VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
7-
SẮC
LỆNH
VỀ
CANH
TÂN
THÍCH
NGHI
ĐỜI
SỐNG
DÒNG
TU
(PERFECTAE
CARITATIS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
Văn
Sắc
Lệnh
Khóa
VII
Ngày
28
tháng
10
Năm
1965
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Sắc
Lệnh
về
Canh
Tân
Thích
Nghi
Ðời
Sống
Dòng
Tu
1.
Lời
mở
đầu
Trong
Hiến
Chế
với
tựa
đề
Ánh
Sáng
Muôn
Dân
1*,
Thánh
Công
Ðồng
đã
từng
nêu
rõ
việc
theo
đuổi
Ðức
Ái
trọn
hảo
qua
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
là
công
cuộc
bắt
nguồn
từ
giáo
lý
và
gương
sáng
của
Thầy
Chí
Thánh
và
tỏ
hiện
như
một
dấu
chỉ
huy
hoàng
của
Nước
Trời.
Giờ
đây
Thánh
Công
Ðồng
muốn
bàn
về
đời
sống
và
kỷ
luật
của
các
hội
dòng
có
hội
viên
khấn
giữ
trinh
khiết,
khó
nghèo
và
vâng
lời,
cũng
như
tiên
liệu
những
nhu
cầu
của
các
hội
dòng
ấy
theo
những
đòi
hỏi
của
thời
đại
chúng
ta.
Ngay
từ
thời
sơ
khai
của
Giáo
Hội,
đã
có
những
người
nam
cũng
như
nữ,
qua
việc
thực
hành
các
lời
khuyên
Phúc
Âm,
quyết
tự
nguyện
theo
Chúa
Kitô
với
một
tinh
thần
tự
do
thanh
thoát
hơn,
bắt
chước
Người
cách
trung
thành
hơn,
và
mỗi
người
một
cách,
tất
cả
đều
sống
tận
hiến
cho
Thiên
Chúa;
trong
số
đó
có
nhiều
người
được
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy
nên
đã
theo
đuổi
đời
sống
cô
liêu
tịch
mạc,
hoặc
lập
ra
những
dòng
tu
đã
được
Giáo
Hội
hài
lòng
dùng
quyền
của
mình
để
đón
nhận
và
phê
chuẩn.
Từ
đó,
bởi
thánh
ý
Thiên
Chúa,
nẩy
sinh
lạ
lùng
không
biết
bao
nhiêu
hội
dòng
khác
nhau,
đã
mưu
ích
nhiều
đến
nỗi
nhờ
đó
Giáo
Hội
chẳng
những
được
trang
bị
đầy
đủ
hầu
thi
hành
mọi
việc
thiện
(x.
2Tim
3,17)
và
sẵn
sàng
chu
toàn
nhiệm
vụ
kiến
tạo
Thân
Thể
Chúa
Kitô
(x.
Eph
4,12)
mà
còn
được
con
cái
tô
thắm
bằng
những
ân
huệ
khác
nhau
để
như
một
hiền
thê
trang
điểm
xinh
xắn
ra
mắt
lang
quân
mình
(x.
Kh
21,2)
lại
nhờ
đó
mà
đức
khôn
ngoan
muôn
mặt
của
Thiên
Chúa
được
tỏ
hiện
(x.
Eph
3,10).
Chính
giữa
biết
bao
ân
huệ
khác
nhau
ấy,
tất
cả
những
người
được
Thiên
Chúa
kêu
gọi
thực
hành
và
quyết
tâm
khấn
giữ
trung
thành
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
đều
hiến
thân
cho
Chúa
cách
đặc
biệt,
khi
noi
gương
Chúa
Kitô,
Ðấng
khiết
trinh
và
khó
nghèo
(x.
Mt
8,20;
Lc
9,58).
Ðấng
vì
vâng
lời
cho
đến
chết
trên
thập
giá
(x.
Ph
2,8)
nên
đã
cứu
chuộc
và
thánh
hóa
nhân
loại.
Ðược
thúc
đẩy
như
thế
bởi
đức
mến
mà
Chúa
Thánh
thần
đổ
tràn
trong
lòng
(x.
Rm
5,5),
họ
càng
ngày
càng
sống
cho
Chúa
Kitô
và
Thân
Thể
Người
là
Giáo
Hội
(x.
Col
1,24).
Bởi
vậy,
họ
càng
nồng
nàn
kết
hiệp
với
Chúa
Kitô
bao
nhiêu
qua
việc
dâng
mình
gồm
trọn
cả
cuộc
sống,
đời
sống
Giáo
Hội
càng
phong
phú
hơn
và
việc
tông
đồ
của
Giáo
Hội
càng
dồi
dào
mãnh
liệt
hơn
bấy
nhiêu.
Nhưng
để
giá
trị
trổi
vượt
cuộc
đời
thánh
hiến
bởi
khấn
giữ
các
lời
khuyên
và
để
nhiệm
vụ
khẩn
thiết
của
đời
sống
ấy
trong
hoàn
cảnh
hiện
tại
mưu
cầu
lợi
ích
lớn
lao
cho
Giáo
Hội,
Thánh
Công
Ðồng
này
quy
định
những
điểm
sau
đây
liên
quan
đến
các
nguyên
tắc
tổng
quát
nhằm
canh
tân
thích
nghi
đời
sống
và
kỷ
luật
các
dòng
cũng
như
các
tu
hội
có
đời
sống
chung
nhưng
không
có
lời
khấn
và
cả
các
tu
hội
triều,
dù
mỗi
thứ
vẫn
giữ
tính
cách
riêng
biệt
của
mình.
Còn
các
tiêu
chuẩn
riêng
để
trình
bày
và
áp
dụng
cách
thích
ứng
các
nguyên
tắc
chung
ấy
sẽ
được
những
cơ
quan
thẩm
quyền
sau
Công
Ðồng
quy
định.
2.
Nguyên
tắc
chung
của
việc
canh
tân
thích
nghi.
Việc
canh
tân
thích
nghi
đời
sống
dòng
tu
một
trật
bao
gồm
sự
liên
tục
trở
về
nguồn
mạch
của
đời
sống
Kitô
hữu
và
ơn
linh
ứng
nguyên
thủy
của
hội
dòng
cũng
như
sự
thích
nghi
hội
dòng
với
những
hoàn
cảnh
đổi
thay
qua
các
thời
đại.
Phải
xúc
tiến
việc
canh
tân
ấy
dưới
sự
thúc
đẩy
của
Chúa
Thánh
Thần
và
sự
hướng
dẫn
của
Giáo
Hội
theo
các
nguyên
tắc
sau
đây:
a)
Bước
theo
Chúa
Kitô
như
Phúc
Âm
dạy
là
tiêu
chuẩn
tối
hậu
của
đời
tu
dòng,
nên
tất
cả
các
hội
dòng
phải
coi
tiêu
chuẩn
ấy
như
là
quy
luật
tối
thượng.
2*
b)
Chính
để
mưu
ích
cho
Giáo
Hội
nên
mỗi
dòng
có
tính
cách
và
phận
vụ
riêng.
Do
đó,
phải
trung
thành
nhận
thức
và
noi
giữ
tinh
thần
cùng
ý
hướng
đặc
biệt
của
các
Ðấng
Sáng
Lập
cũng
như
tất
cả
các
truyền
thống
lành
mạnh,
vì
tất
cả
những
yếu
tố
đó
tạo
nên
di
sản
của
mỗi
hội
dòng.
3*
c)
Mọi
hội
dòng
đều
phải
tham
dự
vào
đời
sống
Giáo
Hội
và
tùy
tính
cách
riêng
của
mình
phải
hết
sức
cổ
võ
những
sáng
kiến
và
đề
nghị
của
Giáo
Hội,
chẳng
hạn
trong
lãnh
vực
Thánh
Kinh,
phụng
vụ,
tín
lý,
mục
vụ,
hiẹp
nhất,
truyền
giáo
và
xã
hội
như
thể
là
chính
của
riêng
mình.
d)
Các
hội
dòng
phải
thúc
đẩy
các
tu
sĩ
tìm
hiểu
đầy
đủ
về
hiện
trạng
của
con
người,
của
thời
thế
và
về
các
nhu
cầu
của
Giáo
Hội,
làm
sao
để
một
khi
biết
khôn
ngoan
nhận
định
những
hoàn
cảnh
của
thế
giới
ngày
nay
trong
ánh
sáng
đức
tin
và
biết
nung
nấu
nhiệt
tâm
truyền
giáo,
họ
có
thể
nâng
đỡ
con
người
cách
hữu
hiệu
hơn.
e)
Ðời
sống
tu
trì
trước
hết
nhằm
làm
cho
các
tu
sĩ
theo
Chúa
Kitô
và
kết
hợp
với
Thiên
Chúa
nhờ
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm;
bởi
thế,
phải
thận
trọng
cân
nhắc:
những
nỗ
lực
tốt
đẹp
nhất
nhằm
thích
nghi
với
các
nhu
cầu
hiện
đại
sẽ
chẳng
sinh
kết
quả
gì,
nếu
không
được
linh
động
nhờ
sự
canh
tân
về
tu
đức,
vì
đó
là
yếu
tố
bao
giờ
cũng
giữ
địa
vị
then
chốt,
ngay
cả
khi
phải
xúc
tiến
các
hoạt
động
bên
ngoài.
3.
Tiêu
chuẩn
thực
tế
của
việc
canh
tân
thích
nghi.
Cách
sống,
cách
cầu
nguyện
và
hoạt
động
phải
tùy
theo
tính
chất
của
mỗi
dòng
để
thích
ứng
với
hiện
trạng
thể
lý
và
tâm
lý
của
các
tu
sĩ,
cũng
như
với
các
nhu
cầu
tông
đồ,
những
đòi
hỏi
văn
hóa,
những
hoàn
cảnh
xã
hội
và
kinh
tế
ở
khắp
mọi
nơi,
nhất
là
trong
các
xứ
truyền
giáo.
Cũng
phải
theo
các
tiêu
chuẩn
ấy
để
duyệt
lại
đường
lối
quản
trị
các
dòng.
Bởi
vậy
các
hiến
chương,
các
tập
chỉ
dẫn,
các
bản
luật
lệ,
sách
kinh
và
nghi
thức
cũng
như
các
tập
sách
luật
tương
tự
phải
được
duyệt
lại
cho
thích
hợp;
phải
loại
bỏ
những
qui
tắc
lỗi
thời
để
thích
nghi
với
các
văn
kiện
của
Thánh
Công
Ðồng
này.
4.
Người
chịu
trách
nhiệm
chính
trong
việc
canh
tân.
Việc
canh
tân
hữu
hiệu
và
thích
nghi
đúng
đắn
chỉ
có
thể
thành
đạt
với
sự
cộng
tác
của
hết
mọi
tu
sĩ
trong
dòng.
4*
Nhưng
ấn
định
các
tiêu
chuẩn
và
thiết
lập
các
khoản
luật
về
việc
canh
tân
thích
nghi
cũng
như
cho
phép
thí
nghiệm
đầy
đủ
và
khôn
ngoan,
phải
là
nhiệm
vụ
riêng
của
các
vị
có
thẩm
quyền,
nhất
là
của
tổng
tu
nghị,
và
nếu
cần,
với
sự
phê
chuẩn
của
Tòa
Thánh
hoặc
các
Ðấng
Bản
Quyền
tùy
theo
Giáo
Luật
ấn
định.
Còn
các
Bề
Trên,
phải
thăm
dò
và
thu
nhận
ý
kiến
của
các
tu
sĩ
cách
thích
đáng
trong
những
vấn
đề
liên
quan
đến
toàn
thể
hội
dòng.
Ðể
canh
tâm
thích
nghi
các
đan
viện
nữ,
cũng
có
thể
đón
nhận
nguyện
vọng
và
ý
kiến
của
các
hội
dòng
liên
viện
hoặc
của
các
hội
đồng
khác
đã
triệu
tập
hợp
pháp.
Tuy
nhiên,
mọi
người
nên
nhớ
là
phải
đặt
niềm
hy
vọng
canh
tân
vào
việc
gia
tăng
lòng
cần
mẫn
tuân
giữ
qui
luật
và
hiến
chương
hơn
là
làm
thêm
nhiều
luật
mới.
5.
Yếu
tố
chung
cho
mọi
hình
thức
đời
sống
dòng
tu.
Tu
sĩ
của
bất
cứ
hội
dòng
nào
cũng
phải
ghi
tâm
điều
này:
chính
nhờ
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
nên
mình
đã
đáp
ứng
ơn
thiên
triệu,
vì
thế,
chẳng
những
phải
chết
đi
cho
tội
lỗi
(x.
Rm
6,11),
nhưng
còn
phải
từ
bỏ
thế
gian
để
sống
cho
một
mình
Thiên
Chúa.
Thực
vậy,
họ
đã
cung
hiến
toàn
thể
cuộc
đời
để
làm
tôi
tớ
Thiên
Chúa
và
sự
cung
hiến
ấy
đã
thực
sự
tạo
nên
một
sự
thánh
hiến
đặc
biệt
5*,
ăn
rễ
sâu
trong
sự
thánh
hiến
của
ngày
chịu
phép
rửa
tội,
đồng
thời
biểu
lộ
sự
thánh
hiến
này
cách
trọn
hảo
hơn.
Vì
sự
tự
hiến
ấy
đã
được
Giáo
Hội
chuẩn
nhận,
nên
họ
phải
biết
rằng
mình
đã
được
ràng
buộc
vào
bổn
phận
phục
vụ
Giáo
Hội.
Việc
phụng
sự
Thiên
Chúa
như
thế
phải
hối
thúc
và
nung
đúc
họ
thực
hành
các
nhân
đức,
nhất
là
đức
khiêm
nhượng
và
vâng
lời,
can
đảm
và
khiết
tịnh,
nhờ
những
nhân
đức
ấy,
họ
tham
dự
vào
sự
tự
hủy
của
Chúa
Kitô
(x.
Ph
2,7-8)
và
đồng
thời
vào
sự
sống
của
Người
trong
tinh
thần
(x.
Rm
8,1-13).
Vậy,
các
tu
sĩ
phải
trung
thành
với
lời
khấn
của
mình
và
vì
Chúa
Kitô,
từ
bỏ
mọi
sự
(x.
Mc
10,
28).
Ðể
theo
Người
(x.
Mt
19,
21)
như
một
điều
cần
thiết
duy
nhất
(x.
Lc
10,42)
nghe
lời
Người
(x.
Lc
10,39)
và
lo
lắng
đến
những
gì
thuộc
về
Người
(x.
1Cor
7,32).
Vì
thế,
tu
sĩ
của
bất
cứ
hội
dòng
nào,
trong
lúc
chỉ
đi
tìm
một
mình
Thiên
Chúa
trên
hết
mọi
sự,
đều
phải
liên
kết
việc
chiêm
niệm
với
nhiệt
tâm
truyền
giáo:
vì
nhờ
chiêm
niệm,
họ
kết
hợp
lòng
trí
với
Thiên
Chúa,
và
nhờ
nhiệt
tâm
truyền
giáo,
họ
tham
gia
công
cuộc
Cứu
Thế
và
mở
rộng
Nước
Chúa.
6.
Ưu
tiên
của
đời
sống
thiêng
liêng.
Những
ai
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
đều
phải
tìm
kiếm
và
yêu
mến
Thiên
Chúa
trên
hết
mọi
sự
6*,
vì
người
đã
yêu
chúng
ta
trước
(x.
1
Gio
4,10);
trong
mọi
hoàn
cảnh,
họ
phải
cố
gắng
phát
triển
đời
sống
ẩn
dật
cùng
Chúa
Kitô
trong
Thiên
Chúa
(x.
Col
3,3),
vì
đó
là
nguồn
mạch
và
động
lực
phát
sinh
tình
yêu
tha
nhân
nhằm
cứu
rỗi
nhân
loại
và
xây
dựng
Giáo
Hội.
Cũng
chính
đức
ái
này
làm
linh
động
và
hướng
dẫn
việc
thực
hành
các
lời
khuyên
Phúc
Âm.
Vì
thế,
tu
sĩ
của
các
hội
dòng
phải
cần
mẫn
luyện
tập
tinh
thần
cầu
nguyện
và
cả
sự
cầu
nguyện,
múc
ở
nơi
nguồn
mạch
đích
thực
của
nền
tu
đức
Kitô
giáo.
Trước
hết,
hằng
ngày,
phải
có
Quyển
Thánh
Kinh
trong
tay
để
học
được
những
"kiến
thức
siêu
việt
về
Chúa
Giêsu
Kitô"
(Ph
3,8)
nhờ
đọc
và
suy
gẫm.
Phải
theo
tinh
thần
của
Giáo
Hội
để
đem
hết
tâm
hồn,
miệng
lưỡi
chu
toàn
các
Lễ
Nghi
Phụng
Vụ,
nhất
là
Mầu
Nhiệm
Thánh
Thể,
lại
phải
nuôi
dưỡng
đời
sống
tu
đức
bằng
nguồn
mạch
phong
phú
ấy.
Nhờ
bổ
sức
như
thế
nơi
bàn
Luật
Chúa
và
bàn
thờ
thánh
họ
yêu
thương
các
chi
thể
của
Chúa
Kitô
như
anh
em,
kính
trọng
và
yêu
mến
các
vị
chủ
chăn
với
tính
con
thảo;
họ
phải
càng
ngày
càng
sống
và
cảm
nghĩ
với
Giáo
Hội
hơn,
và
tận
hiến
phụng
sự
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
7.
Những
hội
dòng
hoàn
toàn
chuyên
lo
chiêm
niệm.
Trong
những
hội
dòng
hoàn
toàn
chuyên
lo
chiêm
niệm,
các
tu
sĩ
chỉ
nhất
tâm
phụng
sự
một
mình
Thiên
Chúa
trong
cô
tịch
và
lặng
lẽ,
trong
việc
chuyên
lo
cầu
nguyện
và
hân
hoan
hãm
mình,
thì
cho
dù
nhu
cầu
hoạt
động
tông
đồ
có
khẩn
thiết
đi
nữa,
những
hội
dòng
ấy
vẫn
luôn
giữ
một
địa
vị
cao
quí
trong
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
trong
đó,
"mỗi
chi
thể
đều
có
một
tác
động
khác
nhau"
(Rm
12,4).
Thực
vậy,
họ
dâng
lên
Thiên
Chúa
hy
lễ
chúc
tụng
tuyệt
hảo,
làm
vẻ
vang
dân
Thiên
Chúa
bằng
những
hoa
trái
thánh
thiện
dồi
dào,
lấy
gương
lành
lôi
cuốn
và
làm
cho
dân
ấy
thêm
lớn
mạnh
bằng
việc
tông
đồ
tuy
âm
thầm
nhưng
phong
phú.
Như
thế,
họ
là
vinh
dự
của
Giáo
Hội
và
là
mạch
tuôn
trào
các
ơn
thiêng.
Tuy
nhiên,
chẳng
phải
duyệt
lại
cách
sống
của
họ
theo
những
nguyên
tắc
và
tiêu
chuẩn
về
việc
thích
nghi
canh
tân
như
đã
nói
trên
kia;
dẫu
vậy,
vẫn
phải
kính
cẩn
bảo
tồn
cách
biệt
thế
gian
và
những
sinh
hoạt
riêng
trong
đời
chiêm
niệm
của
họ.
8.
Những
hội
dòng
dấn
thân
làm
việc
tông
đồ.
Trong
Giáo
Hội,
có
rất
nhiều
hội
dòng
dành
cho
giáo
sĩ
hoặc
giáo
dân
dấn
thân
làm
việc
tông
đồ
khác
nhau
tùy
theo
các
ơn
Chúa
ban:
người
được
ơn
phục
vụ
để
phục
vụ
hoặc
ơn
giáo
lý
để
giảng
thuyết,
kẻ
được
ơn
khuyến
cáo
để
dẫn
dụ,
người
ban
phát
cách
đơn,
người
thương
xót
trong
vui
vẻ
(x.
Rm
12,5-8).
"Các
ân
sủng
dẫu
khác
nhau,
tuy
nhiên
cũng
cùng
một
Thánh
Thần"
(1Cor
12,4).
Nơi
những
hội
dòng
này,
bản
tính
đời
sống
tu
trì
nhằm
hoạt
động
tông
đồ
và
từ
thiện
như
một
tác
vụ
thánh
và
như
là
công
trình
riêng
của
đức
ái,
do
Giáo
Hội
ủy
thác
cho
họ
và
phải
được
thi
hành
nhân
danh
Giáo
Hội.
Vì
thế,
toàn
thể
cuộc
đời
tu
dòng
của
tu
sĩ
phải
thấm
nhuần
tinh
thần
tông
đồ
và
toàn
thể
hoạt
động
tông
đồ
phải
được
linh
động
nhờ
hình
thành
trong
tinh
thần
tu
dòng.
Vậy
để
các
tu
sĩ
trước
hết
đáp
lại
ơn
kêu
gọi
của
họ
là
theo
Chúa
Kitô,
và
phục
vụ
chính
Chúa
Kitô
trong
các
chi
thể
của
Người,
hoạt
động
tông
đồ
của
các
tu
sĩ
phải
được
phát
sinh
từ
cuộc
sống
kết
hiệp
mật
thiết
với
chính
Chúa
Kitô,
nhờ
đó,
chính
đức
mến
Chúa
yêu
người
được
triển
nở.
Bởi
thế,
các
hội
dòng
ấy
hãy
thích
nghi
luật
lệ
và
tập
tục
riêng
với
các
đòi
hỏi
của
việc
tông
đồ
họ
chuyên
lo.
Nhưng,
vì
đời
tu
dòng
chuyên
lo
hoạt
động
tong
đồ
mang
nhiều
hình
thức
khác
nhau,
nên
trong
việc
thích
nghi
canh
tân,
cần
xét
đến
tính
cách
khác
biệt
ấy,
đồng
thời
đời
sống
phụng
sự
Chúa
Kitô
của
các
tu
sĩ
trong
nhiều
hội
dòng
khác
nhau,
cần
được
nâng
đỡ
bằng
những
phương
thế
thích
hợp
riêng
tùy
mỗi
hội
dòng.
9.
Trung
thành
với
đời
sống
đan
viện
và
cộng
đồng.
Phải
trung
thành
duy
trì
và
càng
ngày
càng
làm
sáng
tỏ
định
chế
đan
viện
khả
kính
trong
tinh
thần
đích
thực
của
nó,
ở
Ðông
Phương
cũng
như
Tây
Phương.
Ðịnh
chế
ấy,
qua
bao
thế
kỷ,
đã
tạo
được
nhiều
công
nghiệp
hiển
hách
trong
Giáo
Hội
và
cộng
đồng
nhân
loại.
Nhiệm
vụ
chính
yếu
của
các
đan
sĩ
là
phục
vụ
Thiên
Chúa
trong
đời
sống
ẩn
dật,
hoặc
phụ
trách
cách
hợp
pháp
một
vài
công
việc
tông
đồ
hay
bác
ái
Kitô
giáo.
Vậy,
tuy
vẫn
duy
trì
tính
chất
riêng
của
mỗi
dòng,
họ
cũng
cần
canh
tân
những
tập
truyền
tốt
lành
xưa
và
thích
nghi
chúng
với
những
nhu
cầu
hiện
đại
của
các
linh
hồn
để
đan
viện
trở
thành
như
trung
tâm
vun
trồng
dân
Kitô
giáo.
Cũng
vậy,
các
dòng
có
hiến
chương
hay
qui
luật
liên
kết
chặt
chẽ
đời
tông
đồ
với
việc
đọc
nhật
tụng
trong
ca
hội
và
những
luật
lệ
đan
viện,
hãy
hòa
hợp
cách
sống
với
các
đòi
hỏi
của
những
việc
tông
đồ
thích
hợp
với
họ,
làm
sao
để
trung
thành
giữ
được
lối
sống
của
mình
đồng
thời
vẫn
sinh
nhiều
ích
lợi
cho
Giáo
Hội.
10.
Ðời
sống
tu
trì
giáo
dân.
Ðời
sống
tu
trì
giáo
dân,
bất
luận
nam
cũng
như
nữ,
tự
nó
làm
thành
một
bậc
sống
đầy
đủ
để
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm.
Vì
thế,
Thánh
Công
Ðồng
quí
trọng
bậc
sống
rất
hữu
ích
này,
hữu
ích
cho
sứ
mệnh
mục
vụ
của
Giáo
Hội
trong
lãnh
vực
giáo
dục
thanh
thiếu
niên,
săn
sóc
bệnh
nhân
và
chu
toàn
những
nhiệm
vụ
khác.
Thánh
Công
Ðồng
củng
cố
các
tu
sĩ
ấy
trong
ơn
gọi
của
họ
và
khuyến
khích
họ
thích
nghi
cuộc
sống
với
những
đòi
hỏi
hiện
đại.
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
rằng:
trong
những
dòng
tu
dành
cho
các
Tu
Huynh,
không
có
gì
trở
ngại
nếu
có
vài
tu
sĩ
lãnh
nhận
các
Chức
Thánh
để
đáp
ứng
những
nhu
cầu
cần
đến
chức
vụ
linh
mục
trong
nhà
mình,
tùy
Tổng
Tu
Nghị
quyết
định,
nhưng
vẫn
phải
duy
trì
tính
chất
giáo
dân
của
tu
hội.
11.
Tu
hội
triều.
Những
tu
hội
triều,
tuy
không
phải
là
dòng
tu,
nhưng
cũng
có
lời
khấn
thật
sự
và
trọn
vẹn
được
Giáo
Hội
công
nhận
để
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
ở
giữa
đời.
Lời
khấn
ấy
tận
hiến
các
hội
viên
nam
cũng
như
nữ,
giáo
dân
cũng
như
giáo
sĩ
hiện
đang
sống
giữa
đời.
Bởi
đó,
chính
họ
phải
trước
hết
quyết
tâm
tận
hiến
toàn
thân
cho
Thiên
Chúa
trong
đức
ái
trọn
hảo;
còn
tu
hội,
phải
giữ
tính
chất
đặc
thù
của
mình,
là
sống
giữa
đời,
để
dù
ở
đâu,
họ
cũng
có
thể
chu
toàn
hữu
hiệu
việc
tông
đồ
ở
giữa
đời
và
như
phát
sinh
từ
lòng
đời
theo
như
tu
hội
đã
chủ
trương
khi
thành
lập.
Tuy
nhiên,
các
tu
hội
ấy
phải
biết
rõ
rằng:
chỉ
có
thể
chu
toàn
nhiệm
vụ
lớn
lao
ấy
một
khi
các
hội
viên
được
ân
cần
huấn
luyện
về
đạo
cũng
như
đời,
sao
cho
họ
thực
sự
là
men
giữa
đời
để
làm
cho
Thân
Thể
Chúa
Kitô
được
mạnh
mẽ
và
lớn
lên.
Vì
vậy,
các
Bề
Trên
phải
thận
trọng
lo
cho
họ
được
huấn
luyện
nhất
là
về
đường
tu
đức,
lại
phải
cổ
võ
tăng
thêm
việc
huấn
luyện
ấy
sau
này
nữa.
12.
Ðức
khiết
tịnh.
Ðức
khiết
tịnh
"vì
nước
Trời"
(Mt
19,12),
mà
các
tu
sĩ
khấn
giữ,
phải
được
quí
trọng
như
một
ân
huệ
cao
cả
của
ơn
thánh.
Thật
vậy,
ơn
ấy
giải
thoát
lòng
con
người
cách
đặc
biệt
(x.
1Cor
7,32-35),
để
nồng
nàn
mến
Chúa
và
yêu
mọi
người
hơn.
Vì
thế,
đức
khiết
tịnh
là
dấu
chỉ
đặc
biệt
của
kho
tàng
trên
trời
và
cũng
là
phương
tiện
thích
hợp
nhất
cho
các
tu
sĩ
hân
hoan
hiến
mình
phụng
sự
Thiên
Chúa
và
làm
việc
tông
đồ.
Do
đó,
họ
gợi
ra
trước
mặt
mọi
Kitô
hữu
sự
kết
hợp
lạ
lùng
do
Thiên
Chúa
thiết
lập
và
sẽ
tỏ
hiện
đầy
đủ
ở
đời
sau,
là
Giáo
Hội
được
nhận
Chúa
Kitô
làm
lang
quân
độc
nhất
của
mình.
Vậy,
các
tu
sĩ
hãy
trung
thành
giữ
lời
mình
khấn,
tin
lời
Chúa
dạy,
trông
cậy
vào
ơn
Ngài,
đừng
tự
phụ
vì
sức
riêng
mình,
lại
phải
sống
hãm
mình
và
gìn
giữ
ngũ
quan.
Cũng
đừng
bỏ
qua
những
phương
thế
tự
nhiên
giúp
cho
tinh
thần
và
thể
xác
được
lành
mạnh.
Như
thế,
họ
sẽ
không
bị
lung
lạc
vì
những
tà
thuyết
rêu
rao
rằng
sự
tiết
dục
trọn
vẹn
là
việc
không
thể
giữ
được
hoặc
có
hại
cho
sự
phát
triển
con
người;
và
như
bởi
một
bản
năng
thiêng
liêng,
họ
hãy
khước
từ
tất
cả
những
gì
đe
dọa
đức
khiết
tịnh.
Hơn
nữa,
hết
mọi
người,
nhất
là
các
Bề
Trên,
đều
phải
nhớ
rằng:
đức
khiết
tịnh
được
bảo
trì
an
toàn
hơn
cả
khi
trong
đời
sống
cộng
đoàn
có
tình
huynh
đệ
đích
thực
giữa
các
tu
sĩ.
Sự
tiết
dục
trọn
vẹn
đụng
chạm
đến
những
khuynh
hướng
tâm
sâu
của
bản
tính
con
người,
nên
những
người
muốn
khấn
giữ
khiết
tịnh
chỉ
nên
quyết
định
và
chỉ
được
chấp
thuận
sau
một
thời
gian
thử
thách
thực
đầy
đủ
và
đã
thấy
có
sự
trưởng
thành
tâm
lý,
tình
cảm
cần
thiết
7*.
Không
những
phải
căn
dặn
họ
về
những
nguy
hiểm
hay
xảy
đến
cho
đức
khiết
tịnh,
nhưng
còn
phải
huấn
luyện
thế
nào
để
họ
đón
nhận
cuộc
sống
độc
thân
hiến
dâng
cho
Thiên
Chúa
đồng
thời
đem
lại
lợi
ích
cho
con
người
toàn
diện
của
họ.
13.
Ðức
khó
nghèo.
Tự
nguyện
sống
khó
nghèo
8*
để
theo
Chúa
Kitô
là
dấu
chứng
cho
việc
theo
Chúa
Kitô
rất
được
trọng
vọng,
nhất
là
ngày
nay.
Vì
thế,
các
tu
sĩ
hãy
miệt
mài
trau
dồi
và
nếu
cần,
hãy
biểu
lộ
sự
khó
nghèo
ấy
bằng
những
hình
thức
mới.
Nhờ
nhân
đức
này,
họ
được
san
sẻ
sự
nghèo
khó
của
Chúa
Kitô.
Ðấng
tuy
giàu
có,
đã
trở
nên
thiếu
thốn
vì
chúng
ta
để
chúng
ta
được
giàu
sang
nhờ
sự
cùng
cực
của
Người
(x.
Cor
8,9;
Mt
8,20).
Khó
nghèo
trong
đời
tu
dòng
không
chỉ
hạn
hẹp
trong
sự
lệ
thuộc
Bề
Trên
khi
sử
dụng
của
cải,
nhưng
là
phải
nghèo
khó
trong
thực
tế
và
trong
tinh
thần
để
chỉ
lo
thu
tích
một
kho
tàng
trên
trời
(x.
Mt
6,20).
Trong
chức
vụ
riêng
của
mỗi
người,
các
tu
sĩ
phải
cảm
thấy
luật
làm
việc
là
luật
chung
cũng
ràng
buộc
họ,
và
trong
lúc
nhờ
đó
mưu
cầu
những
gì
cần
thiết
để
sống
và
hoạt
động,
họ
hãy
trút
bỏ
mọi
âu
lo
quá
đáng
để
cậy
trông
vào
sự
Quan
Phòng
của
Cha
trên
Trời
(x.
Mt
6,25).
Các
hội
dòng
có
thể
ấn
định
trong
hiến
chương
cho
phép
các
tu
sĩ
khước
từ
gia
sản
đã
có
hay
sẽ
lãnh
nhận.
Chính
các
hội
dòng,
tùy
hoàn
cảnh
địa
phương,
hãy
nỗ
lực
như
tập
thể
làm
chứng
về
đức
khó
nghèo,
hãy
sẵn
lòng
trích
một
phần
của
cải
để
cung
ứng
cho
những
nhu
cầu
khác
của
Giáo
Hội
và
nâng
đỡ
những
người
thiếu
thốn
là
những
người
mà
mọi
tu
sĩ
phải
yêu
thương
với
tâm
tình
của
Chúa
Kitô
(x.
Mt
19,21;
25,34-46;
Giac
2,15-16;
1Gio
3,17).
Các
tỉnh
cũng
như
các
nhà
của
hội
dòng
hãy
san
sẻ
của
cải
cho
nhau,
để
nơi
dư
thừa
giúp
đỡ
nơi
thiếu
thốn.
Mặc
dầu
các
hội
dòng
có
quyền
sở
hữu
tất
cả
những
gì
cần
thiết
để
sống
ở
đời
này
và
để
hoạt
động,
nhưng
hãy
tránh
mọi
hình
thức
xa
hoa
trục
lợi
quá
đáng
hoặc
thu
tích
dư
dật
trừ
khi
qui
luật
và
hiến
chương
dạy
khác.
14.
Ðức
vâng
lời.
Nhờ
khấn
giữ
đức
vâng
lời
9*,
các
tu
sĩ
tận
hiến
ý
muốn
mình
như
của
lễ
bản
thân
dâng
lên
Thiên
Chúa,
nhờ
đó
họ
được
kết
hợp
với
ý
muốn
cứu
rỗi
của
Ngài
cách
kiên
trì
và
chắc
chắn
hơn.
Vậy,
theo
gương
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
đến
để
làm
theo
ý
Chúa
Cha
(x.
Gio
4,34;
5,30;
Dth
10,7;
Tv
39.9)
"tự
nhận
thân
phận
tôi
tớ"
(Ph
2,7)
và
đã
học
tập
đức
vâng
lời
từ
những
điều
phải
chịu
đựng
(x.
Dth
5,8),
các
tu
sĩ,
được
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
lấy
đức
tin
tùng
phục
các
vị
Bề
Trên,
đại
diện
Thiên
Chúa,
và
nhờ
các
ngài
hướng
dẫn,
họ
phục
vụ
mọi
anh
em
trong
Chúa
Kitô,
như
chính
Chúa
Kitô
vì
tuân
phục
Chúa
Cha
đã
phục
vụ
anh
em
và
hiến
mạng
sống
để
cứu
chuộc
mọi
người
(x.
Mt
20,28;
Gio
10,14-18).
Như
thế,
họ
được
liên
kết
chặt
chẽ
hơn
với
sứ
mệnh
phục
vụ
của
Giáo
Hội
và
nỗ
lực
đạt
đến
mức
tuổi
sung
mãn
của
Chúa
Kitô
(x.
Eph
4,13).
Vậy
các
tu
sĩ
hãy
khiêm
tốn
vâng
phục
Bề
Trên
của
mình
theo
tiêu
chuẩn
qui
luật
và
hiến
chương,
trong
tinh
thần
tin
kính
và
yêu
mến
đối
với
thánh
ý
Chúa,
dùng
tất
cả
năng
lực
trí
tuệ,
ý
muốn
cũng
như
năng
khiếu
và
ơn
Chúa
ban
để
thi
hành
các
giới
lệnh
và
chu
toàn
những
phận
vụ
đã
được
ủy
thác
cho
mình,
vì
biết
mình
đang
góp
công
xây
dựng
Thân
Thể
Chúa
Kitô
theo
như
ý
định
Thiên
Chúa.
Như
thế,
đức
vâng
lời
trong
đời
tu
trì
chẳng
những
đã
không
giảm
bớt
phẩm
giá,
nhưng
còn
giúp
nhân
vị
trưởng
thành
nhờ
phát
triển
tự
do
của
con
cái
Thiên
Chúa.
Các
vị
Bề
Trên
sẽ
phải
trả
lẽ
về
các
linh
hồn
đã
được
ủy
thác
cho
mình
(x.
Dth
13,17),
nên
hãy
ngoan
ngoãn
tuân
hành
thánh
ý
Chúa
khi
chu
toàn
bổn
phận
và
hãy
thi
hành
quyền
bính
trong
tinh
thần
phục
vụ
anh
em,
làm
sao
để
minh
chứng
được
mối
tình
Thiên
Chúa
đã
yêu
họ.
Với
lòng
kính
trọng
nhân
vị,
các
ngài
hãy
cai
quản
những
kẻ
thuộc
quyền
như
là
những
con
cái
Thiên
Chúa
bằng
cách
thúc
đẩy
sự
vâng
phục
tự
nguyện.
Phải
đặc
biệt
để
cho
họ
được
tự
do
cần
thiết
trong
việc
xưng
tội
và
linh
hướng.
Hãy
hướng
dẫn
các
tu
sĩ
biết
cộng
tác
với
tinh
thần
vâng
lời
tích
cực
và
trách
nhiệm,
trong
những
bổn
phận
phải
chu
toàn
và
những
sáng
kiến
cần
có.
Nên
các
Bề
Trên
hãy
sẵn
sàng
lắng
nghe
các
tu
sĩ
và
khuyến
khích
họ
cộng
tác
mưu
lợi
ích
của
hội
dòng
và
của
Giáo
Hội,
tuy
nhiên
vẫn
phải
duy
trì
quyền
ấn
định
và
truyền
dạy
những
gì
phải
làm.
Các
tu
nghị
và
các
hội
đồng
phải
trung
thành
chu
toàn
bổn
phận
quản
trị
đã
được
ủy
thác
đồng
thời
thể
hiện
sự
tham
gia
và
lo
âu
của
mọi
tu
sĩ
mỗi
người
theo
cách
thức
riêng
đối
với
lợi
ích
của
toàn
thể
cộng
đoàn.
15.
Ðời
sống
chung.
Ðời
sống
chung
được
nuôi
dưỡng
bằng
giáo
lý
Phúc
Âm,
Phụng
Vụ
Thánh
và
nhất
là
Bí
Tích
Thánh
Thể
phải
được
duy
trì
trong
lời
cầu
nguyện,
trong
sự
hiệp
thông
cùng
một
tinh
thần
(x.
CvSđ
2,42),
theo
gương
Giáo
Hội
sơ
khai,
trong
đó
các
tín
hữu
chỉ
có
một
tấm
lòng,
một
tâm
hồn
(x.
CvSđ
4,32).
Là
chi
thể
Chúa
Kitô,
các
tu
sĩ
hãy
mang
lấy
gánh
nặng
của
nhau
(x.
Gal
6,2),
và
trọng
kính
lẫn
nhau
trong
tinh
thần
giao
hảo
huynh
đệ
(x.
Rm
12,10).
Thực
vậy,
khi
được
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
tràn
đầy
trong
mọi
tâm
hồn
(x.
Rm
5,5),
cộng
đoàn
giống
như
một
gia
đình
thực
sự
đoàn
tụ
nhân
danh
Chúa,
được
hưởng
sự
hiện
diện
của
Ngài
(x.
Mt
18,20).
Yêu
mến
là
chu
toàn
luật
pháp
(x.
Rm
13,10)
và
là
dây
liên
kết
sự
trọn
lành
(x.
Col
3,14);
nhờ
đức
ái
mà
chúng
ta
biết
rằng
mình
được
chuyển
từ
cõi
chết
sang
cõi
sống
(x.
1Gio
3,14).
Hơn
nữa,
sự
hiệp
nhất
huynh
đệ
loan
báo
Chúa
Kitô
đã
đến
(x.
Gio
13,35;
17,21)
và
phát
sinh
một
năng
lực
tông
đồ
mãnh
liệt.
Ðể
tình
huynh
đệ
giữa
các
tu
sĩ
được
mật
thiết
hơn,
hãy
để
những
người
thường
được
gọi
là
"trợ
sĩ"
hay
gọi
bằng
những
tên
tương
tự,
được
liên
kết
chặt
chẽ
với
cuộc
sống
và
hoạt
động
của
cộng
đoàn.
Trừ
khi
hoàn
cảnh
buộc
phải
làm
thế
khác,
phải
liệu
sao
để
trong
các
dòng
nữ
chỉ
có
một
bậc
nữ
tu
độc
nhất.
Giữa
các
chị
em,
chỉ
còn
sự
khác
biệt
do
việc
phân
phối
công
tác
đòi
hỏi,
công
tác
mà
mỗi
người
lãnh
nhận
tùy
theo
ơn
Chúa
gọi
đặc
biệt
hay
do
năng
khiếu
riêng.
Còn
các
đan
viện
và
hội
dòng
nam
không
thuần
túy
dành
cho
giáo
dân,
tùy
tính
cách
riêng,
theo
tiêu
chuẩn
do
hiến
chương
ấn
định,
có
thể
chấp
nhận
giáo
sĩ
và
giáo
dân
trên
cùng
một
đẳng
cấp,
có
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
như
nhau,
trừ
những
gì
thuộc
về
chức
thánh.
10*
16.
Luật
nội
cấm
của
đan
viện
nữ.
Luật
nội
cấm
giáo
hoàng
các
đan
viện
nữ
chuyên
sống
đời
chiêm
niệm
thuần
túy
vẫn
phải
được
duy
trì,
nhưng
sau
khi
đã
thu
thập
ý
nguyện
của
chính
các
đan
viện,
hãy
thích
nghi
với
hoàn
cảnh
thời
gian
và
không
gian,
bỏ
những
tập
tục
đã
lỗi
thời.
Còn
các
đan
sĩ
khác,
chuyên
lo
việc
tông
đồ
bên
ngoài
theo
định
chế
được
miễn
khỏi
giữ
luật
nội
cấm
giáo
hoàng,
để
có
thể
dễ
dàng
hơn
mà
chu
toàn
bổn
phận
tông
đồ
đã
được
ủy
thác,
tuy
nhiên
vẫn
giữ
luật
nội
cấm
tùy
theo
hiến
chương
ấn
định.
17.
Y
phục
tu
sĩ.
Y
phục
của
tu
sĩ
là
dấu
chỉ
sự
tận
hiến
nên
phải
giản
dị
và
khiêm
tốn,
khó
nghèo
và
tề
chỉnh,
hơn
nữa,
phải
phù
hợp
với
sức
khỏe
và
thích
nghi
với
hoàn
cảnh
thời
gian,
không
gian
cũng
như
nhu
cầu
của
chức
vụ.
Y
phục
của
tu
sĩ
nam
cũng
như
nữ,
không
thích
ứng
với
các
tiêu
chuẩn
trên
đây,
cần
phải
được
sửa
đổi.
18.
Huấn
luyện
tu
sĩ.
Việc
canh
tân
thích
nghi
các
hội
dòng
lệ
thuộc
rất
nhiều
vào
việc
huấn
luyện
tu
sĩ
11*.
Vì
thế,
không
được
cho
các
tu
sĩ
không
phải
là
giáo
sĩ
và
các
nữ
tu
ra
làm
việc
tông
đồ
ngay
khi
vừa
mãn
nhà
tập,
nhưng
phải
tiếp
tục
huấn
luyện
họ
cách
thích
đáng
về
mặt
tu
trì,
tông
đồ,
giáo
lý
và
kỹ
thuật
trong
những
nhà
có
đủ
điều
kiện;
cũng
nên
cho
họ
thi
lấy
những
văn
bằng
thích
hợp.
Nhưng,
để
việc
thích
nghi
đời
dòng
tu
với
những
đòi
hỏi
của
thời
đại
chúng
ta
không
chỉ
hời
hợt
bên
ngoài
và
để
những
tu
sĩ
chuyên
lo
việc
tông
đồ
bên
ngoài
theo
hiến
chương
khỏi
thiếu
khả
năng
chu
toàn
nhiệm
vụ,
phải
cho
họ
học
biết
cách
thích
đáng
những
lối
sống,
cách
cảm
nghĩ
và
suy
tư
đang
thịnh
hành
trong
xã
hội
hiện
tại,
mỗi
người
tùy
khả
năng
trí
thức
và
tâm
tính
riêng.
Phải
biết
hòa
hợp
các
yếu
tố
của
việc
huấn
luyện
sao
cho
người
tu
sĩ
có
một
đời
sống
thuần
nhất.
Suốt
đời,
các
tu
sĩ
hãy
chuyên
chăm
hoàn
bị
việc
huấn
luyện
tu
đức,
giáo
lý,
kỹ
thuật;
còn
các
Bề
Trên
hãy
tùy
sức
lo
cho
họ
có
cơ
hội,
phương
tiện
và
thời
giờ
để
chu
toàn
bổn
phận
ấy.
Các
Bề
Trên
cũng
có
nhiệm
vụ
chọn
lựa
kỹ
lưỡng
và
chuẩn
bị
cẩn
thận
những
vị
Giám
Ðốc,
Linh
Hướng
và
Giáo
Sư.
19.
Thành
lập
hội
dòng
mới.
Về
việc
thành
lập
những
hội
dòng
mới,
phải
cân
nhắc
kỹ
lưỡng
xem
có
cần
thiết,
hay
ít
là
có
ích
lợi
lớn
lao
và
có
khả
năng
tăng
triển
không.
Như
thế
mới
tránh
được
sự
thành
lập
bừa
bãi
những
hội
dòng
vô
ích
hoặc
thiếu
sinh
lực.
Trong
các
Giáo
Hội
mới,
hãy
đặc
biệt
cổ
võ
và
phát
triển
những
hình
thức
dòng
tu
thích
hợp
với
tính
tình
và
phong
hóa
dân
chúng,
với
tập
tục
và
hoàn
cảnh
địa
phương.
20.
Bảo
toàn,
thích
nghi
hoặc
loại
bỏ
những
điểm
riêng
biệt
của
dòng.
Các
hội
dòng
phải
trung
thành
duy
trì
và
chu
toàn
phận
sự
riêng,
hãy
để
ý
đến
lợi
ích
của
toàn
thể
Giáo
Hội
và
các
giáo
phận
mà
thích
nghi
công
việc
với
nhu
cầu
thời
đại
và
địa
phương,
sử
dụng
những
phương
thế
thích
hợp,
cả
những
phương
thế
tân
tiến
và
loại
bỏ
những
công
việc
nào
ngày
nay
ít
phù
hợp
với
tinh
thần
và
bản
chất
đích
thực
của
hội
dòng.
Tinh
thần
truyền
giáo
phải
được
tuyệt
đối
duy
trì
trong
các
hội
dòng,
được
thích
nghi
tùy
bản
chất
riêng
của
mỗi
dòng
với
hoàn
cảnh
hiện
tại,
để
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
giữa
muôn
dân
được
hữu
hiệu.
21.
Hội
dòng
và
đan
viện
suy
thoái.
Còn
các
hội
dòng
và
đan
viện
nào
theo
ý
của
các
Ðấng
Bản
Quyền
liên
hệ,
và
phán
đoán
của
Tòa
Thánh,
không
có
hy
vọng
hữu
lý
để
phát
triển
được,
thì
cấm
nhận
thêm
tập
sinh
và
nếu
có
thể,
hãy
sát
nhập
với
một
hội
dòng
hoặc
một
đan
viện
khác
đang
hưng
thịnh
hơn
mà
mục
đích
và
tinh
thần
không
khác
nhau
bao
nhiêu.
22.
Sự
phối
hợp
giữa
các
hội
dòng.
Nếu
tiện
lợi
và
được
Tòa
Thánh
chấp
nhận,
các
hội
dòng
và
đan
viện
tự
trị
hãy
xúc
tiến
thành
lập
những
hiệp
hội
nếu
đại
khái
cùng
thuộc
về
một
gia
đình
tu,
hoặc
thành
lập
những
liên
hiệp
nếu
có
hiến
chương,
tập
tục
tương
tự
và
cũng
sống
theo
một
tinh
thần,
nhất
là
khi
quá
nhỏ
bé,
hoặc
thành
lập
những
liên
hội
nếu
họ
chuyên
lo
những
công
việc
bề
ngoài
giống
nhau
hoặc
trùng
nhau.
23.
Hội
đồng
Bề
Trên
Thượng
Cấp.
Nên
cổ
võ
những
hội
nghị
hay
hội
đồng
các
Bề
Trên
Thượng
Cấp
do
Tòa
Thánh
qui
định,
vì
những
hội
đồng
như
vậy
giúp
ích
rất
nhiều
để
mỗi
hội
dòng
đạt
tới
mục
đích
riêng
cách
hoàn
hảo
hơn,
để
phát
triển
sự
hợp
tác
hữu
hiệu
hơn
nhằm
mưu
ích
cho
Giáo
Hội,
để
phân
phối
đồng
đều
hơn
các
thợ
chuyên
giảng
Phúc
Âm
trong
một
địa
hạt
nhất
định,
cũng
như
để
cứu
xét,
thương
lượng
những
vấn
đề
chung
có
liên
quan
đến
các
tu
sĩ,
trong
khi
phối
hợp
và
cộng
tác
thích
ứng
với
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
về
lãnh
vực
hoạt
động
tông
đồ.
Các
tu
hội
triều
cũng
có
thể
thành
lập
những
tổ
chức
tương
tự.
24.
Ơn
gọi
tu
dòng.
Các
linh
mục
và
các
nhà
giáo
dục
Kitô
giáo
phải
hết
sức
cố
gắng
để
cổ
động
cho
ơn
gọi
tu
dòng
được
thêm
đông,
được
chọn
lựa
thận
trọng
và
thích
đáng
hầu
đáp
ứng
đầy
đủ
với
nhu
cầu
của
Giáo
Hội.
Ngay
khi
giảng
dạy
thường
ngày,
cũng
hãy
năng
đề
cập
đến
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
và
việc
chọn
lựa
bậc
sống
tu
dòng.
Trong
khi
giáo
dục
con
cái
theo
luân
lý
Kitô
giáo,
cha
mẹ
phải
vun
trồng
và
bảo
vệ
các
mầm
non
ơn
gọi
tu
trì
trong
tâm
hồn
chúng.
Các
hội
dòng
được
phép
tuyên
truyền
cho
dòng
mình
để
cổ
võ
ơn
kêu
gọi
và
tìm
các
ứng
sinh,
nhưng
phải
hành
động
với
sự
khôn
ngoan
cần
thiết
và
tuân
giữ
những
tiêu
chuẩn
do
Tòa
Thánh
và
Các
Ðấng
Bản
Quyền
đã
ban
hành.
Tuy
nhiên,
các
tu
sĩ
hãy
nhớ
rằng:
gương
sáng
của
đời
sống
cá
nhân
mới
là
lời
giới
thiệu
hùng
hồn
nhất
cho
hội
dòng
mình
và
là
lời
mời
gọi
sống
đời
tu
dòng
hữu
hiệu
hơn
hết.
25.
Kết
luận.
Các
hội
dòng
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
có
ý
đề
cập
đến
khi
ấn
định
những
tiêu
chuẩn
canh
tân
thích
nghi
này,
hãy
mau
mắn
đáp
ứng
ơn
thiên
triệu
và
phận
vụ
mình
trong
Giáo
Hội
thời
hiện
tại.
Thực
vậy,
Thánh
Công
Ðồng
ngưỡng
mộ
cuộc
đời
trinh
khiết
khó
nghèo
và
vâng
lời
của
họ,
đó
là
cách
sống
mà
chính
Chúa
Kitô
đã
nêu
gương;
Thánh
Công
Ðồng
vững
lòng
kỳ
vọng
nơi
những
công
cuộc
rất
hữu
hiệu
của
họ,
dù
âm
thầm
hay
công
khai.
Vậy,
hết
thảy
các
tu
sĩ
hãy
nhờ
đức
tin
trọn
hảo,
đức
mến
Chúa
yêu
người,
lòng
mến
thánh
giá
và
niềm
cậy
trông
vinh
quang
đời
sau
mà
truyền
bá
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
trên
toàn
thế
giới,
để
mọi
người
thấy
dấu
chứng
của
họ
và
ngợi
khen
Cha
chúng
ta
trên
trời
(x.
Mt
5,16).
Như
thế,
nhờ
lời
cầu
bầu
của
Ðức
Trinh
Nữ
Maria
rất
dịu
hiền,
Mẹ
Thiên
Chúa,
"mà
cuộc
đời
của
Mẹ
là
khuôn
mẫu
cho
mọi
người"
1,
các
hội
dòng
mỗi
ngày
một
bành
trướng
và
trổ
sinh
những
hoa
trái
cứu
rỗi
dồi
dào
hơn.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Sắc
Lệnh
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
28
tháng
10
năm
1965.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
1*
Xem
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
ch.
VI,
số
44.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Mối
liên
lạc
mật
thiết
giữa
các
Quy
Luật
Dòng
Tu
và
"Quy
luật
sống"
đặt
nền
trên
chính
Chúa
Kitô.
Người
ta
thường
không
lưu
tâm
đúng
mức
đến
sự
liên
lạc
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Giáo
Hội
vẫn
muốn
duy
trì
tính
chất
đa
dạng
giữa
các
dòng
tu.
Ðồng
nhất
hóa
sẽ
có
nghĩa
là
giảm
bớt
các
đoàn
sủng
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Về
phương
cách
thực
hành
việc
tham
khảo
ý
kiến
và
sự
cộng
tác
của
hết
mọi
thành
phần
trong
Dòng,
xem
Tự
sắc
Ecclesiae
Sanctae,
phần
II,
các
số
1-18.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Thế
nên
việc
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
chính
là
một
sự
tận
hiến
mới
(xem
Ðề
nghị
tu
chỉnh
91,
do
430
nghị
phụ
cổ
võ).
Cũng
trong
ý
hướng
đó,
xem
diễn
từ
của
Ðức
Thánh
Cha
với
Ðại
hội
của
các
Dòng,
ngày
23-5-1960.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Ở
đây
Công
Ðồng
muốn
đáp
ứng
nguyện
vọng
của
385
Nghị
Phụ
xin
xác
nhận
rõ
ràng
sự
khẩn
thiết
số
một
của
việc
canh
tân
thiêng
liêng.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Xem
Huấn
thị
Renovationis
Causam,
các
số
4,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Trong
số
14,000
đề
nghị
tu
chỉnh
cho
toàn
lược
đồ
về
đời
tu
trì,
có
1,042
đề
nghị
đã
nhắm
thẳng
vào
đức
khó
nghèo;
sau
khi
gạn
lọc
kỹ
lưỡng
đoạn
văn
chỉ
vỏn
vẹn
còn
có
63
chữ
theo
nguyên
bản.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Tóm
kết
giáo
lý
thần
học
về
đức
vâng
lời,
số
này
đã
khéo
léo
xác
định
vị
trí
việc
tuyên
khấn
vâng
lời
của
các
tu
sĩ
trong
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô,
"Tôi
Tớ
Thiên
Chúa",
và
giữa
lòng
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Ðây
là
một
trong
những
điểm
thành
công
nhất
của
Sắc
Lệnh.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Vấn
đề
bình
đẳng
quyền
lợi
này,
xin
xem
Ecclesiae
Sanctae,
phần
II.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Xét
về
tầm
quan
trọng,
số
này
đáng
lẽ
phải
được
đặt
ngay
sau
những
đoạn
bàn
đến
các
lời
khấn.
Nó
được
tự
sắc
Ecclesiae
Sanctae
và
nhất
là
huấn
thị
Renovationis
Causam
bổ
túc
đầy
đủ.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
T.
Ambrosiô,
De
Virginitate,
c.
II,
ch.
II,
số
15.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II