và
vì
muốn
mở
đường
cứu
rỗi
cao
trọng,
nên
từ
đầu
Ngài
còn
tỏ
Mình
ra
cho
tổ
tông
chúng
ta.
Sau
khi
tổ
tông
sa
ngã,
qua
lời
hứa
ban
ơn
cứu
chuộc,
Ngài
đã
nâng
đỡ
họ
dậy
trong
niềm
hy
vọng
cứu
rỗi
(x.
Stk
3,15).
Ngài
không
ngừng
săn
sóc
nhân
loại,
để
ban
sự
sống
đời
đời
cho
tất
cả
những
ai
tìm
kiếm
sự
cứu
rỗi
nhờ
kiên
tâm
làm
việc
thiện
(x.
Rm
2,6-7).
9*
Khi
đến
giờ
đã
định,
Ngài
gọi
Abraham
để
qua
ông,
Ngài
tạo
lập
một
dân
tộc
lớn
mạnh
(x.
Stk
12,2-3),
một
dân
tộc
mà
sau
thời
các
Tổ
Phụ,
Ngài
đã
dùng
Môisen
và
các
Tiên
Tri
dạy
dỗ,
để
họ
nhận
biết
Ngài
là
Chúa
duy
nhất,
hằng
sống
và
chân
thật,
là
Cha
quan
phòng,
là
thẩm
phán
chí
công,
để
họ
trông
đợi
Ðấng
Cứu
Thế
được
hứa
ban
và
nhờ
vậy,
qua
bao
thế
kỷ,
Ngài
đã
dọn
đường
10*
cho
Phúc
Âm.
4.
Ðức
Kitô
hoàn
tất
mạc
khải.
11*
Sau
khi
phán
dạy
nhiều
lần,
nhiều
cách
qua
các
Tiên
Tri,
"nay
là
thời
cuối
cùng,
Thiên
Chúa
đã
nói
với
chúng
ta
qua
Chúa
Con"
(Dth
1,1-2).
12*
Thực
vậy,
Ngài
đã
sai
Con
Ngài
là
Ngôi
Lời
vĩnh
cửu,
Ðấng
sáng
soi
mọi
người,
đến
sống
giữa
loài
người
và
nói
cho
họ
nghe
những
điều
kín
nhiệm
nơi
Thiên
Chúa
(x.
Gio
1,1-18).
Bởi
vậy,
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ngôi
Lời
nhập
thể
"là
người
đã
được
sai
đến
với
loài
người"
3,
"nói
tiếng
nói
của
Thiên
Chúa"
(Gio
3,34)
và
hoàn
thành
công
trình
cứu
rỗi
của
Chúa
Cha
đã
giao
phó
cho
Ngài
thực
hiện
(x.
Gio
5,36;
17,4).
Vì
thế,
chính
Ngài,
Ðấng
mà
ai
thấy,
tức
là
thấy
Chúa
Cha
(x.
Gio
14,9),
đã
đến
bổ
túc
và
hoàn
tất
mạc
khải,
bằng
tất
cả
sự
hiện
diện
và
tỏ
mình
qua
lời
nói
cũng
như
việc
làm,
dấu
chỉ
và
phép
lạ,
nhất
là
qua
cái
chết
và
sự
sống
lại
vinh
quang
từ
kẻ
chết,
sau
cùng
bằng
việc
phái
Thần
Chân
Lý
đến,
bằng
chứng
tích
của
một
Thiên
Chúa,
Ngài
xác
nhận
Thiên
Chúa
hằng
ở
với
chúng
ta
để
giải
thoát
chúng
ta
khỏi
bóng
tối
tội
lỗi
và
sự
chết,
rồi
phục
sinh
chúng
ta
để
được
sống
đời
đời.
Vậy
nhiệm
cuộc
Kitô
giáo,
vì
là
giao
ước
mới
và
vĩnh
viễn,
sẽ
không
bao
giờ
mai
một.
Chúng
ta
không
phải
chờ
đợi
một
mạc
khải
công
cộng
nào
khác
nữa
trước
khi
Chúa
Giêsu
Kitô
Chúa
chúng
ta
hiện
đến
trong
vinh
quang
(x.
1Tm
6,14;
Tit
2,13).
13*
5.
Mạc
khải
phải
được
đón
nhận
bằng
đức
tin.
Phải
bày
tỏ
"sự
vâng
phục
của
đức
tin"
(x.
Rm
16,26;
Rm
1,5;
2Cor
10,5-6)
đối
với
Thiên
Chúa
mạc
khải.
Nhờ
sự
vâng
phục
đó,
con
người
phó
thác
toàn
thân
cho
Thiên
Chúa
một
cách
tự
do
"dâng
lên
Thiên
Chúa
mạc
khải
sự
qui
phục
hoàn
toàn
của
lý
trí
và
ý
chí"
4,
đồng
thời
sẵn
lòng
chấp
nhận
mạc
khải
Ngài
ban
cho.
Ðể
được
niềm
tin
này,
cần
có
ân
sủng
Thiên
Chúa
đi
trước
giúp
đỡ
và
sự
trợ
giúp
bên
trong
của
Chúa
Thánh
Thần:
Ngài
thúc
đẩy
và
quy
hướng
con
tim
về
cùng
Thiên
Chúa,
mở
mắt
lý
trí
và
làm
cho
"mọi
người
cảm
thấy
dịu
ngọt
khi
đón
nhận
và
tin
theo
chân
lý"
5.
Và
để
việc
hiểu
biết
mạc
khải
được
sâu
rộng
thêm
mãi,
cũng
chính
Chúa
Thánh
Thần
không
ngừng
kiện
toàn
đức
tin
qua
các
ơn
của
Ngài.
14*
6.
Tương
quan
giữa
tri
thức
tự
nhiên
và
siêu
nhiên
về
Thiên
Chúa.
Thiên
Chúa
đã
muốn
dùng
mạc
khải
15*
để
bày
tỏ
và
thông
ban
chính
mình
Ngài
cùng
những
ý
định
muôn
đời
của
Ngài
liên
quan
đến
phần
rỗi
nhân
loại,
"nghĩa
là
cho
họ
được
tham
dự
vào
các
ân
thiêng
hoàn
toàn
vượt
khỏi
trí
khôn
loài
người"
6.
16*
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
xưng
rằng:
"Con
người
nhờ
ánh
sáng
tự
nhiên
của
lý
trí,
có
thể
từ
các
tạo
vật
nhận
biết
cách
chắc
chắn
có
Thiên
Chúa
như
nguyên
lý
và
cứu
cánh
mọi
sự"
(x.
Rm
1,20).
Công
Ðồng
còn
dạy:
chính
nhờ
Thiên
Chúa
mạc
khải
mà
"tất
cả
những
gì
thuộc
về
Thiên
Chúa,
tự
nó
vốn
không
vượt
quá
khả
năng
lý
trí
con
người,
trong
hoàn
cảnh
hiện
tại
của
nhân
loại,
đều
có
thể
biết
được
cách
dễ
dàng,
chắc
chắn
mà
không
lẫn
lộn
sai
lầm"
7.
17*
Chú
Thích:
1*
Lược
đồ
thứ
nhất
mang
tựa
đề
"Lược
đồ
Hiến
chế
tín
lý
về
các
nguồn
Mạc
Khải".
Trong
lần
soạn
thảo
thứ
hai,
lược
đồ
lại
mang
tên
"Lược
đồ
Hiến
chế
tín
lý
về
mạc
khải
của
Thiên
Chúa".
Nhưng
vì
bản
văn
nói
về
Mạc
Khải
rất
ít
nên
có
người
đề
nghị
tựa
đề
"Về
Thiên
Chúa
Ðấng
tự
mạc
khải",
hoặc
"Về
Thánh
Kinh".
Trong
lần
soạn
thảo
thứ
ba
tĩnh
từ
"tín
lý"
bị
loại
bỏ,
nhưng
nó
lại
xuất
hiện
trong
bản
văn
cuối
cùng.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Nguyên
văn
viết
tất
cả
hai
chữ
bằng
chữ
hoa,
nên
ta
không
biết
nó
chỉ
Ngôi
Lời
của
Thiên
Chúa
hay
là
Lời
của
Chúa,
tức
Phúc
Âm.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
T.
Augustinô,
De
catechezandis
rudibus,
ch.
IV,
8:
PL
40,
316.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Ở
đây
Công
Ðồng
trình
bày:
mục
đích
của
Mạc
Khải
là
cứu
độ
con
người
chứ
không
phải
để
thỏa
mãn
óc
tìm
tòi
của
trí
khôn
chúng
ta.
Quyền
Giáo
Huấn
không
phải
là
chủ
của
Lời
Chúa
nhưng
là
tôi
tớ
"lắng
nghe"
và
vâng
theo
(số
10);
do
đó
quyền
giáo
huấn
phải
làm
chứng
những
gì
đã
được
giao
phó.
Việc
trích
dẫn
1Gio
1,
2-3
trình
bày
nội
dung
Mạc
Khải
(đời
sống
vĩnh
cửu)
như
sự
hiệp
thông
giữa
con
người
và
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa;
nội
dung
đó
được
gởi
đến
cho
mọi
người
nhờ
các
chứng
tá.
Những
điều
trên
đương
nhiên
đòi
hỏi
một
hoạt
động
truyền
giáo:
việc
"công
bố
ơn
cứu
độ"
(x.
CvTđ
13,26;
Eph
1,
13).
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Chương
này
xuất
hiện
ở
trong
bản
thảo
thứ
ba.
Trong
các
lược
đồ
trước,
lời
mở
đầu
chỉ
bàn
sơ
qua
về
vài
khía
cạnh
như
"sự
cần
thiết
và
đối
tượng
của
Mạc
Khải"
(số
1),
"Mạc
Khải
tiệm
tiến"
(số
2)
v.v...
Nhưng
nhiều
Nghị
Phụ
đòi
bàn
về
chính
việc
Mạc
Khải,
vì
Mạc
Khải
chứa
đựng
không
những
các
chân
lý
về
Thiên
Chúa
mà
cả
sự
kiện
Thiên
Chúa
tự
mạc
khải.
Trong
chương
này
Công
Ðồng
đã
muốn
trình
bày
Mạc
Khải
dưới
cái
nhìn
của
con
người
để
thích
ứng
hơn
với
những
đòi
hỏi
của
con
người
thời
nay.
Phải
xem
xét
trọn
giáo
thuyết
này
dưới
ánh
sáng
của
lịch
sử
cứu
độ.
Chúa
phó
mình
cho
con
người
ngay
từ
khi
tạo
dựng
vũ
trụ.
Bố
cục
của
chương
này
như
sau:
số
2:
Sự
kiện
Chúa
phó
mình
và
từ
đó
tự
Mạc
Khải;
số
3
và
4:
các
giai
đoạn
Mạc
Khải
và
sự
hoàn
thành
trong
Chúa
Kitô;
số
5:
thái
độ
con
người
để
tiếp
nhận
Mạc
Khải;
số
6:
các
chân
lý
Mạc
Khải.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Nền
thần
học
Công
Giáo
đã
thường
coi
Mạc
Khải
như
một
lời
nói;
còn
các
hoạt
động
của
Chúa
thì
bị
liệt
vào
hàng
rất
phụ
thuộc.
Công
Ðồng
lại
muốn
trình
bày
là
Thiên
Chúa
tự
Mạc
Khải
trước
tiên
bằng
"hành
động"
(gesta)
(không
bằng
việc
làm
(facta)
vì
việc
làm
có
vẻ
là
một
tác
động
vật
chất
hơn).
Ở
đây,
chữ
"hành
động"
còn
có
nghĩa
là
những
biến
cố
do
một
người
gây
nên;
trong
trường
hợp
này,
con
người
đó
chính
là
Thiên
Chúa.
Thiên
Chúa
tự
mạc
khải
bằng
cách
hoạt
động
phù
trợ
dân
Ngài,
thăm
viếng
bạn
hữu
(Abraham,
Môisen)
và
bằng
các
phép
lạ
(ví
dụ
Chúa
Kitô)
v.v...
Trước
đó
số
2
này
mang
tựa
đề:
"sự
cần
thiết
của
Mạc
Khải"
sau
đổi
thành
"Bản
tính
và
đối
tượng".
Chúng
ta
thấy
Mạc
Khải
phát
xuất
không
do
"sự
khôn
ngoan
và
nhân
lành
của
Thiên
Chúa"
như
Vaticanô
I
đã
nói
(Dz
1785/3004)
nhưng
do
"Thiên
Chúa
nhân
lành
và
Khôn
Ngoan".
Ðối
tượng
là
chính
Thiên
Chúa
và
Nhiệm
cuộc
cứu
rỗi
của
Ngài.
Ở
đây
Công
Ðồng
dùng
tiếng
"bí
tích"
để
nói
lên
dấu
chỉ
và
phương
tiện,
lời
nói
và
hành
động
(x.
GH
I).
Mạc
Khải
là
hoàn
toàn
nhưng
không,
ơn
của
tình
yêu
Thiên
Chúa,
tỏ
bày
cho
các
"bạn
hữu"
như
trong
một
cuộc
đối
thoại,
nghĩa
là
không
những
nói
mà
sống
chung
nữa.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Mt
11,27;
Gio
1,14
và
17;
14,6;
17,1-3;
2Cor
3,16
và
4,6;
Eph
1,3-14.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Câu
này
không
thấy
trong
những
lần
soạn
thảo
trước,
sau
được
thêm
vào
do
lời
đề
nghị
của
nhiều
Nghị
Phụ.
Vấn
đề
quan
trọng
là
phải
xem
Chúa
Kitô
là
trung
gian
duy
nhất
của
Mạc
Khải
vì
Người
là
Lời
mà
Chúa
Cha
nói
với
chúng
ta,
và
là
sự
viên
mãn
vì
trong
Người,
Chúa
Cha
nói
với
chúng
ta
tất
cả
mọi
sự.
Vì
vậy
Mạc
Khải
có
Kitô
tính.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Ðề
mục
tổng
quát
của
đoạn
này
là
sự
trông
chờ
Mạc
Khải
của
Chúa
Kitô.
Mạc
Khải
này
thể
hiện
từng
giai
đoạn,
ta
có
thể
gọi
là
Mạc
Khải
qua
vũ
trụ,
Mạc
Khải
sơ
khai
và
Mạc
Khải
trong
lịch
sử.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Bản
văn
xác
nhận
sự
kiện
"Mạc
Khải
qua
vũ
trụ"
hay
qua
"tạo
vật"
theo
thơ
gởi
tín
hữu
Rôma
1,19-20.
Nhưng
bản
phúc
trình
không
muốn
giải
quyết
vấn
nạn
là
trong
thực
tế
Thiên
Chúa
có
ban
ơn
để
người
ta
có
thể
nhận
biết
Chúa
qua
tạo
vật
không
(Relatio
đính
kèm
lược
đồ
III,
1964,
trg
11,3,A).
Thiên
Chúa
mạc
khải
khi
tạo
dựng;
nhưng
nên
chú
ý
là
bản
văn
nói
"Chúa
tạo
dựng"
chứ
không
nói
Chúa
đã
tạo
dựng
để
chỉ
rõ
là
tất
cả
tạo
vật
luôn
luôn
tùy
thuộc
vào
Ðấng
Tạo
Hóa,
dầu
cả
trong
giả
thuyết
tiến
hóa.
Mọi
người
đều
có
thể
thấy
trong
tạo
vật
bằng
chứng
sự
hiện
hữu
của
Thiên
Chúa.
Chính
đây
là
nền
móng
cho
thần
học
của
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
"Mạc
khải
sơ
khai"
được
trình
bày
trong
tầm
mức
siêu
nhiên.
Bản
văn
loại
bỏ
vấn
đề
nhất
tổ
thuyết
hay
đa
tổ
thuyết,
mà
chỉ
muốn
nói
là
Thiên
Chúa
đã
tỏ
mình
cho
con
người,
(không
nói
bằng
cách
nào),
cũng
như
chỉ
muốn
nói
là
Thiên
Chúa
đã
luôn
luôn
cứu
thoát
con
người,
và
tình
trạng
này
vẫn
còn
giá
trị
ngay
cả
bây
giờ
(xem
GH
16).
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
"Mạc
khải
trong
lịch
sử"
bắt
đầu
với
Abraham.
Công
Ðồng
đã
muốn
nêu
lên
mối
liên
lạc
giữa
việc
tuyển
chọn
và
Mạc
Khải.
Thiên
Chúa
được
gọi
là
"Cha",
nhưng
các
chữ
"của
mọi
người"
lại
bị
loại
bỏ
vì
trong
Cựu
Ước
phổ
quát
tính
chưa
rõ
ràng
lắm.
Cựu
Ước
được
coi
như
là
sự
"chuẩn
bị"
cho
Phúc
Âm
để
nói
lên
ý
tưởng
mạc
khải
trong
Cựu
Ước
còn
bất
toàn
và
có
liên
quan
đến
Mạc
Khải
của
Chúa
Kitô.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Số
này
đáp
ứng
số
2:
Mạc
Khải
được
thể
hiện
bằng
hành
động
và
ngôn
từ.
Chúa
Kitô
vừa
là
biến
cố
vừa
là
Lời
của
Thiên
Chúa.
Có
hai
đoạn:
đoạn
thứ
nhất
cắt
nghĩa
tại
sao
Chúa
Kitô
đem
lại
cho
chúng
ta
mạc
khải
viên
mãn;
đoạn
hai
nói
mạc
khải
này
là
tối
hậu
và
sẽ
không
còn
mạc
khải
nào
khác
nữa.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Công
Ðồng
đánh
dấu
sự
liên
tục
và
tương
phản
giữa
mạc
khải
của
Chúa
Kitô
và
những
gì
xảy
ra
trước.
Một
đối
với
nhiều,
như
toàn
thể
đối
với
phân
tán.
Nhập
Thể
là
cuộc
Mạc
Khải
vĩ
đại
của
Thiên
Chúa.
Vì
vậy
trước
tiên
phải
xác
định
chân
lý
Nhập
Thể,
bản
tính
nhân
loại
thật
sự
của
Chúa
Kitô,
trong
đó
ta
"thấy"
Chúa
(x.
Gio
14,9)
và
lịch
sử
thật
của
Ngài,
"lời
nói
và
việc
làm".
Các
phép
lạ
không
phải
chỉ
là
sự
"xác
nhận"
Mạc
Khải,
nhưng
là
chính
Mạc
Khải:
vì
Chúa
Kitô
tỏ
mình
qua
các
phép
lạ.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Epist.
ad
Diognetum,
7,4:
Funk,
Patres
Apostolici,
1,403.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Theo
ý
tưởng
của
thư
gởi
tín
hữu
Do
Thái,
Mạc
Khải
cũng
như
chức
Linh
Mục
của
Chúa
Kitô
phải
là
độc
nhất
và
vĩnh
cửu.
Một
vài
Nghị
Phụ
muốn
nói
là
"vì
Mạc
Khải
chấm
dứt
với
các
Tông
Ðồ",
nhưng
Ủy
ban
bác
bỏ
ý
kiến
trên
"vì
đó
là
một
lời
giải
thích
đang
được
bàn
cãi".
Lý
do
sâu
xa:
vì
Chúa
Kitô
là
sự
viên
mãn
và
như
vậy
hoàn
tất
Mạc
Khải,
nên
không
còn
gì
vượt
trên
sự
viên
mãn
nữa.
Nhưng
cuộc
Mạc
Khải
còn
chờ
sự
vinh
quang
vào
ngày
Quang
Lâm.
Còn
vấn
đề
tiến
triển:
không
phải
tiến
triển
trong
Mạc
Khải
nhưng
tiến
triển
chính
trong
việc
chúng
ta
hiểu
biết
và
thực
hành
Phúc
Âm;
đó
là
công
việc
của
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
không
nói
sự
gì
mới
lạ
nhưng
làm
chứng
về
Chúa
Kitô
(x.
Gio
16,14).
(Trở
lại
đầu
trang)
4
CÐ
Vat
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
công
giáo
Dei
Filius,
ch.
3:
Dz
1789
(3008).
(Trở
lại
đầu
trang)
5
CÐ
Orange
II,
đ.
th.
7:
Dz
180
(377).
-
CÐ
Vat
I,
n.v.t.:
Dz
1791
(3010).
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Trong
số
này
Công
Ðồng
trình
bày
lời
đáp
ứng
của
con
người
đối
với
Thiên
Chúa
Mạc
Khải:
đó
là
Ðức
Tin,
nhưng
đức
tin
được
hiểu
dưới
phương
diện
nhân
bản,
như
một
cuộc
"đối
thoại
cứu
rỗi"
(Ecclesiam
Suam,
6-8-1964
số
72-79).
Công
Ðồng
cũng
nhận
định
những
khía
cạnh
của
hành
vi
đức
tin:
tự
do,
thuộc
lý
trí,
thuộc
ý
chí,
không
thể
có
nếu
không
có
ơn
Chúa...
Kiểu
nói
"Sự
vâng
phục
đức
tin"
không
được
trình
bày
như
một
đòi
buộc
luân
lý
suông
nhưng
như
là
một
đòi
hỏi
chính
yếu
của
mối
liên
hệ
mà
Thiên
Chúa
Mạc
Khải
nối
kết
với
con
người.
Trong
hành
vi
đức
tin
con
người
dấn
thân
toàn
diện
chứ
không
phải
chỉ
bằng
lý
trí.
Ở
đây
bàn
đến
"đức
tin
đã
thành
hình"
bao
gồm
cả
Ðức
Cậy
và
Ðức
Mến,
như
ta
có
thể
phỏng
đoán
theo
những
câu
trích
Thánh
Kinh;
nhưng
Ủy
Ban
cắt
nghĩa
thêm:
"đức
tin
chưa
thành
hình"
cũng
là
Ðức
Tin
và
cũng
cần
ơn
của
Chúa
Thánh
Thần.
Ðức
tin
luôn
luôn
lớn
mạnh
dưới
tác
động
của
cũng
chính
Chúa
Thánh
Thần.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Trong
số
này
Công
Ðồng
bàn
về
những
chân
lý
được
mạc
khải,
trước
hết
là
những
chân
lý
siêu
nhiên,
rồi
đến
những
chân
lý
tự
nhiên.
Công
Ðồng
nói
theo
Vaticanô
I.
Nhưng
thứ
tự
ở
Vaticanô
I
là:
a)
tri
thức
tự
nhiên
về
những
chân
lý
tự
nhiên,
b)
tri
thức
những
chân
lý
tự
nhiên
nhờ
mạc
khải,
c)
tri
thức
chân
lý
siêu
nhiên
nhờ
mạc
khải.
Ðang
khi
đó
thứ
tự
ở
đây
lại
là
c-a-b:
nghĩa
là
theo
một
viễn
tượng
Kinh
Thánh
và
qui
về
Thiên
Chúa
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
CÐ
Vat
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
công
giáo
Dei
Filius,
ch.
2:
Dz
1786
(3005).
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Ðoạn
này
nói
lên
đối
tượng
riêng
biệt
của
Mạc
Khải,
nghĩa
là
đối
tượng
mà
chúng
ta
cần
được
mạc
khải:
Chính
Thiên
Chúa
và
những
ý
định
cứu
rỗi
của
Ngài
(x.
Relatio,
trg
9,5).
Mạc
Khải
này
không
phải
chỉ
là
một
sự
thông
đạt
kiến
thức
nhưng
cũng
có
mục
đích
cứu
rỗi
con
người
nghĩa
là
thông
phần
vào
đời
sống
Thiên
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
n.v.t.:
Dz
1785-1786
(3004-3005).
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Phần
thứ
hai
của
số
6
lặp
lại
giáo
thuyết
của
Công
Ðồng
Vaticanô
I
về
sự
nhận
biết
Thiên
Chúa
bằng
lý
trí,
nhưng
Công
Ðồng
dùng
những
từ
ngữ
rất
mạnh
để
chống
lại
thuyết
vô
thần.
Nhưng
chữ
"tuyên
xưng"
và
"dạy"
ở
phần
này
nói
lên
một
tín
điều.
Con
người
thật
sự
có
thể
nhận
biết
Thiên
Chúa
nhưng
họ
không
thể
không
sai
lầm
nếu
Thiên
Chúa
không
giúp.
Lịch
sử
minh
chứng
là
con
người
luôn
luôn
tìm
kiếm
Thiên
Chúa
nhưng
không
bao
giờ
thoát
khỏi
lầm
lẫn;
và
trong
thực
tế,
ảnh
hưởng
của
tội
lỗi
hình
như
đã
làm
cho
thế
giới
thường
trở
thành
một
chướng
ngại
vật.
Tuy
nhiên,
trong
"nhiệm
cuộc"
cứu
rỗi
chúng
ta
đang
sống,
một
tri
thức
hoàn
toàn
tự
nhiên
chỉ
là
một
tư
tưởng
trừu
tượng,
vì
ơn
Chúa
hiện
diện
khắp
mọi
nơi.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II