VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
10-
TUYÊN
NGÔN
VỀ
LIÊN
LẠC
CỦA
GIÁO
HỘI
VỚI
CÁC
TÔN
GIÁO
NGOÀI
KITÔ
GIÁO
(NOSTRA
AETATE)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
văn
Tuyên
Ngôn
Khóa
VII
Ngày
28
tháng
10
Năm
1965
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
1.
Lời
mở
đầu
Trong
thời
đại
chúng
ta,
nhân
loại
ngày
càng
liên
kết
chặt
chẽ
với
nhau
hơn,
các
mối
liên
lạc
giữa
các
dân
tộc
cũng
gia
tăng,
nên
Giáo
Hội
đặc
biệt
chú
tâm
đến
việc
liên
lạc
với
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Trong
nhiệm
vụ
cổ
võ
sự
hiệp
nhất
và
yêu
thương
giữa
con
người
và
nhất
là
giữa
các
dân
tộc,
trước
tiên
ở
đây
Giáo
Hội
đề
cập
đến
những
điểm
chung
cho
hết
mọi
người,
và
dẫn
đến
cuộc
sống
cộng
đoàn.
Thật
vậy,
mọi
dân
tộc
đều
thuộc
về
một
cộng
đoàn,
cùng
chung
một
nguồn
gốc,
vì
Thiên
Chúa
đã
cho
toàn
thể
nhân
loại
sinh
sống
trên
khắp
mặt
địa
cầu
1.
Họ
lại
có
cùng
một
mục
đích
tối
hậu
là
Thiên
Chúa,
Ðấng
vẫn
hằng
trải
rộng
sự
quan
phòng,
chứng
tích
lòng
nhân
hậu
và
ý
định
cứu
độ
cho
hết
mọi
người
2,
cho
đến
khi
những
người
được
chọn
hiệp
nhất
với
nhau
trong
Thành
Thánh,
rạng
ngời
ánh
vinh
quang
Thiên
Chúa,
nơi
muôn
dân
bước
đi
trong
ánh
sáng
Ngài
3.
Con
người
mong
đợi
các
tôn
giáo
giải
đáp
về
những
bí
nhiệm
tiềm
ẩn
trong
thân
phận
con
người,
những
bí
nhiệm
xưa
nay
vẫn
làm
tâm
hồn
họ
phải
xao
xuyến
sâu
xa:
con
người
là
gì?
Ðời
người
có
mục
đích
và
ý
nghĩa
nào?
Sự
thiện
và
tội
ác
là
chi?
Ðâu
là
nguyên
nhân
và
mục
đích
của
đau
khổ?
Ðâu
là
con
đường
dẫn
tới
hạnh
phúc
thật
sự?
Cái
chết,
sự
phán
xét,
và
thưởng
phạt
sau
khi
chết
là
gì?
Sau
cùng,
cái
huyền
nhiệm
tối
hậu
khôn
tả
vẫn
bao
trùm
cuộc
sống
chúng
ta
là
chi,
chúng
ta
phát
xuất
từ
đâu
và
chúng
ta
hướng
về
đâu?
2.
Các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo.
Từ
xưa
đến
nay,
người
ta
nhận
thấy
nơi
nhiều
dân
tộc
khác
nhau
một
cảm
thức
về
quyền
lực
tàng
ẩn
trong
vòng
chuyển
biến
của
sự
vật
và
trong
những
biến
cố
của
đời
người,
đôi
khi
còn
thấy
cả
sự
nhìn
nhận
một
vị
Thần
Linh
Tối
Cao
hay
một
Người
Cha.
Cảm
thức
và
sự
nhìn
nhận
đó
làm
cho
cuộc
sống
họ
thấm
nhuần
ý
nghĩa
tôn
giáo.
Phần
các
tôn
giáo
có
liên
quan
mật
thiết
với
tiến
bộ
văn
hóa
thì
cố
gắng
giải
đáp
những
vấn
đề
trên
bằng
những
ý
niệm
cao
sâu
và
bằng
thứ
ngôn
ngữ
ngày
càng
tinh
tế.
Như
trong
Ấn
giáo,
con
người
tìm
hiểu
mầu
nhiệm
thần
thiêng,
và
diễn
tả
mầu
nhiệm
đó
bằng
những
thần
thoại
phong
phú
bất
tận
cũng
như
bằng
những
nỗ
lực
suy
tư
triết
lý
sâu
sắc.
Họ
tìm
cách
giải
thoát
khỏi
những
nỗi
lo
âu
của
kiếp
người
hoặc
bằng
những
lối
sống
khắc
khổ,
hoặc
bằng
tịnh
niệm
thâm
sâu,
hoặc
bằng
việc
chạy
đến
nương
ẩn
nơi
Thượng
Ðế
với
lòng
mến
yêu
tin
cậy.
Phật
giáo,
theo
nhiều
tông
phái
khác
nhau,
lại
nhìn
nhận
sự
thiếu
sót
căn
bản
của
cuộc
đời
thay
đổi
này
và
vạch
ra
con
đường
cho
những
người
thành
tâm
tin
cậy,
hoặc
đạt
đến
chỗ
giải
thoát
trọn
vẹn
hay
giác
ngộ
hoàn
toàn,
bằng
những
cố
gắng
của
riêng
mình
hoặc
bằng
trợ
lực
của
ơn
trên.
Cũng
thế,
các
tôn
giáo
khác
trên
hoàn
cầu
đều
cố
công
làm
cho
tâm
hồn
con
người
thoát
khỏi
những
băn
khoăn
bằng
nhiều
phương
thế
khác
nhau,
bằng
cách
vạch
đường
chỉ
lối,
tức
đề
xướng
những
giáo
thuyết
và
luật
sống
cũng
như
những
lễ
nghi
phụng
tự.
Giáo
Hội
Công
Giáo
không
hề
phủ
nhận
những
gì
là
chân
thật
và
thánh
thiện
nơi
các
tôn
giáo
đó.
Với
lòng
kính
trọng
chân
thành,
Giáo
Hội
xét
thấy
những
phương
thức
hành
động
và
lối
sống,
những
huấn
giới
và
giáo
thuyết
kia,
tuy
rằng
có
nhiều
điểm
khác
nhau
với
chủ
trương
mà
Giáo
Hội
duy
trì,
nhưng
cũng
thường
đem
lại
ánh
sáng
của
Chân
Lý,
Chân
Lý
chiếu
soi
cho
hết
mọi
người.
Tuy
nhiên
Giáo
Hội
rao
giảng
và
có
bổn
phận
phải
kiên
trì
rao
giảng
Chúa
Kitô,
Ðấng
là
"đường,
sự
thật
và
sự
sống"
(Gio
14,6),
nơi
Người,
con
người
tìm
thấy
đời
sống
tôn
giáo
sung
mãn
và
nhờ
Người,
Thiên
Chúa
giao
hòa
mọi
sự
với
mình
4.
Vì
thế,
Giáo
Hội
khuyến
khích
con
cái
mình
nhìn
nhận,
duy
trì
và
cổ
động
cho
những
thiện
ích
thiêng
liêng
cũng
như
luân
lý
và
những
giá
trị
xã
hội
văn
hóa
của
các
tín
đồ
thuộc
các
tôn
giáo
khác,
bằng
con
đường
đối
thoại
và
hợp
tác
cách
thận
trọng
và
bác
ái
với
tín
đồ
các
tôn
giáo
ấy
mà
vẫn
là
chứng
tá
của
đức
tin
và
đời
sống
Kitô
giáo.
3.
Hồi
giáo.
Giáo
Hội
cũng
tôn
trọng
các
tín
đồ
Hồi
Giáo,
vì
họ
cùng
thờ
phượng
một
Thiên
Chúa
duy
nhất,
hằng
sống
và
hằng
hữu,
từ
bi
và
toàn
năng,
Ðấng
Tạo
Thành
trời
đất
5,
đã
từng
đối
thoại
với
con
người.
Họ
chuyên
tâm
tuân
phục
cả
những
phán
quyết
bí
nhiệm
của
Thiên
Chúa
với
tất
cả
tâm
hồn,
như
Abraham
đã
tuân
phục,
người
mà
đức
tin
Hồi
Giáo
sẵn
lòng
noi
theo.
Họ
không
nhìn
nhận
Chúa
Giêsu
là
Thiên
Chúa
nhưng
lại
tôn
kính
như
vị
Ngôn
Sứ
và
kính
trọng
Mẹ
đồng
trinh
của
Người
là
Ðức
Maria
và
đôi
khi
cũng
sốt
sắng
cầu
khẩn
Mẹ.
Hơn
nữa,
họ
cũng
trông
đợi
ngày
phán
xét,
ngày
Thiên
Chúa
thưởng
phạt
mọi
người
khi
sống
lại.
Chính
vì
thế,
họ
tôn
trọng
đời
sống
luân
lý
và
tôn
thờ
Thiên
Chúa
nhất
là
bằng
cầu
nguyện,
bố
thí
và
ăn
chay.
Mặc
dầu
trong
quá
khứ,
giữa
Kitô
hữu
và
Tín
Ðồ
Hồi
Giáo
có
những
mối
bất
hòa
và
hiềm
thù
nhau
không
ít,
Thánh
Công
Ðồng
kêu
gọi
mọi
người
nên
quên
đi
những
chuyện
đã
qua
để
cố
gắng
thành
thật
tìm
hiểu
nhau,
cùng
nhau
bảo
vệ
và
cổ
võ
công
bình
xã
hội,
thuần
phong
mỹ
tục
cũng
như
hòa
bình
tự
do
cho
hết
mọi
người.
4.
Do
Thái
giáo.
Tìm
hiểu
mầu
nhiệm
Giáo
Hội,
Thánh
Công
Ðồng
nhắc
lại
mối
dây
liên
kết
linh
thiêng
giữa
dân
của
Tân
Ước
và
giòng
tộc
Abraham.
Thật
vậy,
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
nhận
thực
rằng,
khởi
điểm
của
đức
tin
Giáo
Hội
và
việc
Chúa
tuyển
chọn
Giáo
Hội
đã
được
tìm
thấy
nơi
các
Tổ
Phụ,
Môisen
và
các
Ngôn
Sứ
theo
như
mầu
nhiệm
cứu
độ
của
Thiên
Chúa.
Giáo
Hội
tuyên
xưng
rằng
mọi
Kitô
hữu
đều
là
con
cái
Abraham
theo
đức
tin
6,
hàm
chứa
trong
ơn
gọi
của
vị
Tổ
Phụ
này;
cũng
như
sự
cứu
độ
của
Giáo
Hội
đã
được
ám
chỉ
cách
huyền
nhiệm
trong
cuộc
xuất
hành
của
dân
ưu
tuyển
ra
khỏi
đất
nô
lệ.
Vì
thế,
Giáo
Hội
không
thể
quên
được
rằng,
nhờ
dân
đó,
dân
đã
được
Chúa
đoái
thương
ký
giao
ước
xưa
do
lòng
xót
thương
khôn
tả
của
Ngài,
nên
Giáo
Hội
mới
nhận
được
mạc
khải
Cựu
Ước
và
được
nuôi
dưỡng
bằng
rễ
cây
Ôliu
tốt
tươi,
mà
những
cành
ôliu
dại
là
các
Chư
Dân
đã
được
tháp
nhập
vào
7.
Vì
Giáo
Hội
tin
rằng
Chúa
Kitô,
Hòa
Bình
của
chúng
ta,
đã
giao
hòa
dân
Do
Thái
và
Chư
Dân
bằng
thập
giá
và
làm
cho
cả
hai
nên
một
nơi
Người
8.
Giáo
Hội
cũng
luôn
nhìn
thấy
trước
mắt
lời
của
Thánh
Phaolô
Tông
Ðồ
viết
về
anh
em
đồng
chủng
của
Ngài
"là
những
người
được
thừa
nhận
làm
nghĩa
tử,
được
vinh
quang,
có
giao
ước,
luật
pháp,
lễ
nghi,
lời
hứa,
có
các
tổ
phụ,
và
Chúa
Kitô,
theo
xác
thịt
cũng
từ
họ
mà
ra"
(Rm
9,4-5),
là
con
của
Trinh
Nữ
Maria.
Giáo
Hội
cũng
nhớ
rằng
các
Tông
Ðồ,
nền
móng
và
cột
trụ
Giáo
Hội,
cũng
như
rất
nhiều
môn
đệ
đầu
tiên
của
các
ngài,
những
người
loan
báo
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
cho
trần
gian,
đã
sinh
ra
từ
dân
tộc
Do
Thái.
Thánh
Kinh
làm
chứng
Giêrusalem
không
nhận
biết
thời
gian
Chúa
thăm
viếng
9
mình
và
phần
lớn
dân
Do
Thái
không
tiếp
nhận
Phúc
Âm;
trái
lại
nhiều
người
còn
chống
đối
việc
bành
trướng
Phúc
Âm
10.
Tuy
thế,
theo
lời
Thánh
Tông
Ðồ,
Thiên
Chúa
vẫn
rất
quý
yêu
người
Do
Thái
vì
Tổ
Phụ
họ
và
Ngài
không
ân
hận
vì
đã
ban
hồng
ân
và
kêu
gọi
họ
11.
Cùng
với
các
Ngôn
Sứ
và
Vị
Tông
Ðồ,
Giáo
Hội
chờ
đợi
ngày
chỉ
mình
Chúa
biết,
ngày
mà
mọi
dân
tộc
đồng
thanh
kêu
cầu
Thiên
Chúa
và
"sát
cánh
phượng
thờ
Ngài"
(Soph
3,9)
12.
Do
đó,
vì
người
Do
Thái
và
Kitô
hữu
cùng
có
chung
một
di
sản
tinh
thần
thật
vĩ
đại,
nên
Thánh
Công
Ðồng
muốn
cổ
võ,
khuyến
khích
sự
hiểu
biết
và
kính
trọng
nhau,
nhất
là
bằng
việc
học
hỏi
Thánh
Kinh,
thần
học
và
đối
thoại
trong
tinh
thần
anh
em.
Mặc
dầu
chính
quyền
Do
Thái
và
thuộc
hạ
đã
đưa
đến
cái
chết
của
Chúa
Kitô
13,
nhưng
không
thể
quy
trách
một
cách
hàm
hồ
những
tội
ác
đã
phạm
trong
khi
Người
bị
khổ
nạn
cho
hết
mọi
người
Do
Thái
thời
đó,
cũng
như
cho
người
Do
Thái
thời
nay.
Dù
Giáo
Hội
là
dân
mới
của
Chúa,
nhưng
việc
Chúa
phế
thải
và
nguyền
rủa
người
Do
Thái
không
thể
coi
như
là
kết
luận
của
Thánh
Kinh.
Vì
thế,
mọi
người
phải
lo
làm
sao
để
khi
dạy
giáo
lý
và
khi
rao
giảng
Lời
Chúa,
đừng
dạy
điều
gì
không
thích
hợp
với
chân
lý
Phúc
Âm
và
tinh
thần
Chúa
Kitô.
Ðàng
khác,
Giáo
Hội
vì
luôn
phi
bác
mọi
cuộc
đàn
áp
đối
với
bất
cứ
người
nào,
đồng
thời
nhớ
mình
có
di
sản
chung
với
người
Do
Thái,
cũng
như
được
thúc
đẩy
bởi
đức
ái
đạo
hạnh
của
Phúc
Âm
chứ
không
phải
vì
lý
do
chính
trị,
nên
Giáo
Hội
rất
lấy
làm
đau
lòng
vì
sự
ghen
ghét,
đàn
áp,
những
hành
động
của
chủ
nghĩa
bài
Do
Thái
trong
bất
cứ
thời
nào
và
do
bất
cứ
ai
đối
với
người
Do
Thái.
Vả
lại,
Chúa
Kitô
như
Giáo
Hội
đã
và
đang
luôn
luôn
chủ
trương,
vì
tội
lỗi
mọi
người
và
do
tình
thương
vô
biên,
đã
tình
nguyện
đón
nhận
khổ
nạn
và
cái
chết
để
mọi
người
được
ơn
cứu
độ.
Vì
thế
bổn
phận
rao
giảng
của
Giáo
Hội
là
loan
báo
thập
giá
Chúa
Kitô
như
dấu
hiệu
tình
yêu
Chúa
đối
với
hết
mọi
người
và
như
nguồn
mạch
mọi
ân
sủng.
5.
Tình
huynh
đệ
đại
đồng.
Thực
ra,
chúng
ta
không
thể
kêu
cầu
Thiên
Chúa
là
Cha
mọi
người
nếu
chúng
ta
không
muốn
xử
sự
như
anh
em
đối
với
một
số
người
cũng
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
Chúa.
Liên
lạc
giữa
con
người
với
Thiên
Chúa
là
Cha
và
giữa
con
người
với
anh
em
mình
có
liên
quan
mật
thiết
với
nhau
như
lời
Thánh
Kinh:
"Ai
không
yêu
thì
không
nhận
biết
Chúa"
(1Gio
4,8).
Do
đó,
mọi
lý
thuyết
hay
hành
động
đưa
đến
kỳ
thị
liên
quan
đến
phẩm
giá
con
người
và
những
quyền
lợi
bắt
nguồn
từ
phẩm
giá
đó,
kỳ
thị
giữa
con
người
với
nhau,
giữa
dân
này
với
dân
khác,
sẽ
không
còn
nền
tảng.
Vì
thế,
Giáo
Hội
bác
bỏ
mọi
sự
kỳ
thị
hoặc
đàn
áp
chủng
tộc
hay
màu
da,
giai
cấp
hay
tôn
giáo,
vì
thái
độ
ấy
đối
nghịch
với
tinh
thần
Chúa
Kitô.
Do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
theo
chân
Thánh
Tông
Ðồ
Phêrô
và
Phaolô,
khẩn
thiết
kêu
mời
các
Kitô
hữu:
"hãy
sống
ngay
lành
giữa
người
lương
dân"
(1P
2,12),
nếu
có
thể
được,
tùy
khả
năng
mà
sống
hòa
thuận
với
hết
mọi
người
14
như
những
người
con
đích
thực
của
một
Cha
trên
trời
15.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Tuyên
Ngôn
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
28
tháng
10
năm
1965.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
1
Xem
CvSđ
17,26.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Kn
8,1;
CvSđ
14,17;
Rm
2,6-7;
1Tm
2,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
kh
21,23-24.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
2Cor
5,18-19.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T
Gregoriô
VII,
Epist
III,
21
ad
Anasir
(Al-Nasir),
regem
Mauritaniae.
x.b.
E.
Caspar
in
MGH.
Ep.
sel.
II,
1920,
I,
trg
288,
11-15:
PL
148,
451
A.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Gal
3,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Rm
11,17-24.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Eph
2,14-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Lc
19,44.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Rm
11,28.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Rm
11,28-29.
-
Hiến
chế
tin
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium:
AAS
57
(1965),
trg
20.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Is
66,23.
-
Tv
65,4.
-
Rm
11,11-32.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Gio
19,6.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Rm
12,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Mt
5,45.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II