VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
9-
SẮC
LỆNH
VỀ
GIÁO
DỤC
KITÔ
GIÁO
(GRAVISSIMUM
EDUCATIONIS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
văn
Tuyên
Ngôn
Khóa
VII
Ngày
28
tháng
10
Năm
1965
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Tuyên
Ngôn
về
Giáo
Dục
Kitô
Giáo
Lời
mở
đầu.
Vai
trò
vô
cùng
quan
trọng
của
việc
giáo
dục
trong
đời
sống
con
người
và
ảnh
hưởng
của
nó
luôn
gia
tăng
trên
đà
tiến
triển
của
xã
hội
hiện
nay
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
đặc
biệt
lưu
ý
1.
Quả
thực,
hoàn
cảnh
của
thời
đại
chúng
ta
làm
cho
việc
giáo
dục
thanh
thiếu
niên,
ngay
cả
việc
tiếp
tục
huấn
luyện
1*
giới
trưởng
thành,
trở
nên
ngày
một
dễ
dàng
và
khẩn
cấp
hơn.
2*
Vì
ý
thức
đầy
đủ
hơn
về
phẩm
giá
và
bổn
phận
của
mình,
nên
con
người
ao
ước
được
tham
dự
tích
cực
hơn
vào
đời
sống
xã
hội,
nhất
là
đời
sống
kinh
tế
và
chính
trị
2.
Những
tiến
bộ
kỳ
diệu
trong
lãnh
vực
kỹ
thuật
và
nghiên
cứu
khoa
học,
những
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
tân
tiến
hiến
cho
con
người
hoàn
cảnh
thuận
tiện,
nhờ
đó
con
người
còn
nhiều
thời
giờ
nhàn
rỗi,
không
vướng
mắc
công
việc,
dễ
dàng
tham
dự
vào
gia
sản
văn
hóa
và
tinh
thần,
và
bổ
túc
lẫn
nhau
nhờ
những
liên
lạc
mật
thiết
hơn
giữa
các
đoàn
thể
cũng
như
giữa
chính
các
dân
tộc.
Bởi
đó
khắp
nơi
đều
cố
gắng
đẩy
mạnh
công
cuộc
giáo
dục
mỗi
ngày
một
hơn.
Người
ta
thừa
nhận
những
quyền
lợi
căn
bản
liên
hệ
đến
việc
giáo
dục
của
con
người,
3*
nhất
là
của
trẻ
em
và
cha
mẹ.
Các
quyền
lợi
ấy
được
xác
định
trong
nhiều
văn
kiện
chính
thức
3.
Trước
con
số
học
sinh
gia
tăng
mau
chóng,
4*
người
ta
gia
tăng
trường
ốc
và
cải
tiến
học
đường,
thiết
lập
thêm
những
cơ
sở
giáo
dục
khác.
Các
phương
tiện
giáo
dục
và
giảng
huấn
được
canh
tân
dựa
vào
những
kinh
nghiệm
mới.
5*
mặc
dù
đã
có
nhiều
nỗ
lực
lớn
lao
để
đem
lại
những
lợi
ích
trên
cho
mọi
người,
nhưng
vẫn
còn
rất
nhiều
trẻ
em
và
thanh
thiếu
niên
chưa
được
hưởng
sự
huấn
luyện
căn
bản
và
biết
bao
người
khác
vẫn
còn
thiếu
một
nền
giáo
dục
thích
hợp
để
phát
huy
chân
lý
và
bác
ái.
Vì
vậy,
để
chu
toàn
sứ
mệnh
mà
Chúa
là
Ðấng
sáng
lập
đã
trao
ban,
là
loan
truyền
mầu
nhiệm
ơn
cứu
độ
cho
mọi
người
và
thiết
lập
mọi
sự
trong
Chúa
Kitô,
Mẹ
Thánh
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
săn
sóc
toàn
diện
đời
sống
con
người
6*,
kể
cả
đời
sống
trần
tục,
trong
mức
độ
liên
hệ
với
lời
mời
gọi
của
Thiên
Chúa
4.
Vì
thế
Giáo
Hội
thông
phần
vào
việc
mở
mang
và
phát
huy
nền
giáo
dục.
7*
Do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
một
số
nguyên
tắc
căn
bản
về
giáo
dục
Kitô
giáo,
nhất
là
giáo
dục
học
đường.
Một
Ủy
Ban
đặc
biệt
sau
Công
Ðồng
phải
giải
thích
cặn
kẽ
và
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
phải
thích
nghi
các
nguyên
tắc
đó
tùy
theo
hoàn
cảnh
khác
biệt
tại
mỗi
địa
phương.
1.
Quyền
hưởng
một
nền
giáo
dục
xứng
hợp.
Tất
cả
mọi
người,
không
phân
biệt
chủng
tộc,
giai
cấp
và
tuổi
tác,
do
phẩm
giá
con
người,
đều
có
một
quyền
bất
khả
nhượng
là
phải
được
hưởng
một
nền
giáo
dục
5
đáp
ứng
với
sứ
mệnh
riêng
6,
8*
phù
hợp
với
cá
tính
9*
của
từng
phái
10*,
thích
nghi
với
văn
hóa
và
truyền
thống
dân
tộc
11*,
đồng
thời
mở
rộng
sự
hợp
tác
huynh
đệ
với
các
dân
tộc
khác,
để
hỗ
trợ
công
cuộc
hợp
nhất
chân
chính
và
hòa
bình
trên
mặt
đất
12*.
Vậy
nền
giáo
dục
chân
chính
là
việc
đào
tạo
con
người,
nhằm
đạt
tới
cùng
đích
của
mình
cũng
như
lợi
ích
của
các
đoàn
thể
mà
họ
là
đoàn
viên,
và
họ
sẽ
tham
gia
phục
vụ
khi
đến
tuổi
trưởng
thành
13*.
Bởi
thế,
phải
để
ý
đến
những
tiến
triển
14*
của
khoa
tâm
lý,
sư
phạm
và
giáo
khoa,
hầu
giúp
trẻ
em
và
thanh
thiếu
niên
phát
triển
điều
hòa
những
năng
khiếu
thể
xác,
luân
lý
và
tinh
thần,
ý
thức
dần
dần
trách
nhiệm
cách
rõ
rệt
hơn,
nhờ
luôn
cố
gắng
trau
dồi
đúng
mức
đời
sống
cá
nhân
và
theo
đuổi
sự
tự
do
chân
chính,
15*
với
lòng
can
đảm
và
kiên
nhẫn
lướt
thắng
mọi
trở
ngại.
Phải
tích
cực
và
thận
trọng
giáo
dục
chúng
về
phái
tính
16*
tùy
tứng
lứa
tuổi.
Ngoài
ra,
phải
huấn
luyện
cho
chúng
biết
tham
dự
đời
sống
xã
hội,
để
sau
khi
được
chỉ
dẫn
đầy
đủ
về
những
phương
tiện
cần
thiết
và
thích
hợp,
chúng
có
thể
tích
cực
dấn
thân
17*
vào
những
đoàn
thể
khác
nhau
của
cộng
đoàn
nhân
loại
sẵn
sàng
đối
thoại
với
người
khác
cũng
như
hăng
say
hoạt
động
để
góp
phần
thực
hiện
lợi
ích
chung.
Cũng
vậy,
Thánh
Công
Ðồng
còn
tuyên
bố
rằng
trẻ
em
và
thanh
thiếu
niên
có
quyền
được
hướng
dẫn
trong
việc
phê
phán
những
giá
trị
luân
lý
theo
lương
tâm
thẳng
thắn,
tự
ý
18*
chấp
nhận
và
tuân
giữ
những
giá
trị
ấy
và
nhận
biết
yêu
mến
Thiên
Chúa
cách
hoàn
hảo
hơn.
Vì
thế
Công
Ðồng
tha
thiết
mời
gọi
những
nhà
lãnh
đạo
các
dân
tộc
hãy
hướng
dẫn
công
việc
giáo
dục,
hãy
lo
lắng
sao
cho
giới
trẻ
không
bao
giờ
bị
tước
mất
quyền
lợi
thiêng
liêng
ấy
19*.
Công
Ðồng
còn
khuyên
nhủ
các
con
cái
Giáo
Hội
hãy
quảng
đại
hoạt
động
trong
mọi
lãnh
vực
giáo
dục,
nhất
là
để
có
thể
sớm
đem
lại
những
lợi
ích
của
một
nền
giáo
dục
và
giáo
huấn
xứng
hợp
cho
mọi
người
ở
khắp
nơi
trên
toàn
thế
giới
7.
2.
Nền
giáo
dục
Kitô
giáo.
Mọi
Kitô
hữu
20*,
nhờ
việc
tái
sinh
bởi
nước
và
Thánh
Thần,
đã
trở
nên
những
tạo
vật
mới
8,
được
gọi
là
con
Thiên
Chúa
và
quả
thực
như
thế,
nên
có
quyền
hưởng
một
nền
giáo
dục
Kitô
giáo.
Nền
giáo
dục
này
không
chỉ
nhằm
giúp
con
người
được
trưởng
thành
như
vừa
trình
bày,
nhưng
cốt
yếu
là
nhằm
giúp
những
người
đã
rửa
tội
ngày
càng
ý
thức
hơn
về
hồng
ân
Ðức
Tin
đã
nhận
lãnh
trong
khi
họ
được
hứơng
dẫn
để
dần
dần
hiểu
biết
mầu
nhiệm
cứu
rỗi.
Nền
giáo
dục
ấy
còn
giúp
họ
biết
cách
thờ
phượng
Thiên
Chúa
Cha
trong
tinh
thần
và
chân
lý
(x.
Gio
4,23),
nhất
là
qua
việc
cử
hành
phụng
vụ
21*,
cũng
như
huấn
luyện
họ
biết
sống
theo
con
người
mới
trong
công
bình
và
thánh
thiện
của
chân
lý
(Eph
4,22-24).
Nhờ
vậy
họ
đạt
tới
con
người
hoàn
thiện,
tới
tuổi
sung
mãn
của
Chúa
Kitô
(x.
Eph
4,13)
và
góp
phần
vào
việc
tăng
trưởng
của
Nhiệm
Thể
22*.
Hơn
nữa,
vì
ý
thức
được
ơn
kêu
gọi
của
mình,
chính
họ
phải
tập
thói
quen
minh
chứng
niềm
cậy
trông
của
mình
(x.
1P
3,15)
cũng
như
phải
giúp
cải
tạo
thế
giới
theo
tinh
thần
Kitô
giáo.
Nhờ
đó
những
giá
trị
tự
nhiên
sẽ
góp
phần
vào
lợi
ích
của
toàn
thể
xã
hội
23*,
khi
được
hòa
hợp
vào
viễn
ảnh
toàn
vẹn
của
con
người
được
Chúa
Kitô
cứu
chuộc
9.
Vì
vậy
Thánh
Công
Ðồng
nhắc
lại
cho
những
Chủ
Chăn
hướng
dẫn
các
linh
hồn
nhiệm
vụ
rất
quan
trọng
là
phải
thu
xếp
mọi
sự
để
các
tín
hữu
được
hưởng
nhờ
nền
giáo
dục
Kitô
giáo
nhất
là
giới
trẻ,
niềm
hy
vọng
của
Giáo
Hội
10.
3.
Những
người
lãnh
nhận
trách
nhiệm
giáo
dục.
Vì
là
người
truyền
sự
sống
cho
con
cái,
nên
cha
mẹ
24*
có
bổn
phận
hết
sức
quan
trọng
là
giáo
dục
chúng
và
vì
thế
họ
được
coi
là
những
nhà
giáo
dục
đầu
tiên
và
chính
yếu
của
chúng
11.
Vai
trò
giáo
dục
này
quan
trọng
đến
nỗi
nếu
thiếu
sót
thì
khó
lòng
bổ
khuyết
được.
Thực
vậy,
chính
cha
mẹ
có
nhiệm
vụ
tạo
cho
gia
đình
một
bầu
khí
thấm
nhuần
tình
yêu
cũng
như
lòng
tôn
kính
đối
với
Thiên
Chúa
và
tha
nhân,
để
hỗ
trợ
việc
giáo
dục
toàn
diện
cho
con
cái
trong
đời
sống
cá
nhân,
để
hỗ
trợ
việc
giáo
dục
toàn
diện
cho
con
cái
trong
đời
sống
cá
nhân
và
xã
hội.
Do
đó
gia
đình
là
trường
học
đầu
tiên
25*
dạy
các
đức
tính
xã
hội
cần
thiết
cho
mọi
đoàn
thể.
Nhưng
đặc
biệt
trong
gia
đình
Kitô
giáo,
26*
vì
đã
nhận
ân
sủng
cũng
như
bổn
phận
của
bí
tích
hôn
phối,
nên
cha
mẹ
phải
dạy
dỗ
con
cái
ngay
từ
nhỏ,
để
chúng
nhận
biết
và
thờ
kính
Thiên
Chúa
cùng
yêu
mến
tha
nhân
theo
đức
tin
chúng
đã
lãnh
nhận
khi
chịu
phép
rửa
tội.
Chính
tại
nơi
đây,
con
trẻ
có
kinh
nghiệm
đầu
tiên
về
xã
hội
lành
mạnh
của
nhân
loại
và
về
Giáo
Hội.
Sau
hết
nhờ
gia
đình,
chúng
được
hướng
dẫn
dần
dần
vào
cộng
đoàn
nhân
loại
cũng
như
vào
Dân
Thiên
Chúa.
Bởi
vậy
cha
mẹ
phải
ý
thức
sâu
xa
tầm
quan
trọng
của
gia
đình
Kitô
giáo
đích
thực
trong
đời
sống
và
đà
thăng
tiến
của
chính
dân
Thiên
Chúa
12.
Nhiệm
vụ
giáo
dục
trước
hết
thuộc
về
gia
đình,
nhưng
cũng
cần
đến
sự
trợ
giúp
của
toàn
thể
xã
hội.
27*
Thực
vậy,
ngoài
những
quyền
lợi
của
cha
mẹ
và
của
những
người
được
cha
mẹ
ủy
thác
cho
một
phần
công
việc
giáo
dục,
chắc
chắn
xã
hội
dân
sự
cũng
còn
có
những
quyền
lợi
và
bổn
phận
vì
xã
hội
dân
sự
có
nhiệm
vụ
tổ
chức
những
gì
đem
lại
lợi
ích
chung
trong
phạm
vi
thế
tục.
Một
trong
những
gì
đem
lại
lợi
ích
chung
trong
phạm
vi
thế
tục.
Một
trong
những
bổn
phận
của
xã
hội
dân
sự
là
đẩy
mạnh
công
cuộc
giáo
dục
giới
trẻ
bằng
nhiều
phương
cách,
như
bảo
vệ
quyền
lợi
cha
mẹ
và
những
người
góp
phần
vào
việc
giáo
dục
và
phải
giúp
đỡ
họ
trong
công
tác
đó.
Theo
nguyên
tắc
đồng
trách
nhiệm,
khi
cha
mẹ
và
các
đoàn
thể
khác
thiếu
sáng
kiến,
xã
hội
dân
sự
phải
kiện
toàn
công
việc
giáo
dục,
nhưng
cũng
phải
để
ý
đến
nguyện
vọng
của
cha
mẹ.
Ngoài
ra
còn
phải
thiết
lập
các
trường
ốc
và
cơ
sở
giáo
dục
riêng
theo
lợi
ích
chung
đòi
hỏi
13.
Sau
cùng
với
danh
nghĩa
đặc
biệt,
Giáo
Hội
có
trách
nhiệm
giáo
dục
28*
không
những
vì
Giáo
Hội
là
xã
hội
trần
gian,
phải
được
thừa
nhận
có
khả
năng
giáo
dục,
29*
nhưng
nhất
là
vì
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
loan
truyền
cho
mọi
người
biết
con
đường
cứu
rỗi,
cũng
như
thông
ban
sự
sống
Chúa
Kitô
cho
các
tín
hữu
và
luôn
lo
lắng
giúp
đỡ
họ
đạt
tới
sự
viên
mãn
của
đời
sống
ấy
14.
Bởi
vậy
như
một
Người
Mẹ,
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
bảo
đảm
cho
con
cái
một
nền
giáo
dục,
đem
tinh
thần
Chúa
Kitô
thấm
nhuần
đời
sống
chúng,
nhưng
đồng
thời
cũng
cổ
võ
mọi
dân
tộc
phát
triển
sự
hoàn
thiện
toàn
vẹn
của
con
người,
phục
vụ
lợi
ích
của
xã
hội
trần
thế
và
xây
dựng
một
thế
giới
nhân
đạo
hơn
15.
4.
Phương
thế
của
nền
giáo
dục
Kitô
giáo.
Ðể
chu
toàn
nhiệm
vụ
giáo
dục,
Giáo
Hội
quan
tâm
đến
tất
cả
các
phương
thế
thích
hợp,
đặc
biệt
là
những
phương
thế
riêng
của
mình.
Trước
hết
là
việc
giảng
dạy
giáo
lý
16
nhằm
soi
sáng
và
củng
cố
đức
tin,
nuôi
dưỡng
đời
sống
theo
tinh
thần
Chúa
Kitô,
đưa
đến
việc
ý
thức
và
tham
dự
linh
động
vào
mầu
nhiệm
phụng
vụ
17,
khuyến
khích
hoạt
động
tông
đồ.
Nhưng
Giáo
Hội
cũng
tôn
trọng
và
tìm
cách
đem
tinh
thần
mình
thấm
nhuần
và
nâng
cao
những
phương
thế
khác
30*
thuộc
di
sản
chung
của
nhân
loại
và
góp
phần
lớn
lao
vào
việc
trau
dồi
tinh
thần
và
đào
luyện
con
người,
như
các
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
18,
các
tổ
chức
có
mục
đích
tập
luyện
tinh
thần
và
thể
xác,
các
phong
trào
thanh
thiếu
niên
và
nhất
là
các
trường
học.
5.
Tầm
quan
trọng
của
học
đường.
Trong
tất
cả
các
phương
tiện
giáo
dục,
học
đường
31*
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
đặc
biệt
19,
vì
học
đường
theo
sứ
mạng
mình
luôn
lo
lắng
trau
dồi
các
khả
năng
tinh
thần,
dẫn
vào
gia
sản
văn
hóa
mà
các
thế
hệ
trước
đã
thu
lượm
được,
phát
huy
nhận
thức
về
các
giá
trị,
chuẩn
bị
đời
sống
nghề
nghiệp,
và
khuyến
khích
niềm
thông
cảm
lẫn
nhau
trong
khi
cổ
cõ
tình
thân
hữu
cộng
đoàn
giữa
những
học
sinh
khác
biệt
về
tâm
linh
và
giai
cấp.
Hơn
nữa
học
đường
còn
trở
nên
trung
tâm
hoạt
động
và
tiến
triển,
tại
đây
cần
đến
sự
tham
dự
của
gia
đình,
thầy
dạy,
mọi
đoàn
thể
có
mục
đích
phát
triển
đời
sống
văn
hóa,
đời
sống
công
dân
và
tôn
giáo,
cả
chính
quyền
cũng
như
toàn
thể
cộng
đoàn
nhân
loại.
Như
thế,
thực
cao
đẹp
nhưng
cũng
thực
nặng
nề
thiên
chức
của
tất
cả
những
ai
giúp
đỡ
cha
mẹ
chu
toàn
nhiệm
vụ
của
họ
và
thay
thế
cộng
đoàn
nhân
loại
nhận
lãnh
chức
vụ
giáo
dục
nơi
học
đường.
Thiên
chức
này
dòi
phải
có
những
tài
năng
đặc
biệt
về
trí
tuệ
và
tâm
hồn,
được
chuẩn
bị
hết
sức
kỹ
càng,
với
thái
độ
sẵn
sàng
canh
tân
và
thích
nghi
không
ngừng.
6.
Nhiệm
vụ
và
quyền
lợi
của
cha
mẹ.
Nhiệm
vụ
và
quyền
lợi
đầu
tiên
bất
khả
nhượng
của
cha
mẹ
là
giáo
dục
con
cái,
nên
họ
phải
được
thực
sự
tự
do
trong
việc
lựa
chọn
trường
học.
Do
đó,
vì
có
bổn
phận
bảo
vệ
và
bênh
vực
quyền
tự
do
của
công
dân,
chính
quyền
khi
chú
tâm
đến
công
bằng
phân
phối
32*
phải
lo
phân
chia
những
ngân
khoản
tài
trợ
chung
sao
cho
cha
mẹ
có
thể
được
thực
sự
tự
do
lựa
chọn
trường
học
cho
con
cái
theo
lương
tâm
mình
20.
Ngoài
ra
chính
quyền
còn
có
bổn
phận
lo
liệu
cho
mọi
công
dân
được
tham
dự
thực
sự
vào
nền
văn
hóa
và
được
huấn
luyện
thích
đáng
để
thi
hành
nhiệm
vụ
và
quyền
lợi
công
dân.
Bởi
thế
chính
quyền
phải
bảo
đảm
cho
thanh
thiếu
niên
được
hưởng
một
nền
giáo
dục
học
đường
đầy
đủ,
phải
quan
tâm
đến
khả
năng
của
nhà
giáo
và
trình
độ
học
vấn
của
học
sinh
cũng
như
phải
chăm
sóc
đến
cả
sức
khỏe
của
chúng.
Như
thế
chính
quyền
phải
phát
triển
toàn
diện
học
chế,
nhưng
đừng
quên
nguyên
tắc
đồng
trách
nhiệm.
Do
đó
phải
loại
trừ
mọi
chế
độ
độc
quyền
học
hiệu
33*,
vì
tất
cả
mọi
chế
độ
độc
quyền
thuộc
loại
này
đều
trái
với
quyền
tự
nhiên
của
con
người,
cản
trở
sự
tiến
bộ
và
việc
phổ
biến
văn
hóa,
làm
tan
loãng
bầu
khí
thuận
hòa
giữa
các
công
dân
và
nghịch
với
thuyết
đa
dạng
34*
mà
ngày
nay
đang
thịnh
hành
tại
nhiều
cộng
đoàn
21.
Do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
khuyến
khích
các
Kitô
hữu
hãy
tự
động
góp
phần
vào
việc
khám
phá
những
phương
pháp
giáo
dục
thích
hợp,
cách
tổ
chức
việc
học
hành
và
góp
phần
vào
việc
đào
tạo
các
giáo
chức
có
khả
năng
giáo
dục
thanh
thiếu
niên
một
cách
đúng
đắn
bằng
cách
hỗ
trợ
họ,
và
nhất
là
qua
các
hội
phụ
huynh
học
sinh,
phải
theo
dõi
và
nâng
đỡ
mọi
công
việc
của
nhà
trường,
đặc
biệt
việc
giáo
dục
luân
lý
được
giảng
dạy
nơi
đó
22.
7.
Giáo
dục
luân
lý
và
tôn
giáo
nơi
học
đường.
Hơn
nữa,
ý
thức
sâu
xa
nhiệm
vụ
vô
cùng
quan
trọng
là
phải
ân
cần
lo
lắng
giáo
dục
mọi
con
cái
mình
về
phương
diện
luân
lý
và
tôn
giáo.
Giáo
Hội,
bằng
tấm
lòng
ưu
ái
và
trợ
giúp
đặc
biệt
cần
phải
hiện
diện
cho
biết
bao
thanh
thiếu
niên
đang
được
đào
luyện
trong
các
trường
không
công
giáo.
35*
Sự
hiện
diện
ấy
được
cụ
thể
hóa
qua
chứng
từ
đời
sống
của
người
giảng
dạy
và
hướng
dẫn
chúng,
qua
việc
tông
đồ
của
các
bạn
học
23,
và
nhất
là
qua
lời
giảng
dạy
giáo
lý
cứu
rỗi
của
những
linh
mục
và
giáo
dân
có
trách
nhiệm
bằng
những
phương
pháp
thích
hợp
với
lứa
tuổi
và
hoàn
cảnh,
cùng
với
việc
giúp
đỡ
thiêng
liêng
bằng
mọi
sáng
kiến
thích
nghi
theo
điều
kiện
thời
gian
và
sự
việc.
Giáo
Hội
cũng
nhắc
nhở
cho
cha
mẹ
nhiệm
vụ
quan
trọng
cố
hữu
của
họ
là
phải
lo
liệu
mọi
sự
và
đòi
hỏi
sao
cho
con
cái
họ
có
thể
hưởng
nhờ
những
trợ
giúp
ấy
và
được
tấn
tới
trong
việc
giáo
dục
theo
tinh
thần
Kitô
giáo
và
ăn
nhịp
với
giáo
huấn
trần
thế.
Ngoài
ra
Giáo
Hội
còn
ca
ngợi
những
cơ
quan
cũng
như
các
đoàn
thể
dân
sự
nào
chủ
trương
thuyết
đa
dạng
trong
xã
hội
hiện
nay
và
chú
tâm
đến
quyền
tự
do
tôn
giáo,
giúp
đỡ
các
gia
đình
để
việc
giáo
dục
con
cái
nơi
học
đường
được
phù
hợp
với
các
nguyên
tắc
luân
lý
và
tôn
giáo
riêng
của
gia
đình
họ
24.
8.
Trường
Công
Giáo.
Giáo
Hội
hiện
diện
đặc
biệt
trong
lãnh
vực
học
đường
qua
trường
công
giáo.
36*
Thực
ra
trường
công
giáo
cũng
theo
đuổi
những
mục
tiêu
văn
hóa
và
giáo
dục
nhân
bản
cho
thanh
thiếu
niên
không
kém
gì
các
trường
khác.
Ðiều
riêng
biệt
của
trường
công
giáo
là
có
sứ
mệnh
tạo
cho
môi
trường
học
đường
một
bầu
khí
37*
sống
động,
thấm
nhuần
tự
do
và
bác
ái
theo
tinh
thần
Phúc
Âm,
giúp
thanh
thiếu
niên
phát
triển
nhân
cách
mình
đồng
thời
làm
phát
triển
con
người
mới
đã
được
thành
hình
khi
chịu
phép
rửa
tội.
Sau
cùng,
trường
công
giáo
còn
phải
hướng
nền
văn
hóa
chung
của
nhân
loại
vào
việc
loan
truyền
ơn
cứu
rỗi
để
cho
các
học
sinh
dần
dần
nhận
thức
về
thế
giới,
cuộc
đời
và
con
người
nhờ
ánh
sáng
đức
tin
soi
chiếu
25.
Như
thế
trong
khi
mở
cửa
tiếp
nhận
đúng
mức
những
điều
kiện
của
thời
đại
đương
tiến
bộ,
trường
công
giáo
huấn
luyện
học
sinh
biết
mưu
cầu
lợi
ích
cho
xã
hội
trần
gian
một
cách
hữu
hiệu,
và
chuẩn
bị
cho
chúng
biết
phục
vụ
để
mở
mang
Nước
Chúa.
Do
đó,
nhờ
sống
đời
gương
mẫu
và
tông
đồ,
chúng
trở
nên
như
men
cứu
rỗi
cho
cộng
đoàn
nhân
loại.
Thực
vậy,
trường
công
giáo
còn
giữ
một
vai
trò
rất
quan
trọng
trong
hoàn
cảnh
chúng
ta
đang
sống,
vì
có
khả
năng
góp
phần
lớn
lao
trong
việc
chu
toàn
sứ
mệnh
của
Dân
Thiên
Chúa
và
giúp
cuộc
đối
thoại
38*
giữa
Giáo
Hội
và
cộng
đoàn
nhân
loại
nhằm
đạt
tới
lợi
ích
cho
cả
đôi
bên.
Vì
thế
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
một
lần
nữa
rằng
Giáo
Hội
có
quyền
thiết
lập
và
điều
khiển
các
trường
thuộc
các
cấp
và
các
ngành,
như
Quyền
Giáo
Huấn
đã
xác
nhận
qua
nhiều
văn
kiện
26.
Công
Ðồng
cũng
nhắc
lại
rằng
việc
thi
hành
quyền
lợi
này
sẽ
đóng
góp
nhiều
cho
việc
bảo
đảm
tự
do
lương
tâm
và
những
quyền
lợi
của
cha
mẹ
cũng
như
sự
tiên
bộ
của
nền
văn
hóa
39*.
Tuy
nhiên
các
nhà
giáo
nên
nhớ
rằng
họ
là
những
nhân
vật
chính
giúp
cho
trường
công
giáo
thực
hiện
được
những
chương
trình
và
sáng
kiến
của
mình
27.
Vậy
họ
phải
được
chuẩn
bị
40*
hết
sức
chu
đáo
để
lãnh
hội
những
kiến
thức
đạo
đời,
được
chứng
thực
do
những
văn
bằng
tương
xứng,
cũng
như
phương
thức
giáo
dục
phù
hợp
với
những
phát
minh
của
thời
đại
tiến
bộ.
Các
nhà
giáo
dục,
nhờ
liên
kết
với
các
bạn
đồng
nghiệp
và
với
các
học
sinh
trong
tình
bác
ái
và
thấm
nhiễm
tinh
thần
tông
đồ,
sẽ
làm
chứng
cho
một
vị
Thầy
duy
nhất
là
Chúa
Kitô
bằng
đời
sống
cũng
như
bằng
lời
giảng
dạy.
Hãy
cộng
tác
với
nhau,
nhất
là
với
các
bậc
phụ
huynh,
và
trong
suốt
thời
gian
giáo
huấn,
hãy
cùng
với
họ
quan
tâm
đúng
mức
đến
sự
khác
biệt
phái
tính
41*
và
mục
đích
riêng
của
cả
hai
phái
trong
gia
đình
cũng
như
ngoài
xã
hội
do
Chúa
Quan
Phòng
đã
đặt
định.
Hãy
cố
gắng
khuyến
khích
học
sinh
làm
việc
riêng,
42*
và
khi
thời
gian
học
tập
chấm
dứt,
hãy
tiếp
tục
liên
lạc
với
chúng
bằng
những
ý
kiến
xây
dựng,
tình
thân
hữu
và
bằng
việc
thành
lập
các
hiệp
hội
theo
đúng
tinh
thần
của
Giáo
Hội.
Thánh
Công
Ðồng
cũng
tuyên
bố
rằng
chức
vụ
của
nhà
giáo
là
một
hoạt
động
tông
đồ
đích
thực,
rất
thích
hợp
và
cần
thiết
cho
thời
đại
chúng
ta,
đồng
thời
là
một
phục
vụ
chính
đáng
cho
xã
hội.
Công
Ðồng
còn
nhắc
nhở
cho
cha
mẹ
công
giáo
bổn
phận
ký
thác
con
em
vào
các
trường
công
giáo
nếu
hoàn
cảnh
thời
gian
và
nơi
chốn
cho
phép.
Phải
tùy
khả
năng
nâng
đỡ
và
hợp
tác
với
các
trường
ấy
để
mưu
cầu
lợi
ích
cho
con
em
mình
28.
9.
Các
loại
trường
Công
Giáo.
Tất
cả
các
trường
tùy
thuộc
Giáo
Hội
bằng
bất
cứ
cách
nào
phải
phù
hợp
với
hình
ảnh
của
trường
công
giáo
trên
theo
khả
năng
mình,
dù
có
thề
mang
những
hình
thức
khác
nhau
tùy
hoàn
cảnh
địa
phương
29.
Hội
Thánh
rất
khen
ngợi
những
trường
công
giáo
hâu
nhận
cả
những
học
sinh
không
công
giáo,
nhất
là
ở
những
miền
thuộc
các
Giáo
Hội
tân
lập.
Ngoài
ra,
khi
thiết
lập
và
điều
hành
các
trường
công
giáo,
cần
phải
để
ý
đến
những
nhu
cầu
của
thời
tân
tiến.
Vì
thế,
trong
khi
quan
tâm
đến
các
trường
tiểu
học
và
trung
học
là
nền
tảng
của
việc
giáo
dục,
người
ta
cũng
phải
chú
trọng
tới
những
trường
do
hoàn
cảnh
hiện
tại
đòi
hỏi,
chẳng
hạn
những
trường
chuyên
nghiệp
30
và
kỹ
thuật
43*,
những
viện
giáo
huấn
cho
lứa
tuổi
trưởng
thành,
cổ
võ
công
tác
cứu
trợ
xã
hội,
và
cả
những
nhà
dành
cho
những
người
vì
tàn
tật
cần
được
chăm
sóc
đặc
biệt,
những
trường
sư
phạm
đào
luyện
giáo
chức
vừa
về
việc
dạy
giáo
lý,
vừa
về
những
hình
thức
giáo
dục
khác.
Thánh
Công
Ðồng
ân
cần
nhắc
nhủ
các
Chủ
Chăn
của
Giáo
Hội
cũng
như
mọi
Kitô
hữu
đừng
quản
ngại
hy
sinh
giúp
đỡ
các
trường
công
giáo
chu
toàn
bổn
phận
ngày
càng
hoàn
hảo
hơn,
và
nhất
là
quan
tâm
đến
nhu
cầu
của
những
người
thiếu
thốn
phương
tiện
vật
chất,
thiếu
tình
thương,
thiếu
sự
nâng
đỡ
của
gia
đình
hoặc
còn
xa
lạ
với
đức
tin.
10.
Phân
khoa
và
đại
học
Công
Giáo.
Giáo
Hội
cũng
đặc
biệt
quan
tâm
đến
những
trường
Cao
Ðẳng,
nhất
là
những
viện
Ðại
Học
và
Phân
Khoa
44*.
Hơn
nữa,
đối
với
các
trường
hợp
thuộc
quyền,
Giáo
Hội
ước
mong
tổ
chức
sao
cho
mỗi
môn
được
nghiên
cứu
tường
tận
theo
những
nguyên
tắc
riêng,
phương
pháp
riêng
và
quyền
tự
do
riêng
của
việc
nghiên
cứu
khoa
học,
để
hiểu
các
môn
học
ấy
ngày
càng
sâu
xa
hơn,
Và
để
một
khi
đã
tìm
hiểu
thấu
đáo
những
vần
đề
mới
mẻ,
cũng
như
các
công
cuộc
tìm
tòi
của
thời
đại
đang
tiến
bộ,
đồng
thời
theo
đường
lối
của
các
vị
Tiến
Sĩ
Giáo
Hội,
nhất
là
thánh
Tôma
thành
Aquina,
người
ta
sẽ
nhận
thức
sâu
xa
hơn
đức
tin
và
lý
trí
cùng
quy
hướng
về
một
mục
đích
duy
nhất
31.
Như
thế,
tinh
thần
Kitô
giáo
sẽ
hiện
diện
một
cách
công
khai,
vững
mạnh
và
phổ
quát
trong
mọi
nỗ
lực
đưa
đến
một
nền
văn
hóa
sâu
xa
hơn,
và
các
học
viên
xuất
thân
từ
những
trường
ấy
sẽ
là
những
người
có
kiến
thức
vững
chắc
thực
sự,
sẵn
sàng
đảm
nhận
mọi
trọng
trách
trong
xã
hội
và
trở
nên
nhân
chứng
đức
tin
nơi
trần
thế
32.
Tại
các
Ðại
Học
Công
Giáo
không
có
Phân
Khoa
Thần
Học,
45*
nên
thành
lập
một
Viện
hay
một
giảng
đường
thần
học
46*
để
các
sinh
viên
giáo
dân
cũng
có
thể
lĩnh
hội
những
bài
giảng
huấn
thích
hợp.
Các
khoa
học
sở
dĩ
tiến
bộ
được
là
nhờ
ở
các
cuộc
khảo
cứu
chuyên
biệt
có
giá
trị
khoa
học
cao
độ,
nên
các
Ðại
Học
và
các
Phân
Khoa
Công
Giáo
phải
hết
sức
nâng
đỡ
các
tổ
chức
nào
có
mục
đích
chính
yếu
là
xúc
tiến
công
cuộc
khảo
cứu
khoa
học.
Thánh
Công
Ðồng
tha
thiết
khuyên
nhủ
các
Viện
Ðại
Học
và
các
Phân
Khoa
Công
Giáo
đã
được
phân
phối
thích
đáng
tại
các
phần
đất
khác
nhau
trên
hoàn
cầu,
phải
phát
triển
làm
sao
để
nổi
tiếng
không
phải
nhờ
số
lượng
mà
nhờ
ở
phẩm
chất
của
giáo
huấn.
Phải
dễ
dãi
trong
việc
thu
nhận
những
sinh
viên
có
nhiều
triển
vọng
dù
họ
thuộc
thành
phần
kém
may
mắn,
nhất
là
những
người
đến
từ
các
quốc
gia
mới
thành
lập.
Vì
tương
lai
của
xã
hội
và
của
chính
Giáo
Hội
liên
kết
mật
thiết
với
sự
tiến
bộ
của
các
thanh
niên
đang
hấp
thụ
nền
học
vấn
cao
đẳng
33,
nên
các
Vị
Chủ
Chăn
trong
Giáo
Hội
không
những
chỉ
săn
sóc
đến
đời
sống
thiêng
liêng,
mà
còn
phải
chăm
lo
việc
giáo
dục
tinh
thần
cho
hết
mọi
sinh
viên
con
cái
mình
học
tại
các
Ðại
Học
Công
Giáo.
Vì
thế,
sau
khi
tùy
hoàn
cảnh
tham
khảo
ý
kiến
các
Giám
Mục,
các
ngài
hãy
lo
liệu
thiết
lập
tại
các
Viện
Ðại
Học
không
Công
Giáo
những
cư
xá
và
trung
tâm
Ðại
Học
Công
Giáo.
Ở
đó,
những
linh
mục,
tu
sĩ
và
giáo
dân
được
tuyển
chọn
và
huấn
luyện
kỹ
càng,
sẽ
thường
xuyên
giúp
đỡ
thanh
niên
đại
học
về
phương
diện
tinh
thần
và
trí
tuệ.
Các
ngài
cũng
nên
đặc
biệt
quan
tâm
và
khuyến
khích
những
thanh
niên
ưu
tú
trong
các
Ðại
Học
Công
Giáo
cũng
như
các
Ðại
Học
khác
để
họ
bước
vào
nghề
giáo
nếu
thấy
họ
có
khả
năng
giảng
huấn
và
nghiên
cứu.
11.
Phân
khoa
dạy
các
môn
học
thánh.
Giáo
Hội
đặt
kỳ
vọng
vào
hoạt
động
của
các
phân
khoa
dạy
các
môn
học
thánh
34.
Vì
thế,
Giáo
Hội
ủy
thác
cho
các
phân
khoa
ấy
một
nhiệm
vụ
vô
cùng
quan
trọng
là
chuẩn
bị
sinh
viên
của
mình,
không
những
để
họ
tiến
tới
chức
linh
mục,
nhưng
nhất
là
để
họ
hoặc
giảng
dạy
tại
các
ghế
giáo
sư
cao
đẳng
của
Giáo
Hội,
hoặc
cải
tiến
các
môn
học
nhờ
việc
nghiên
cứu
cá
nhân
hay
để
họ
nhận
lãnh
những
phần
việc
khó
khăn
hơn
trong
nhiệm
vụ
tông
đồ
cho
giới
trí
thức.
Các
phân
khoa
ấy
cũng
có
nhiệm
vụ
khảo
cứu
sâu
xa
mọi
ngành
khác
nhau
của
các
môn
học
thánh
để
mỗi
ngày
một
thấu
hiểu
tường
tận
hơn
Mạc
Khải
Thánh,
mở
rộng
hơn
di
sản
khôn
ngoan
Kitô
giáo
do
các
bậc
tiền
nhân
truyền
lại,
phát
động
cuộc
đối
thoại
với
các
anh
em
ly
khai,
với
các
người
ngoài
Kitô
giáo,
và
sau
hết
để
giải
đáp
những
vấn
đề
do
sự
tiến
bộ
của
các
học
thuyết
đặt
ra
35.
Vì
thế,
các
Phân
Khoa
Giáo
Hội
phải
lo
tu
chỉnh
những
điều
lệ
cho
hợp
thời
để
phát
triển
mạnh
mẽ
các
khoa
học
thánh
và
những
khoa
học
liên
hệ.
Phải
sử
dụng
những
phương
pháp
và
phương
tiện
tân
tiến
để
hưởng
các
sinh
viên
đến
những
cuộc
khảo
cứu
sâu
rộng
hơn.
12.
Hợp
tác
trong
lãnh
vực
giáo
dục.
Sự
cộng
tác
47*
ngày
một
khẩn
thiết
và
đang
được
củng
cố
trong
phạm
vi
giáo
phận,
quốc
gia
và
quốc
tế
cũng
rất
cần
thiết
trong
lãnh
vực
học
đường.
Vì
thế,
bằng
mọi
cách,
phải
lo
liệu
thế
nào
việc
hợp
tác
giữa
các
trường
công
giáo
với
nhau
được
thuận
lợi,
đồng
thời
vì
ích
lợi
chung
của
cộng
đồng
nhân
loại
đòi
hỏi,
phải
đẩy
mạnh
việc
hợp
tác
giữa
chính
các
trường
công
giáo
với
các
trường
khác
36.
Càng
liên
kết
và
cộng
tác
chặt
chẽ
với
nhau,
nhất
là
ở
bậc
Ðại
Học,
càng
thu
lượm
được
nhiều
kết
quả.
Vì
thế
trong
mỗi
Ðại
Học,
các
Phân
Khoa
phải
hợp
tác
với
nhau,
tùy
theo
mục
tiêu
cho
phép.
Chính
các
Ðại
Học
cũng
phải
liên
kết
hỗ
tương
hành
động,
đồng
thời
cổ
võ
những
cuộc
họp
mặt
quốc
tế,
phân
phối
với
nhau
việc
nghiên
cứu
khoa
học,
thông
báo
cho
nhau
những
phát
minh,
trao
đổi
với
nhau
các
giáo
sư
trong
một
thời
gian
nào
đó
và
phát
huy
những
gì
mang
lại
việc
hỗ
trợ
lớn
lao
hơn.
Kết
luận.
Thánh
Công
Ðồng
tha
thiết
khuyên
nhủ
các
thanh
niên
hãy
ý
thức
nhiệm
vụ
cao
cả
của
việc
giáo
dục,
hãy
sẵn
sàng
nhận
lãnh
nhiệm
vụ
này
với
tâm
hồn
quảng
đại,
nhất
là
tại
những
miền
nào
việc
giáo
dục
thanh
niên
đang
bị
lâm
nguy
vì
thiếu
thầy
dạy.
Thánh
Công
Ðồng
tỏ
lòng
biết
ơn
sâu
xa
đối
với
các
linh
mục,
tu
sĩ
nam
nữ
và
giáo
dân,
đã
tự
hiến
theo
tinh
thần
Phúc
Âm
dấn
thân
vào
công
cuộc
trọng
đại
này
là
giáo
dục
trong
các
trường
thuộc
mọi
cấp
và
mọi
ngành.
Ðồng
thời
khuyến
khích
họ
hãy
quảng
đại
và
kiên
tâm
trong
bổn
phận
đã
lãnh
nhận,
nỗ
lực
vươn
lên
trong
việc
đào
luyện
học
sinh
thấm
nhuần
tinh
thần
của
Chúa
Kitô,
trong
khoa
sư
phạm
và
trong
việc
trau
dồi
kiến
thức,
để
họ
không
những
đẩy
mạnh
cuộc
canh
tân
bên
trong
Giáo
Hội
mà
còn
duy
trì
và
phát
huy
thêm
sự
hiện
diện
hữu
ích
của
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay
nhất
là
trong
giới
trí
thức.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Tuyên
Ngôn
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
28
tháng
10
năm
1965.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
1
Trong
số
nhiều
văn
kiện
giải
thích
tầm
quan
trọng
của
việc
giáo
dục,
trước
hết
xem:
-
Benedictô
XV,
Tông
thư
Communes
Litteras,
10-4-1919:
AAS
11
(1919),
trg
172.
-
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
31-12-1929:
AAS
22
(1930),
trg
49-86.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
thanh
niên
A.C.I.
20-4-1946;
Discorsi
e
Radiomessaggi
VIII,
trg
53-57.
-
Huấn
từ
cho
các
người
cha
gia
đình
nước
Pháp,
18-9-1951:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XIII,
tr
241-245.
-
Gioan
XXIII,
sứ
điệp
kỷ
niệm
30
năm
ban
hành
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
30-12-1959:
AAS
52
(1960),
trg
57-59.
-
Phaolô
VI
Huấn
từ
cho
các
hội
viên
F.I.D.A.E.
(Federazione
Istituti
Dipendenti
dall'Autorità
Ecclesiastica),
30-12-1963:
Encicliche
e
Discorsi
di
S.S.
Paolo
VI,
I,
Roma
1964,
trg
601-603.
Cũng
nên
xem
Acta
et
Documenta
Concilio
Oecumenico
Vaticano
II
apparando,
loại
I,
Antepraeparatoria,
1.
III,
trg
363-364,
370-371,
373-374.
(Trở
lại
đầu
trang)
1*
Kiểu
nói
mới
diễn
tả
nghĩa
vụ
phải
luôn
giúp
con
người
sống
hợp
thời
vì
họ
có
trách
nhiệm
sống
và
làm
việc
trong
một
thế
giới
luôn
tiến
bộ
nhanh
chóng.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Dễ
dàng
hơn
vì
các
phương
tiện
phong
phú,
mới
mẻ
và
hữu
hiệu
hơn
-
khẩn
cấp
hơn
-
vì
nếu
không
vậy
thì
sự
sai
biệt
liên
lỉ
giữa
người
không
được
chuẩn
bị,
không
được
giáo
dục
và
nền
văn
minh
luôn
tiến
bộ
sẽ
biến
con
người
thành
nạn
nhân
của
văn
minh
tiến
bộ
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:AAS
53
(1961),
trg
413,
415-417,
424.
-
Tđ
Pacem
in
Terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
278t.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Các
nguyên
tắc
về
vấn
đề
này
đã
được
Cơ
Quan
Giáo
Dục,
Khoa
Học
và
Văn
Hóa
của
Liên
Hiệp
Quốc
(UNESCO)
công
bố
ngày
20-11-1958
với
78
phiếu
thuận,
không
có
phiếu
nào
chống.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Tuyên
Ngôn
Quốc
Tế
Nhân
Quyền
(Déclaration
des
droits
de
l'homme)
do
Ðại
Hội
Ðồng
Liên
Hiệp
Quốc
chấp
thuận
ngày
10-12-1948
và
xem
Déclaration
des
droits
de
l'enfant,
20-11-1959;
Protocole
additionnel
à
la
convention
de
sauvegarde
des
droits
de
l'homme
et
des
libertés
fondamentales,
Paris,
20-3-1952;
về
Tuyên
Ngôn
Quốc
Tế
Nhân
Quyền,
xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
Terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
295t.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Ðâu
đâu
người
ta
cũng
thấy
như
thế
và
đó
cũng
là
một
điều
đáng
mừng.
Tuy
nhiên
Cơ
Quan
Giáo
Dục,
Khoa
Học
và
Văn
Hóa
của
Liên
Hiệp
Quốc
(UNESCO)
lại
nhấm
mạnh
tới
phẩm
hơn
là
tới
lượng.
Trong
thực
tế
cơ
quan
này
cho
rằng
phẩm
chất
rất
thiếu
sót,
rõ
ràng
nhất
là
sự
yếu
kém
của
hiệu
năng
nội
tại
(sự
giảm
bớt
về
bài
học)
và
hiệu
năng
ngoại
tại
(phẩm
chất
của
việc
nhận
định
sự
thực).
Những
nguyên
nhân
chính
yếu
là
do
trình
độ
thiếu
sót
của
các
giáo
sư
và
do
chương
trình
không
thích
hợp.
-
Tuyên
Ngôn
có
lý
khi
nhấn
mạnh
tới
mặt
trong
của
sự
phát
triển
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Sự
chắc
chắn
của
những
nguyên
tắc
tâm
lý
cho
phép
ta
mạnh
dạn
áp
dụng
những
kinh
nghiệm
đó
và
hơn
nữa,
sự
thành
công
của
những
cuộc
cải
cách
còn
khuyến
khích
ta
làm
như
vậy.
Không
cần
phải
nhắc
lại
ở
đây
tất
cả
những
kinh
nghiệm
đó.
Tuy
nhiên
cũng
xin
nhắc
đến
những
gì
mà
khoa
sư
phạm
đã
dùng
tới
như
những
lý
thuyết
về
ích
lợi,
những
nguyên
tắc
về
phối
hợp
luân
lý
và
về
việc
tập
trung
tinh
thần,
việc
tự
hoạt
động,
việc
cá
tính
hóa,
việc
hoạt
động
tập
thể
và
về
việc
tự
chủ...
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Tất
cả
đối
tượng
lo
âu
của
Giáo
Hội
là
con
người
toàn
diện,
xác
và
hồn.
Hiểu
khác
đi
chính
là
phản
bội
lại
tư
tưởng
và
sứ
mạng
của
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
402.
-
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
17:
AAS
57
(1965),
trg
21.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Người
ta
có
thể
định
nghĩa
danh
từ
này
rất
nhiều
cách,
nhưng
để
gọi
được
là
xác
thực,
các
định
nghĩa
đó
phải
có
những
đặc
tính
chung
sau
đây:
a.
Giáo
dục
chỉ
có
thể
có
nơi
loài
người.
b.
Nó
là
hoạt
động
của
một
hữu
thể
đối
với
một
hữu
thể
khác.
c.
Hoạt
động
này
được
hướng
tới
một
mục
đích.
d.
Mục
đích
đó
là
đạt
được
một
số
tính
chất
đại
cương
giúp
con
người
dẽ
dàng
đạt
được
lợi
ích
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Piô
XII,
Sứ
Ðiệp
truyền
thanh,
24-12-1942:
AAS
35
(1943),
trg
12,19.
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
Terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
259t.
Và
xem
những
Tuyên
Ngôn
Nhân
Quyền
ở
ghi
chú
3.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
31-12-1929:
AAS
22
(1930),
trg
50t.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Theo
Kant,
giáo
dục
phải
phát
triển
nơi
cá
nhân
tất
cả
sự
toàn
hảo
mà
họ
có
thể
có.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Ðốivới
Henri
Joly,
giáo
dục
có
mục
đích
giúp
con
ngùi
hoàn
toàn
làm
chủ
và
sử
dụng
đúng
mức
tất
cả
mọi
khả
năng
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Hình
như
những
khác
biệt
về
hai
phái
có
tính
cách
về
lượng
hơn
là
về
phẩm.
Nói
theo
sinh
lý
học,
trước
thời
kỳ
dậy
thì,
con
trai
và
con
gái
có
một
hình
thái
khá
ngang
nhau,
Nhưng
sau
đó
thì
hoàn
toàn
khác
biệt,
nhất
là
về
những
hình
thái
cân
đối
(chiều
cao
và
sức
nặng,
kích
thước,
xương
chậu
và
vai...)
(theo
Heymans
và
Weinbey).
Trên
lãnh
vực
tâm
lý,
những
sự
khác
vẫn
còn
có
tính
cách
về
lượng
và
về
sự
tương
phản
giữa
đàn
ông
và
đàn
bà
chỉ
thu
hẹp
thành
sự
khác
biệt
về
sự
phát
triển
theo
lượng.
Nhưng
nói
rằng
không
có
những
khác
biệt
quan
trọng
giữa
hai
phái
không
có
nghĩa
là
việc
giáo
dục
và
sự
đối
xử
trong
xã
hội
phải
hoàn
toàn
giống
nhau
đối
với
cả
hai
phái,
vì
vẫn
còn
có
một
kiểu
mẫu
đàn
ông
và
một
kiểu
mẫu
đàn
bà
rất
dễ
phân
tích.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Thuyết
xã
hội
học
của
Durkheim
và
Dewey
muốn
rằng
giáo
dục
sửa
soạn
cho
đứa
bé
thích
ứng
với
xã
hội
chính
trị
và
môi
trường
riêng
mà
sau
nầy
nó
sẽ
sống.
Giáo
dục
là
hoạt
động
của
cả
một
cộng
đoàn
đối
với
một
thế
hệ
để
bảo
đảm
cho
thế
hệ
đó
tồn
tại
và
tăng
trưởng
không
ngừng.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Aldous
Huxley
cho
rằng
phải
giáo
hóa
con
người
để
có
tự
do,
công
bằng
và
hòa
bình.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Ðây
là
bản
đúc
kết
tuyệt
hảo
của
một
bản
tóm
lược
về
những
giáo
thuyết
khác
nhau
đối
với
vấn
đề
giáo
dục.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Biết
bao
tiến
triển
đáng
chú
ý
từ
đầu
thế
kỷ
này
trên
ba
lãnh
vực
tâm
lý,
phương
pháp
kỹ
thuật
giảng
dạy.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Giả
thuyết
là
đã
tự
thắng
mình,
đã
tự
thoát
khỏi
lệ
thuộc
bản
thân.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Trong
xã
hội
văn
minh
của
chúng
ta,
người
ta
đã
luôn
luôn
yên
lặng
khi
đề
cập
đến
vấn
đề
này.
Nhưng
ngày
nay
người
ta
bó
buộc
phải
nhận
rằng
phái
tính
là
một
hiện
tượng
trọng
yếu
trong
đời
sống
cá
nhân
và
các
dân
tộc.
Nhận
biết
sự
cần
thiết
của
việc
giáo
dục
phái
tính
chính
là
nhận
thấy
những
biểu
hiện
liên
lỉ
của
nó
(sự
bành
trướng
quá
lý
tửng,
khuynh
hứng
tìm
kiếm
nam
tính
hay
nữ
tính)
và
người
ta
có
thể
hướng
dẫn
những
biểu
hiện
đó
theo
một
chiều
hứng
thích
hợp
với
khung
cảnh
luân
lý
của
các
xã
hội
văn
minh.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Quan
niệm
tuyệt
hảo
về
con
người,
một
sinh
vật
có
trách
nhiệm
phải
sống
với
và
cho
kẻ
khác
hầu
sống
trọn
vẹn
đời
sống
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Trong
vấn
đề
luân
lý,
chỉ
có
sự
tự
ý
chấp
nhận
là
đáng
kể
vì
nó
giả
thiết
đã
nhìn
thấy,
yêu
thích
và
tự
do
chọn
lựa
sự
thiện.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Vì
sự
thành
công
toàn
diện
của
con
người
tùy
thuộc
ở
việc
kính
trọng
quyền
ấy,
và
vì
quyền
này
nâng
cao
giá
trị
những
quyền
cao
quý
và
chính
yếu
khác
của
con
người,
một
sinh
vật
thông
minh
và
tự
do.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
441t.
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Với
tư
cách
là
con
người,
các
Kitô
hữu
có
quyền
hưởng
một
nền
giáo
dục
đầy
đủ
và
thích
hợp.
Với
tư
cách
là
người
đã
được
rửa
tội,
họ
có
quyền
hưởng
một
nền
giáo
dục
Kitô
giáo
giúp
họ
xứng
đáng
đón
nhận
sự
cung
hiến
tối
cao
cho
nhân
phẩm
con
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
83.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Là
một
tập
hợp
các
lễ
nghi
để
chu
toàn
việc
kính
thờ
Thiên
Chúa
qua
trung
gian
Chúa
Kitô
Cứu
Thế.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Chính
là
Giáo
Hội
kết
hiệp
làm
một
với
Chúa
Kitô.
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Ðịnh
nghĩa
vắn
tắt
và
tuyệt
diệu
về
những
bổn
phận
của
người
Kitô
hữu
đối
với
những
giá
trị
tự
nhiên
trong
xã
hội
loài
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
36:
AAS
57
(1965),
trg
41t.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Nhiệm
Vụ
Mục
Vụ
của
các
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội,
số
12-14.
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Tuyên
ngôn
nói
về
cha
mẹ
trước
khi
nói
tới
gia
đình
vì
chính
do
những
người
thuộc
gia
đình
mà
Tuyên
Ngôn
chấp
nhận
quyền
lợi
và
bổn
phận
là
"những
nhà
giáo
dục
đầu
tiên
và
chính
thức".
-
Ðiều
này
khác
với
Thông
Ðiệp
Divini
Illius
Magistri
nói
nhiều
về
gia
đình.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
59t.
Tđ
Mit
Brenender
Sorge,
14-3-1937:
AAS
29
(1937),
trg
164t.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
đại
hội
toàn
quốc
lần
đầu
tiên
của
Hiệp
Hội
Công
Giáo
các
giáo
chức
Ý
(A.I.M.C.),
18-9-1946:
Discorsi
e
radiomessaggi
VIII,
trg
218.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Thuở
sơ
khai
gia
đình
cung
cấp
mọi
sự
cho
con
người.
Nhưng
về
sau
tín
ngưỡng
được
dành
cho
tôn
giáo,
binh
bị
và
tài
phán
được
dành
cho
quốc
gia,
kinh
tế
được
dành
cho
kỹ
nghệ,
gia
đình
chỉ
còn
lại
có
chức
vụ
giáo
dục.
Nhưng
chính
ra
chức
vụ
này
lại
bị
hạn
hẹp
tùy
thuộc
vào
khả
năng
giáo
huấn
của
gia
đình.
Vả
lại,
vì
chức
vụ
này
có
tính
cách
bảo
tồn
hơn
là
biến
đổi,
hay
vì
chính
nó
đã
quá
lỗi
thời,
nên
không
đáp
ứng
được
nhu
cầu
của
cả
thế
giới
hiện
đại.
Vì
phạm
vi
kinh
nghiệm
quá
nhỏ
hẹp
đầy
những
mãnh
lực
trái
ngược
đối
chọi
nhau,
và
người
thanh
niên
thường
chưa
được
sửa
soạn
lại
giữ
nhiệm
vụ
quá
quan
trọng,
nên
gia
đình
không
duy
trì
được
địa
vị
chính
yếu
như
những
thời
xa
xưa.
Trẻ
con
không
những
chỉ
thích
nghi
với
sự
vật,
nhưng
cả
với
những
sản
phẩm
kỹ
nghệ
và
những
sinh
vật
chung
quanh.
Nó
phản
ứng
lại
bằng
những
cảm
xúc
sau
này
sẽ
thành
nhân
cách
của
nó.
Thật
ra,
nền
giáo
dục
gia
đình
chính
nó
không
phải
là
tất
cả.
Ðúng
hơn,
nó
cộng
tác
vào
một
công
cuộc
vượt
quá
tầm
s?#7911;a
nó.
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
hầu
như
chỉ
có
gia
đình
Kitô
giáo
còn
giữ
được
học
thuyết
chân
chính
về
luân
lý,
xã
hội,
chính
trị
và
tôn
giáo.
Các
học
thuyết
đó
thấm
nhuần
cuộc
sống
và
gieo
rắc
ảnh
hưởng
của
gia
đình,
giống
như
những
thời
sơ
khai
khi
tôn
giáo
còn
đi
liền
với
thành
thị
và
quốc
gia,
và
nền
giáo
dục
tôn
giáo
song
song
với
nền
giáo
dục
chính
trị
và
gia
đình.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
11
và
35:
AAS
57
(1965),
trg
16
và
40t.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Trẻ
con
không
được
thuộc
về
gia
đình
nữa,
nhưng
thuộc
về
xã
hội
hoặc
quốc
gia.
Ðó
là
một
kỳ
vọng
thái
quá
trái
ngược
hẳn
với
những
đòi
hỏi
thiết
định
của
chính
lương
tâm.
Nếu
quốc
gia
có
giữ
quyền
kiểm
soát
thì
đây
là
lý
do:
vì
là
cơ
quan
pháp
luật
tối
cao,
quốc
gia
có
nhiệm
vụ
bảo
đảm
để
mọi
người
được
huấn
luyện
về
trí
thức,
nghề
nghiệp,
luân
lý
và
thiêng
liêng
cần
thiết
cho
cuộc
sống
của
họ.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
63t.
-
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh,
1-6-1941:
AAS
33
(1941),
trg
200;
Huấn
từ
cho
đại
hội
toàn
quốc
lần
đầu
tiên
của
Hiệp
Hội
Công
Giáo
các
giáo
chức
Ý,
8-9-1946:
Discorsi
e
Radiomessaggi
VIII,
trg
218.
-
Về
nguyên
tắc
đồng
trách
nhiệm,
xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
Terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
294.(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Tất
cả
đoạn
này
đều
lý
luận
về
sứ
mệnh
giáo
dục
của
Giáo
Hội
bắt
nguồn
từ
bản
tính
xã
hội
nhân
bản
của
mình
và
từ
những
quyền
lợi
của
con
người
mà
Giáo
Hội
có
bổn
phận
phải
thăng
tiến.
Giáo
Hội
lãnh
trách
nhiệm
thiêng
liêng
đối
với
các
con
cái
mình
nơi
Chúa
Kitô.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Giáo
Hội
cung
cấp
một
phương
tiện
hết
sức
tốt
đẹp
để
giáo
dục
con
người.
Giáo
Hội
xét
tới
con
người
toàn
diện
thuộc
mọi
nghề
nghiệp
và
mọi
lứa
tuổi.
Hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
theo
dõi
con
người
qua
các
giai
đoạn
phát
triển
và
cống
hiến
cho
mỗi
lứa
tuổi
những
phương
thế
giáo
dục
thích
hợp.
Ðối
với
trẻ
thì
có
các
tập
quán
và
thần
thoại.
-
Ðối
với
những
thanh
niên
thì
có
những
bài
học
và
sự
nâng
đỡ
tuyệt
hảo
về
luân
lý.
-
Ðối
với
những
người
trưởng
thành
thì
có
một
thuyết
mang
lại
những
giải
đáp
cho
mọi
vấn
đề
của
cuộc
sống.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
53t,
56t.
-
Tđ
Non
abbiamo
bisogno,
29-6-1931:
AAS
23
(1931),
trg
311t,
-
Piô
XII,
Thư
của
Quốc
Vụ
Khanh
gởi
cho
tuần
lễ
xã
hội
Ý
lần
thứ
XXVIII,
20-9-1955:
L'Osservatore
Romano,
29-9-1955.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Giáo
Hội
ca
tựng
các
nhà
cầm
quyền
dân
sự
địa
phương,
quốc
gia
và
quốc
tế
ý
thức
những
nhu
cầu
khẩn
thiết
của
thời
đại
hiện
nay,
hết
sức
cố
gắng
để
mọi
dân
tộc
có
thể
tham
dự
vào
việc
giáo
dục
đầy
đủ
hơn
và
vào
nền
văn
hóa
của
nhân
loại.
Xem
Phaolô
VI:
Diễn
văn
trước
Ðại
Hội
Ðồng
Liên
Hiệp
Quốc,
4-10-1965:
AAS
57
(1965),
trg
877-885.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Piô
XI,
Tự
sắc
Orbem
catholicum,
29-6-1923:
AAS
15
(1923),
trg
327-329;
Sắc
lệnh
Provido
Sane,
12-1-1935:
AAS
27
(1935),
trg
145-152.
-
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Nhiệm
Vụ
mục
vụ
của
các
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội,
số
13
và
14.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
về
phụng
vụ
Thánh,
số
14:
AAS
56
(1964),
trg
104.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Là
những
phương
thế
mà
nền
văn
minh
hiện
đại
sử
dụng
trong
lãnh
vực
giáo
huấn
và
lãnh
vực
truyền
thông
xã
hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
CÐ
vat.
II
Sắc
lệnh
về
các
Phương
Tiện
Truyền
Thông
Xã
Hội,
số
13
và
14:
AAS
56
(1964),
trg
149t.
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Hiện
nay
học
đường
đã
được
xác
định
rõ
trong
vai
trò
tinh
thần
và
xã
hội.
Thường
thường
người
ta
nói
tới
vai
trò
thứ
nhất
mà
quên
không
nhấn
mạnh
đến
vai
trò
thứ
hai.
Theo
định
nghĩa,
nền
giáo
dục
đích
thực
phải
là
giáo
dục
đại
chúng,
nghĩa
là
chuẩn
bị
tinh
thần
cho
con
người
tham
gia
vào
việc
điều
hành
xã
hội
bằng
sự
chiếm
hữu
được
các
biểu
tượng
(biểu
tượng
về
khoa
học,
kỹ
thuật,
lịch
sử,
chính
trị,
kinh
tế,
nghệ
thuật,
tôn
giáo,
tắt
một
lời
tất
cả
di
sản
văn
hóa
của
nhân
loại).
Bí
nhiệm
của
học
đừng
chính
là
việc
khởi
sự
tìm
về
những
biểu
tượng
bao
bọc
tất
cả
những
tình
cảm
cao
quý
của
nhân
loại,
để
nhờ
đó
các
đòi
hỏi
của
tinh
thần
thật
sự
đực
thành
hình.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
76.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
Giáo
Chức
Công
Giáo
Bavaria,
31-12-1956:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XVIII,
trg
746.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Tuyên
Ngôn
không
đi
ngược
lại
nguyên
tắc
ưu
tiên
về
quyền
hạn
của
quốc
gia
trong
việc
giáo
dục.
Tuyên
Ngôn
chỉ
đòi
hỏi
sự
công
bằng
phân
phối
theo
quyền
của
con
người
và
của
người
công
dân.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
CÐ
Giáo
Tỉnh
Cincinnati
III,
năm
1961:
Collectio
Lacensis
III,
cột
1240,
c/d.
-
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
60,
63t.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Nguyên
tắc
giữ
độc
quyền
các
học
đường
là:
quốc
gia
là
cơ
quan
của
ý
chỉ
tập
thể
và
nguyên
khởi
của
nhân
loại,
quốc
gia
có
sứ
mệnh
đảm
bảo
vận
mệnh
ghi
sẵn
trong
hiến
pháp
dân
tộc.
Mục
đích
của
quốc
gia
là
gây
được
sự
thuần
nhất
rõ
rệt
trong
các
tâm
thức,
tình
cảm,
ý
kiến
và
khát
vọng
của
toàn
tập
thể.
Do
đó,
giáo
dục
có
mục
đích
tạo
nên
một
thứ
quần
chúng
trong
đó
cá
nhân
bị
đồng
hóa
và
bị
tiêu
diệt.
Ðó
là
sự
chối
bỏ
các
quyền
lợi
của
con
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
34*
Ðể
các
sáng
kiến
muốn
thí
nghiệm
những
điều
ham
thích
được
tự
do
phát
triển,
và
nhờ
những
kinh
nghiệm
đó,
tất
cả
tập
thể
thêm
phong
phú.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
63.
-
Tđ.
Non
abbiamo
bisogno,
29-6-1963:
AAS
91931),
trg
305.
-
Piô
XII,
Thư
của
Quốc
vụ
khanh
gởi
cho
tuần
lễ
xã
hội
lần
thứ
XVIII
tại
Ý,
20-9-1955:
L'Osservatore
Romano,
29-9-1955.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
thợ
thuyền
Kitô
giáo
Ý
(A.C.L.I.),
6-10-1963:
Encicliche
e
Discorsi
di
Paolo
VI,
I,
Roma
1964,
trg
230.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Gioan
XXIII,
Sứ
điệp
kỷ
niệm
30
năm
ban
hành
Tđ.
Divini
Illius
Magistri,
30-12-1959:
AAS
52
(1960),
trg
57.
(Trở
lại
đầu
trang)
35*
Chúng
ta
hãy
so
sánh
đoạn
này
với
khoản
1374
trong
giáo
luật:
"Trừ
những
trường
hợp
vi
phạm
đã
được
biện
minh,
các
thanh
thiếu
niên
công
giáo
không
được
theo
học
những
trường
không
công
giáo,
trung
lập,
hoặc
không
phân
biệt
tôn
giáo".
Tuyên
Ngôn
này
của
Công
Ðồng
đã
tiến
bộ
biết
bao
khi
nhìn
nhận
sự
hiện
diện
của
các
trẻ
em
công
giáo
nơi
những
học
đường
không
công
giáo
như
là
một
điều
tự
nhiên,
vì
vấn
đề
là
cha
mẹ
các
trẻ
em
đó
phải
giúp
đỡ
vào
để
có
một
nền
giáo
dục
Kitô
giáo.
Vì
thế
"sự
va
chạm
giữa
Giáo
Hội
và
thế
giới
ngoài
Kitô
giáo
ngày
nay
không
còn
độc
hại
như
50
năm
trước
đây
nữa.
Riêng
phần
Giáo
Hội,
Giáo
Hội
đã
chú
ý
nhiều
hơn
tới
những
nhu
cầu
của
những
người
chưa
biết
Phúc
Âm.
Công
Ðồng
đã
cố
ý
đặt
mình
vào
đúng
trào
lưu
các
đòi
hỏi
khẩn
thiết
của
thế
giới
ngày
nay"
(Edmond
Vandermeersch
SJ.).
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Giáo
Hội
rất
quý
trọng
hoạt
động
tông
đồ
do
các
giáo
sư
và
học
sinh
công
giáo
có
thể
thực
hiện
được
trong
lãnh
vực
học
đường.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
Công
Giáo
Bavaria,
31-12-1956:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XVIII,
trg
745t.
(Trở
lại
đầu
trang)
36*
Trường
học
công
giáo
không
cần
phải
thành
công
nhiều
về
kinh
tài
hay
số
lượng,
nhưng
cần
đầy
đủ
dụng
cụ
nhất,
hợp
thời
nhất
xét
về
các
phương
pháp
giáo
dục
và
giáo
huấn.
(Trở
lại
đầu
trang)
37*
Công
giáo
tiến
hành
như
men
trong
bột,
phải
len
lỏi
vào
các
trường
học
này.
Ngay
cả
ở
Việt
Nam
cũng
thế.
Thời
xưa,
chỉ
một
"nhóm
nhỏ"
tín
hữu
mà
đã
làm
sống
động
cả
một
khối
đông
đảo
chưa
nhận
biết
Thiên
Chúa
và
đã
chinh
phục
họ
trở
về
với
Ngài.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
CÐ
Giáo
tỉnh
Westminster
I,
năm
1852:
Collestio
Lacensis
III,
cột
1334,
1/b.
-
Piô
XI,
Tđ
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
77t.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
Giáo
Chức
Công
Giáo
Bavaria
31-12-1956:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XVIII,
trg
746.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
các
Hội
viên
F.I.D.A.E.
(Federazione
Istituti
Dipendenti
dall'Autorità
Ecclesiastica),
30-12-1963:
Encicliche
e
Discorsi
di
Paolo
VI,
I,
Roma
1964,
trg
602t.
(Trở
lại
đầu
trang)
38*
Là
nhịp
cầu
giao
kết
giữa
Giáo
Hội
và
xã
hội
trần
thế,
học
đường
Kitô
giáo
thể
hiện
sự
hòa
hợp
giữa
khoa
học
và
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
đặc
biệt
là
các
tài
liệu
trong
ghi
chú
1;
hơn
nữa,
quyền
lợi
này
của
Giáo
Hội
đã
được
nhiều
Công
Ðồng
giáo
tỉnh,
cũng
như
những
tuyên
ngôn
mới
nhất
được
nhiều
Hội
Ðồng
Giám
Mục
công
bố.
(Trở
lại
đầu
trang)
39*
Những
chú
giải
ở
trên
đã
minh
chứng
đầy
đủ
lời
quả
quyết
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Divini
Illius
Magistri,
n.v.t.
trg
80t.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
Giáo
Chức
Công
Giáo
trung
học
Ý
(U.C.I.I.M.),
5-1-1944:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XV,
trg
551-556.
-
Gioan
XXIII,
Huấn
từ
cho
đại
hội
Hiệp
Hội
Công
Giáo
các
Giáo
Chứa
Ý
(A.I.M.C.)
lần
VI,
ngày
5-9-1959:
Discorsi
,
Messaggi,
Colloqui,
I,
Roma
1960,
trg
427-431.
(Trở
lại
đầu
trang)
40*
Việc
chuẩn
bị
các
nhà
giáo
dục
chính
là
nền
tảng
cho
nền
văn
hóa
nhân
bản.
Sự
chuẩn
bị
đó
khởi
sự
từ
cấp
sơ
học,
nhưng
nhất
là
ở
bậc
trung
học
với
những
phát
minh
khoa
học,
luân
lý
và
thẩm
mỹ
bảo
đảm
cho
họ
một
kiến
thức
phổ
quát
giúp
vào
việc
giải
phóng
tâm
trí.
Sau
đó
việc
huấn
luyện
về
tâm
lý
sư
phạm
sẽ
giúp
họ
nhậy
cảm
trước
những
vấn
đề
mà
họ
sẽ
gặp
phải
trong
sứ
mạng
dẫn
dắt
thanh
thiếu
niên.
Sau
cùng,
sự
đào
tạo
luân
lý
và
tôn
giáo
sẽ
giúp
họ
thấy
rõ
lý
tưởng
siêu
nhiên
của
con
người
mà
những
tâm
hồn
được
họ
dìu
dắt
phải
theo
đó
mà
sống.
(Trở
lại
đầu
trang)
41*
Nam
tính
và
nữ
tính
khác
nhau
và
bổ
túc
cho
nhau.
Nghĩa
là
chúng
đòi
hỏi
phải
có
những
hoàn
cảnh
riêng
biệt
để
sinh
trưởng
và
phát
triển,
nhưng
đồng
thời
chúng
cũng
ảnh
hưởng
lẫn
nhau
một
cách
tốt
đẹp.
Tuy
nhiên,
nếu
muốn
xét
tới
một
nền
giáo
dục
hỗn
hợp
cho
cả
hai
phái,
ta
phải
để
ý
tới
tình
trạng
đại
cương
về
phong
tục
cũng
như
phải
lưu
ý
tới
tâm
tình
của
mỗi
dân
tộc.
(Trở
lại
đầu
trang)
42*
Ðây
là
đặc
điểm
của
những
phương
pháp
năng
động
hiện
đại.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
Hiệp
Hội
Giáo
Chức
Công
Giáo
trung
học
Ý
(U.C.I.I.M.),
5-1-1954,
n.v.t.
trg
555.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
Cơ
Quan
Quốc
Tế
Giáo
Dục
Công
Giáo
(O.I.E.C.),
25-2-1964:
Encicliche
e
Discorsi
di
Paolo
VI,
II,
Roma
1964,
trg
232.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
Hiệp
Hội
Công
Giáo
các
Thợ
Thuyền
Ý
(A.C.I.I.),
6-10-1963:
Encicliche
e
Discorsi
di
Paolo
VI,
I,
Roma
1964,
trg
229.
(Trở
lại
đầu
trang)
43*
Lập
ra
nhiều
loại
trường
là
để
khai
thác
tối
đa
những
khả
năng
cá
nhân
và
nhằm
tới
sự
điều
hòa
các
tiềm
năng
của
con
người
trong
quốc
gia.
Ðây
là
một
trong
những
đặc
tính
của
nền
văn
minh
hiện
đại,
không
muốn
để
một
tài
nguyên
nào
của
quốc
gia
bị
uổng
phí.
(Trở
lại
đầu
trang)
44*
Ðây
là
một
đoạn
văn
tuyệt
diệu
xác
định
vai
trò
giáo
huấn
cao
đẳng
của
công
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
Ðại
Hội
Quốc
Tế
lần
thứ
VI
về
thuyết
Tôma,
10-9-1965:
AAS
57
(1965),
trg
788-792.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
giáo
chức
và
sinh
viên
các
trường
cao
đẳng
Công
Giáo
Pháp,
21-9-1950:
Discorsie
Radiomessaggi
XII,
trg
219-221;
-
Thư
gởi
đại
hội
"Pax
Romana"
lần
thứ
XXII,
12-8-1952:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XIV,
trg
567-569.
-
Gioan
XXIII,
Huấn
từ
cho
Liên
Viện
Ðại
Học
Công
Giáo,
1-4-1959:
Discorsi,
Messaggi,
Colloqui,
I,
Roma
1960,
trg
226-229;
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
hội
đồng
giáo
sư
Ðại
Học
Công
Giáo
Milan,
5-4-1964:
Encicliche
e
Discorsi
di
Paolo
VI,
Roma
1964,
trg
438-443.
(Trở
lại
đầu
trang)
45*
Một
trong
những
mục
đích
của
các
phân
khoa
thần
học
là
lưu
truyền
mãi
mãi
và
cổ
võ
tư
tưởng
công
giáo
trong
thế
giới
bằng
cách
hướng
dẫn
luồng
suy
tư
Kitô
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
46*
Ðó
là
điều
kiện
tối
thiểu,
vì
nếu
không
được
như
vậy,
các
đại
học
Công
Giáo
cũng
chỉ
giống
như
những
đại
học
thông
thường
vì
chỉ
lo
lắng
tới
những
việc
trần
gian.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Hội
Ðồng
Giáo
Sư
và
các
sinh
viên
Ðại
Học
Roma,
15-6-1952:
Discorsi
e
Radiomessaggi
XIV,
trg
208:
"Hướng
đi
của
xã
hội
ngày
mai
trước
hết
căn
cứ
trên
não
trạng
và
tâm
thức
của
các
Ðại
Học
hiện
nay".
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
Piô
XI,
Tông
hiến
Deus
Scientiarum
Dominus,
24-5-1931:
AAS
23
(1931),
trg
245-247.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
Piô
XII,
Tđ
Humani
Generis,
12-8-1950:
AAS
(1950),
trg
568t,
578.
-
Phaolô
VI,
Tđ
Ecclesiam
suam,
phần
III,
6-8-1964:
AAS
56
(1964),
trg
637-659.
-
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Hiệp
Nhất:
AAS
57,
trg
90-107.
(Trở
lại
đầu
trang)
47*
Sự
phối
trí
học
đường
ngày
nay
được
cụ
thể
hóa
đặc
biệt
chính
là
nhờ
Cơ
Quan
Giáo
Dục,
Khoa
Học
và
Văn
Hóa
Liên
Hiệp
Quốc
(UNESCO).
Tất
cả
các
nền
văn
minh
và
các
lý
thuyết
đều
gặp
gỡ
nhau
tại
đó,
qua
việc
cộng
tác
quốc
tế
rất
phong
phú
và
dễ
dàng;
người
ta
thi
đua
nhau
trong
mọi
lãnh
vực:
vật
chất
và
chính
trị,
luân
lý
và
tinh
thần
nhằm
nâng
cao
mọi
chủng
tộc.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
Terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
248
và
các
đoạn
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II