VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
6-
SẮC
LỆNH
VỀ
NHIỆM
VỤ
CỦA
CÁC
GIÁM
MỤC
TRONG
GIÁO
HỘI
(CHRISTUS
DOMINUS)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
CHƯƠNG
II
CÁC
GIÁM
MỤC
VỚI
CÁC
GIÁO
HỘI
ĐỊA
PHƯƠNG
HAY
GIÁO
PHẬN
I.
Các
Giám
Mục
giáo
phận
11.
Giáo
phận
là
một
phần
Dân
Thiên
Chúa
được
giao
phó
cho
một
Giám
Mục
chăm
sóc,
với
sự
cộng
tác
của
linh
mục
đoàn,
để
nhờ
liên
kết
với
vị
chủ
chăn
của
mình
và
qua
Ngài,
giáo
phận
được
qui
tụ
trong
Chúa
Thánh
Thần
nhờ
Phúc
Âm
và
Thánh
Thể,
làm
thành
một
Giáo
Hội
riêng
biệt,
trong
đó
Giáo
Hội
Duy
Nhất,
Thánh
Thiện,
Công
Giáo
Và
Tông
Truyền
của
Chúa
Kitô
hiện
diện
và
hành
động
thực
sự.
Được
ủy
thác
chăm
sóc
một
Giáo
Hội
riêng
biệt,
mỗi
Giám
Mục
dẫn
dắt
các
con
chiên
của
mình
nhân
danh
Chúa,
dưới
quyền
Đức
Giáo
Hoàng,
với
danh
nghĩa
là
chủ
chăn
riêng,
thường
xuyên
và
trực
tiếp
khi
thi
hành
nhiệm
vụ
giáo
huấn,
thánh
hóa
và
cai
quản
các
con
chiên.
Tuy
nhiên
các
Ngài
phải
nhìn
nhận
những
quyền
lợi
chính
đáng
của
các
Thượng
Phụ
hay
những
Đấng
Thẩm
Quyền
phẩm
trật
khác
1 .
Giám
Mục
phải
chăm
lo
nhiệm
vụ
tông
đồ
của
mình
như
những
chứng
nhân
của
Chúa
Kitô
trước
mặt
mọi
người,
chẳng
những
săn
sóc
những
kẻ
đã
theo
vị
Thủ
Lãnh
các
chủ
chăn,
mà
lại
hết
lòng
hy
sinh
cho
những
người
bất
cứ
cách
nào
đã
đi
lạc
đường
chân
lý
hay
không
biết
Phúc
Âm
và
lòng
nhân
từ
cứu
chuộc
của
Chúa
Kitô,
cho
đến
khi
tất
cả
mọi
người,
sau
cùng
sẽ
“đi
trong
sự
chí
thiện,
chí
công
và
chân
thật”
(Eph
5,
9).
12
Trong
khi
thi
hành
chức
vụ
giáo
huấn
của
mình,
các
Giám
Mục
phải
loan
báo
cho
mọi
người
biết
Phúc
Âm
Chúa
Kitô,
một
nhiệm
vụ
trổi
vượt
trên
các
chức
vụ
chính
yếu
của
các
Ngài
2 ,
bằng
cách
nhờ
sức
mạnh
của
Chúa
Thánh
Thần
mời
gọi
họ
chấp
nhận
đức
tin
hoặc
làm
cho
họ
vững
mạnh
trong
đức
tin
sống
động.
Các
Ngài
hãy
trình
bày
cho
họ
toàn
vẹn
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô,
tức
những
chân
lý
mà
nếu
không
biết
tới
là
không
biết
Chúa
Kitô,
và
cũng
phải
trình
bày
con
đường
đã
được
Thiên
Chúa
mạc
khải
để
làm
vinh
danh
Người
và
nhờ
đó,
họ
được
hạnh
phúc
trường
cữu
3 .
Hơn
nữa,
chính
các
Ngài
phải
minh
chứng
rằng
theo
ý
định
của
Thiên
Chúa
Tạo
Hóa,
chính
các
thực
tại
trần
thế
và
các
tổ
chức
nhân
loại
đã
được
an
bài
để
cứu
rỗi
con
người,
và
do
đó
chúng
có
thể
góp
phần
không
ít
trong
việc
kiến
tạo
Thân
Thể
Chúa
Kitô.
Vì
thế,
dựa
theo
giáo
thuyết
của
Giáo
Hội,
các
ngài
phải
dạy
cho
họ
biết
đến
mức
nào
phải
tôn
trọng
nhân
vị,
gồm
tự
do
và
cả
đời
sống
thể
xác
;
phải
tôn
trọng
gia
đình,
sự
duy
nhất
và
bền
vững
của
nó,
cũng
như
việc
truyền
sinh
và
giáo
dục
con
cái,
phải
tôn
trọng
cộng
đồng
dân
sự
với
các
luật
lệ
và
những
nghề
nghiệp
của
nó
;
phải
quí
trọng
lao
công,
giải
trí,
nghệ
thuật
và
những
khám
phá
kỹ
thuật
;
phải
mến
chuộng
sự
nghèo
khó
cũng
như
sự
sung
túc.
Sau
cùng
các
ngài
phải
trình
bày
những
phương
thế
giải
quyết
các
vấn
đề
rất
hệ
trọng
liên
quan
đến
việc
chiếm
hữu,
gia
tăng
và
việc
phân
phối
hợp
lý
tài
sản
vật
chất,
những
vấn
đề
liên
quan
tới
hòa
bình
và
chiến
tranh,
tới
mối
bang
giao
huynh
đệ
giữa
mọi
dân
tộc
4
13.
Các
Ngài
phải
trình
bày
giáo
thuyết
Kitô
giáo
một
cách
thích
hợp
với
những
nhu
cầu
của
thời
đại,
nghĩa
là
đáp
ứng
những
khó
khăn
và
những
vấn
đề
đang
làm
cho
mọi
người
xao
động
và
khắc
khoải
nhất.
Các
ngài
cũng
phải
coi
sóc
giáo
thuyết
đó
bằng
cách
dạy
cho
chính
các
tín
hữu
biết
bênh
vực
và
phổ
biến
nó.
Trong
việc
giảng
truyền
giáo
thuyết
này,
các
Ngài
phải
tỏ
lòng
ân
cần
từ
mẫu
của
Giáo
Hội
đối
với
hết
mọi
người,
tín
hữu
cũng
như
lương
dân,
và
phải
đặc
biệt
lưu
tâm
đến
những
người
nghèo
khổ,
những
kẻ
hèn
kém,
mà
Chúa
đã
sai
các
Ngài
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
họ.
Vì
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
tìm
đến
đối
thoại
với
xã
hội
loài
người,
trong
đó
Giáo
Hội
đang
sống
5 ,
nên
trước
tiên
bổn
phận
của
các
Giám
Mục
là
đến
với
mọi
người,
kêu
gọi
và
cổ
võ
các
cuộc
đối
thoại
với
họ.
Trong
những
cuộc
đối
thoại
thuộc
viễn
tượng
cứu
rỗi
đó,
để
chân
lý
luôn
luôn
liên
kết
với
bác
ái,
kiến
thức
đi
liền
với
tình
yêu,
cần
phải
làm
nổi
bật
tính
chất
minh
bạch
của
ngôn
ngữ,
cùng
sự
khiêm
tốn
và
lòng
nhân
hậu,
cũng
như
sự
không
ngoan
đúng
mức,
nhưng
đầy
tin
tưởng,
vì
khi
sự
tin
tưởng
hổ
trợ
tình
bạn
hữu
thì
cũng
liên
kết
các
linh
hồn
6 .
Các
Ngài
phải
cố
gắng
dùng
những
phương
tiện
khác
nhau
sẵn
có
trong
thời
đại
chúng
ta
để
loan
báo
giáo
thuyết
Kitô
giáo,
trước
hết
là
việc
giảng
thuyết
và
việc
tổ
chức
dạy
giáo
lý
:
cả
hai
luôn
luôn
giữ
một
địa
vị
chính
yếu,
sau
đó
trình
bày
giáo
thuyết
trong
các
học
đường,
các
học
hội,
qua
các
buổi
thuyết
trình
và
những
cuộc
hội
họp
dưới
mọi
hình
thức
;
và
đừng
quên
phổ
biến
giáo
lý
đó
bằng
những
bản
tuyên
ngôn
nhân
một
vài
biến
cố,
cũng
như
bằng
báo
chí
và
những
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
khác
nhau
;
cần
phải
hoàn
toàn
tận
dụng
các
phương
tiện
này
để
rao
truyền
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
7.
14.
Các
Ngài
phải
lo
lắng
để
việc
tổ
chức
dạy
giáo
lý
được
thực
hiện
chu
đáo
cho
các
thiếu
nhi,
cho
thanh
thiếu
niên
và
cho
cả
những
người
đã
trưởng
thành
với
mục
đích
là
làm
cho
đức
tin
nơi
mọi
người,
sau
khi
được
giáo
thuyết
soi
dẫn
trở
nên
sống
động,
minh
bạch
và
hữu
hiệu.
Các
ngài
phải
lo
lắng
để
việc
truyền
đạt
giáo
lý
có
thể
theo
một
thứ
tự
thích
ứng
và
một
phương
pháp
không
những
thích
hợp
với
môn
đang
học
hỏi
mà
còn
hợp
với
tính
tình,
khả
năng,
tuổi
tác
và
cả
hoàn
cảnh
sinh
sống
của
các
thính
giả
;
việc
dạy
giáo
lý
đó
cũng
phải
dựa
trên
Thánh
Kinh,
Thánh
Truyền,
Phụng
Vụ,
Giáo
Huấn
và
đời
sống
Giáo
Hội
.
Ngoài
ra,
các
Ngài
hãy
lo
chuẩn
bị
đúng
mức
các
người
dạy
giáo
lý
thi
hành
phận
sự
của
mình
để
họ
hiểu
rõ
giáo
thuyết
của
Giáo
Hội
và
thông
thạo
những
định
luật
tâm
lý
và
các
khoa
sư
phạm
về
lý
thuyết
cũng
như
thực
hành.
Các
ngài
cũng
phải
cố
gắng
thế
nào
để
việc
tổ
chức
dạy
giáo
lý
cho
những
tân
tòng
đã
lớn
tuổi
được
cải
tổ
hoặc
thích
nghi
hơn.
15.
Khi
thi
hành
chức
vụ
thánh
hóa,
các
Giám
Mục
phải
nhớ
rằng
mình
đã
được
chọn
từ
muôn
người
và
được
đặt
lên
cho
họ
trong
những
việc
liên
quan
đến
Thiên
Chúa,
để
dâng
của
lễ
và
lễ
vật
hy
sinh
đền
tội.
Thực
thế,
các
Giám
Mục
hưởng
nhận
sự
sung
mãn
của
Bí
Tích
Truyền
Chức
và
các
linh
mục
lệ
thuộc
vào
các
ngài
khi
thi
hành
quyền
bính
của
mình,
vì
chính
các
linh
mục
đã
được
thánh
hiến
thành
những
linh
mục
đích
thực
của
Tân
Ước
để
trở
nên
những
cộng
sự
viên
sáng
suốt
của
Hàng
Giám
Mục.
các
phó
tế
cũng
lệ
thuộc
như
vậy,
vì
họ
đã
được
thụ
phong
để
phụng
sự,
nên
họ
phục
vụ
dân
Thiên
Chúa
trong
sự
thông
hiệp
với
Giám
Mục
và
linh
mục
đoàn
của
Ngài.
Vì
vậy
chính
các
Giám
Mục
là
những
người
phân
phát
chủ
yếu
các
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa
và
là
những
vị
điều
hành,
cổ
võ,
bảo
vệ
toàn
thể
đời
sống
phụng
vụ
trong
Giáo
Hội
đã
được
trao
phó
8.
Vậy
các
Ngài
phải
luôn
lo
lắng
cho
các
Kitô
hữu
thấu
hiểu
và
sống
sâu
xa
hơn
mầu
nhiệm
phục
sinh
thế
nào
để
nhờ
Bí
Tích
Thánh
Thể,
họ
tạo
thành
một
Thân
Thể
liên
kết
rất
chặt
chẽ
trong
tình
bác
ái
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
9.
Trong
khi
“chuyên
cần
cầu
nguyện
và
giảng
huấn
lời
Chúa”
(CvTđ
6,
4),
các
Ngài
hãy
gắng
sức
để
mọi
người
dưới
quyền
săn
sóc
của
mình
được
đồng
một
lòng
trong
kinh
nghiệm
10,
được
lớn
lên
trong
ơn
nghĩa
thánh
nhờ
lãnh
nhận
các
Bí
Tích
và
trở
nên
nhân
chứng
trung
thành
của
Chúa.
Như
những
kẻ
có
nhiệm
vụ
giúp
người
khác
nên
trọn
lành,
các
Giám
Mục
hãy
nhiệt
thành
thúc
đẩy
các
giáo
sĩ,
tu
sĩ
và
giáo
dân
của
mình
sống
thánh
thiện
tùy
theo
ơn
gọi
đặc
biệt
của
mỗi
người
11.
Tuy
nhiên
các
ngài
hãy
nhớ
rằng
mình
cũng
phải
nêu
gương
thánh
thiện
bằng
bác
ái,
khiêm
nhường
và
bằng
đời
sống
đơn
giản.
Các
Ngài
phải
thánh
hóa
các
Giáo
Hội
đã
được
trao
phó,
sao
cho
ý
nghĩa
Giáo
Hội
phổ
quát
của
Chúa
Kitô
được
sáng
chói
hoàn
toàn
nơi
các
Giáo
Hội
đó.
Cho
nên
các
Ngài
hãy
hết
sức
cổ
võ
ơn
gọi
làm
linh
mục
hay
tu
dòng,
nhất
là
hãy
đặc
biệt
lưu
tâm
đến
ơn
gọi
truyền
giáo.
16.
Trong
khi
thi
hành
nhiệm
vụ
người
cha
và
chủ
chăn,
các
Giám
Mục
hãy
sống
giữa
dân
mình
như
những
người
phục
vụ
12,
nghĩa
là
như
những
chủ
chăn
hiền
từ
biết
các
con
chiên
mình
và
con
chiên
cũng
biết
chủ
chăn
;
như
những
người
cha
đích
thực
tỏ
lòng
yêu
thương
và
lo
lắng
cho
hết
mọi
người
và
mọi
người
tỏ
lòng
tri
ân
tuân
phục
quyền
hành
Thiên
Chúa
đã
ban
cho
các
Ngài.
Các
Ngài
hãy
quy
tụ
đoàn
chiên
của
mình
thành
một
gia
đình
đông
đủ
và
cổ
võ
để
mọi
người
đều
ý
thức
nhiệm
vụ
riêng
mà
sống
và
hoạt
động
trong
tình
hiệp
thông
bác
ái.
Để
có
thể
thực
thi
những
điều
đó
một
cách
hữu
hiệu,
các
Giám
Mục
“
là
những
người
sẵn
sàng
làm
mọi
việc
thiện”
( 2
Tm
2,
21)
và
“chịu
đựng
mọi
sự
vì
những
kẻ
được
chọn”
(2
Tm
2,
10)
phải
tổ
chức
đời
sống
mình
phù
hợp
với
nhu
cầu
của
thời
đại.
Vì
các
linh
mục
chia
xẻ
một
phần
nghĩa
vụ
cũng
như
nỗi
lo
âu
của
chính
các
ngài
và
vì
hằng
ngày
họ
hăng
say
thi
hành
nghĩa
vụ
đó,
nên
các
Ngài
hãy
luôn
đặc
biệt
yêu
mến
họ,
coi
họ
như
những
người
con,
người
bạn
13
;
như
thế,
nhờ
sẵn
sàng
nghe
họ
và
liên
lạc
thân
tín
với
họ,
các
Ngài
nhiệt
thành
cổ
võ
toàn
thể
công
tác
mục
vụ
trong
cả
giáo
phận.
Các
Ngài
phải
lo
lắng
tới
tình
trạng
thiêng
liêng,
trí
thức
và
vật
chất
của
các
linh
mục
mình,
để
họ
có
thể
sống
thánh
thiện
và
đạo
đức
cũng
như
có
thể
trung
thành
chu
toàn
nhiệm
vụ
riêng
một
cách
hữu
hiệu.
Do
đó,
các
Ngài
nên
khuyến
khích
mở
những
trung
tâm
huấn
luyện
và
tổ
chức
các
cuộc
gặp
gỡ
đặc
biệt
giúp
cho
các
linh
mục
thỉnh
thoảng
quy
tụ
lại
với
nhau,
vừa
để
chu
toàn
các
việc
linh
thao
lâu
dài
hơn
nhằn
canh
tân
đời
sống,
vừa
để
học
hỏi
sâu
xa
hơn
những
môn
học
của
Giáo
Hội,
nhất
là
Thánh
Kinh
và
thần
học
hay
những
vấn
đề
xã
hội
quan
trọng
hơn,
và
cả
những
phương
pháp
mới
của
hoạt
động
mục
vụ
nữa.
Các
Ngài
phải
tỏ
lòng
nhân
từ
xây
dựng
đối
với
những
linh
mục
đang
lâm
nguy
bất
cứ
bằng
cách
nào,
hoặc
đã
thiếu
sót
trong
một
vấn
để
nào
đó.
Để
có
thể
mưu
ích
cho
các
tín
hữu
hợp
với
tình
trạng
của
từng
người,
các
Ngài
phải
cố
gắng
tìm
hiểu
đúng
mức
những
nhu
cầu
của
họ
trong
hoàn
cảnh
xã
hội
họ
đang
sống,
nhờ
áp
dụng
những
phương
thế
thích
hợp,
nhất
là
việc
tra
cứu
theo
phương
pháp
xã
hội
học.
Các
Ngài
phải
tỏ
ra
lo
lắng
cho
hết
mọi
người,
bất
luận
tuổi
tác,
hoàn
cảnh
hay
quốc
tịch,
người
bản
xứ,
ngoại
kiều
cũng
như
lữ
khách.
Trong
việc
thể
hiện
nỗi
lo
lắng
mục
vụ
này,
các
Ngài
phải
dành
cho
tín
hữu
của
mình
những
vai
trò
thích
hợp
với
họ
trong
các
công
việc
của
Giáo
Hội,
và
đồng
thời
phải
nhì
nhận
họ
cũng
có
bổn
phận
và
quyền
lợi
tích
cực
góp
sức
vào
việc
xây
dựng
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô.
Các
Ngài
phải
tỏ
lòng
thương
mến
những
anh
em
ly
khai
bằng
cách
nhắn
nhủ
các
tín
hữu
đối
đãi
với
họ
hết
sức
nhân
đạo
và
bác
ái
;
đồng
thời
cũng
cổ
võ
phong
trào
hiệp
nhất
đúng
theo
quan
điểm
của
Giáo
Hội
14.
Các
Ngài
hãy
yêu
mến
những
người
không
được
rửa
tội
để
bác
ái
của
Chúa
Kitô
chiếu
sáng
cho
họ,
vì
Giám
Mục
là
nhân
chứng
của
Chúa
Giêsu
trước
mặt
mọi
người.
17.
Phải
hỗ
trợ
các
phương
pháp
làm
việc
tông
đồ
khác
nhau
cũng
như
việc
phối
trí
và
liên
lạc
mọi
công
việc
tông
đồ
dưới
sự
chỉ
huy
của
Giám
Mục
trong
toàn
cõi
hay
tại
những
vùng
đặc
biệt
của
giáo
phận
;
nhờ
sự
liên
kết
này,
mọi
sáng
kiến
và
tổ
chức
như
dạy
giáo
lý,
truyền
giáo,
bác
ái,
xã
hội,
gia
đình,
học
đường
và
bất
cứ
công
việc
gì
theo
đuổi
mục
đích
mục
vụ,
đều
được
thống
nhất
theo
một
đường
lối
hoạt
động
;
và
như
thế
sự
hợp
nhất
của
giáo
phận
đồng
thời
được
sáng
chói
hơn.
Cần
phải
chăm
lo
nhấn
mạnh
đến
bổn
phận
đòi
buộc
từng
tín
hữu
phải
làm
việc
tông
đồ
tùy
theo
hoàn
cảnh
và
khả
năng
của
mình,
và
cũng
phải
nhắc
nhở
họ
tham
dự
hoặc
giúp
đỡ
các
công
việc
tông
đồ
giáo
dân
khác
nhau,
nhất
là
công
giáo
tiến
hành.
Cũng
phải
cổ
võ
hay
nâng
đỡ
những
hiệp
hội
nào
trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp
theo
đuổi
mục
đích
siêu
nhiên,
nghĩa
là
để
đạt
đến
đời
sống
toàn
thiện
hơn,
hoặc
để
loan
báo
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
cho
mọi
người,
hoặc
phát
động
giáo
thuyết
Kitô
giáo
hay
phát
triển
những
phụng
tự
công
cộng,
hoặc
theo
đuổi
những
mục
đích
xã
hội
hoặc
thực
hiện
những
công
việc
đạo
đức
hay
bác
ái.
Các
hình
thức
hoạt
động
tông
đồ
cần
phải
thích
nghi
đúng
mức
với
những
nhu
cầu
hiện
đại,
quan
tâm
tới
các
hoàn
cảnh
của
con
người,
không
những
về
điều
kiện
thiêng
liêng
và
luân
lý,
mà
cả
hoàn
cảnh
xã
hội,
dân
số
và
kinh
tế
nữa.
Nhờ
những
ban
mục
vụ
xã
hội,
là
những
ban
được
khuyến
khích
đặc
biệt,
các
cuộc
điều
tra
xã
hội
và
tôn
giáo
giúp
ích
rất
nhiều
để
đạt
tới
mục
đích
đó
cách
hữu
hiệu
và
phong
phú.
18.
Cần
lo
lắng
đặc
biệt
đến
những
tín
hữu
vì
hoàn
cảnh
sinh
sống
không
được
hưởng
đầy
đủ
sự
chăm
sóc
mục
vụ
chung
và
thường
xuyên
của
cha
xứ
hoặc
thiếu
hẳn
sự
chăm
sóc
đó,
chẳng
hạn
đa
số
người
di
cư,
dân
lưu
đày,
tị
nạn,
những
người
đi
biển,
cũng
như
các
nhân
viên
phi
hành,
dân
du
mục
và
những
hạng
người
như
thế.
Cần
phải
cổ
võ
những
phương
pháp
mục
vụ
thích
hợp
để
nâng
đỡ
đời
sống
thiêng
liêng
của
những
người
vì
lý
do
nghỉ
ngơi,
tìm
đến
những
xứ
khác
trong
một
thời
gian.
Các
Hội
Đồng
Giám
Mục,
nhất
là
Hội
Đồng
Giám
Mục
Quốc
Gia,
cần
phải
nghiên
cứu
những
vấn
đề
khá
cấp
bách
liên
hệ
đến
những
người
kể
trên.
Nhờ
các
phương
tiện
cũng
như
các
tổ
chức
thích
hợp,
các
ngài
hãy
đồng
tâm
hiệp
lực
lo
lắng
và
hỗ
trợ
việc
thiêng
liêng
của
họ,
bằng
cách
vừa
lưu
tâm
đến
những
tiêu
chuẩn
đã
được
Tòa
Thánh
qui
định
15,
hay
sẽ
ban
hành,
vừa
thích
nghi
thỏa
đáng
với
các
hoàn
cảnh
về
thời
gian,
nơi
chốn
và
nhân
sự.
19.
Trong
việc
chu
toàn
nhiệm
vụ
tông
đồ
nhằm
cứu
rỗi
các
linh
hồn,
các
Giám
Mục
tự
mình
được
hưởng
quyền
tự
do
đầy
đủ
và
hoàn
toàn,
cũng
như
quyền
độc
lập
đối
với
bất
cứ
quyền
hành
dân
sự
nào.
Vì
thế,
không
được
phép
trực
tiếp
hay
gián
tiếp
ngăn
trở
việc
thi
hành
nhiệm
vụ
thuộc
phạm
vi
Giáo
Hội
của
các
ngài,
hoặc
không
cho
các
ngài
tự
do
liên
lạc
với
Tòa
Thánh,
với
những
Thẩm
Quyền
khác
trong
Giáo
Hội
và
với
những
kẻ
thuộc
quyền.
Thực
ra,
các
Chủ
Chăn
Thánh,
trong
khi
chuyên
tâm
săn
sóc
việc
thiêng
liêng
cho
đoàn
chiên,
thực
sự
cũng
lo
đến
công
việc
thăng
tiến
và
nền
thịnh
vượng
của
xã
hội
trần
thế,
bằng
cách
cộng
tác
hữu
hiệu
với
các
chính
quyền
dân
sự
để
thực
hiện
mục
đích
trên
trong
phạm
vi
chức
vụ
và
hợp
với
cương
vị
Giám
Mục;
và
bằng
cách
nhắn
nhủ
đoàn
chiên
vâng
phục
các
luật
lệ
chính
đáng
và
tôn
trọng
các
quyền
bính
hợp
pháp.
20.
Vì
nhiệm
vụ
tông
đồ
của
các
Giám
Mục
đã
được
Chúa
Kitô
thiết
lập
và
theo
đuổi
mục
đích
thiêng
liêng,
siêu
nhiên,
nên
Thánh
Công
Đồng
Chung
tuyên
bố
rằng
quyền
chỉ
định
và
bổ
nhiệm
các
Giám
Mục
là
quyền
riêng,
đặc
biệt,
và
tự
nó
độc
hữu
thuộc
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội,
Vì
thế,
để
bảo
vệ
đúng
mức
sự
tự
do
của
Giáo
Hội,
để
thăng
tiến
lợi
ích
của
Kitô
hữu
cách
thích
hợp
và
dễ
dàng
hơn,
Thánh
Công
Đồng
ước
mong
sau
này
các
chính
quyền
dân
sự
không
còn
hưởng
các
quyền
lợi
hoặc
đặc
ân
nào
về
việc
tuyển
chọn,
bổ
nhiệm,
đề
cử
hay
chỉ
định
chức
vụ
Giám
Mục
;
còn
phần
các
Chính
Quyền
dân
sự,
Thánh
Công
Đồng
tri
ân
và
quý
trọng
thịnh
tình
của
họ
đối
với
Giáo
Hội
và
hết
sức
nhã
nhặn
xin
họ
hãy
đồng
lòng
với
Tòa
Thánh
tự
ý
từ
bỏ
những
quyền
lợi
hay
đặc
ân
kể
trên
mà
hiện
tại
họ
vẫn
hưởng
do
hiệp
ước
hoặc
tập
tục.
21.
Do
đó,
vì
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
Giám
Mục
quá
quan
trọng
và
nặng
nề,
nên
các
Giám
Mục
giáo
phận
và
những
vị
có
quyền
tương
đương,
nếu
vì
cao
niên
hay
vì
lý
do
quan
trọng
nào
khác
mà
trở
nên
ít
thích
hợp
trong
việc
chu
toàn
chức
vụ,
đều
được
tha
thiết
kêu
gọi
từ
chức
hoặc
tự
ý,
hoặc
do
Thẩm
Quyền
khuyến
cáo.
Đàng
khác,
nếu
đã
chấp
nhận
sự
từ
chức
đó,
Thẩm
quyền
vừa
lo
nâng
đỡ
cách
xứng
đáng
các
vị
từ
chức
vừa
thừa
nhận
các
ngài
được
hưởng
những
quyền
lợi
đặc
biệt.
II.
Ranh
giới
các
giáo
phận
22.
Để
thực
hiện
được
mục
đích
trung
thực
của
giáo
phận,
bản
tính
Giáo
Hội
cần
phải
được
thể
hiện
rõ
ràng
ngay
trong
Dân
Chúa
thuộc
giáo
phận
đó;
các
Giám
Mục
phải
có
thể
chu
toàn
những
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
mình
trong
giáo
phận
cách
hữu
hiệu;
sau
cùng,
sự
cứu
rỗi
của
Dân
Chúa
phải
được
phục
vụ
hết
sức
hoàn
hảo
như
có
thể.
Điều
đó
đòi
hỏi
hoặc
phân
chia
thích
hợp
ranh
giới
đất
đai
các
giáo
phận,
hoặc
phải
phân
phối
các
giáo
sĩ,
các
tài
sản
cách
hợp
lý
và
thích
hợp
với
những
đòi
hỏi
của
hoạt
động
tông
đồ.
Tất
cả
những
điều
đó
chẳng
những
giúp
ích
cho
hàng
giáo
sĩ
và
các
Kitô
hữu
trực
tiếp
liên
hệ,
mà
thật
sự
còn
có
ích
lợi
cho
toàn
thể
Giáo
Hội
Công
Giáo
nữa.
Vì
thế,
Thánh
Công
Đồng
quyết
định
là
tùy
theo
lợi
ích
các
linh
hồn
đòi
hỏi,
phải
lập
tức
và
khôn
ngoan
xét
lại
cách
thỏa
đáng
những
điều
liên
quan
đến
ranh
giới
các
giáo
phận,
bằng
cách
phân
chia,
cắt
xén
hay
sát
nhập
các
giáo
phận,
hoặc
bằng
cách
sửa
đổi
ranh
giới
hay
ấn
định
địa
điểm
thích
hợp
hơn
cho
tòa
Giám
Mục,
hoặc
sau
cùng
bằng
cách
canh
tân
tổ
chức
nội
bộ,
nhất
là
đối
với
những
giáo
phận
có
nhiều
thành
phố
lớn.
Khi
xét
lại
các
ranh
giới
giáo
phận,
trước
hết
cần
phải
bảo
đảm
tính
cách
duy
nhất
về
nhân
sự,
chức
vụ,
tổ
chức
của
mỗi
giáo
phận
khác
nào
một
thân
thể
thật
sống
động.
Còn
trong
từng
trường
hợp,
sau
khi
cân
nhắc
mọi
hoàn
cảnh
liên
hệ,
cần
phải
lưu
ý
đến
những
tiêu
chuẩn
khá
tổng
quát
sau
đây:
1)
Trong
việc
ấn
định
ranh
giới
giáo
phận,
phải
lưu
tâm
chừng
nào
có
thể
đến
những
thành
phần
khác
biệt
của
dân
Chúa,
vì
điều
đó
có
thể
giúp
ích
nhiều
cho
việc
thi
hành
sự
chăm
sóc
mục
vụ
thích
hợp
hơn.
Đồng
thời
phải
lo
sao
để
những
vùng
đông
dân
chúng
thành
một
đơn
vị
đồng
nhất
bao
nhiêu
có
thể,
với
những
công
sở
dân
sự
và
các
tổ
chức
xã
hội
là
những
yếu
tố
tạo
thành
cơ
cấu
sống
động
của
chính
dân
đó.
Vì
thế,
lãnh
thổ
của
mỗi
giáo
phận
rõ
ràng
chỉ
là
một
khối
đồng
nhất.
Nếu
cần,
cũng
phải
để
ý
đến
những
ranh
giới
dân
sự
và
những
hoàn
cảnh
đặc
biệt
về
nhân
sự
hoặc
địa
phương,
như
tâm
lý,
kinh
tế,
địa
lý,
lịch
sử.
2)
Diện
tích
hay
dân
số
của
giáo
phận
cách
chung
phải
làm
sao
để,
một
mặt,
chính
Giám
Mục,
dù
được
nhiều
người
giúp
đỡ,
vẫn
có
thể
cử
hành
những
nghi
lễ
đại
triều
và
đi
kinh
lý
cách
thuận
lợi.
có
thể
điều
khiển
và
phối
trí
đúng
mức
mọi
hoạt
động
tông
đồ
trong
giáo
phận,
nhất
là
có
thể
hiểu
biết
các
linh
mục
của
mình,
cũng
như
các
tu
sĩ
và
giáo
dân
đang
tham
dự
một
cách
nào
đó
vào
các
công
việc
của
giáo
phận
;
mặt
khác,
khu
vực
phải
rộng
đủ
và
thích
hợp
để
cả
Giám
Mục
lẫn
các
giáo
sĩ
có
thể
hy
sinh
cách
hữu
ích
mọi
sức
lực
mình
cho
nhiệm
vụ
mà
vẫn
luôn
luôn
lưu
tâm
tới
những
nhu
cầu
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
3)
Sau
cùng
để
tác
vụ
cứu
rỗi
có
thể
được
thi
hành
trong
giáo
phận
cách
thích
hợp
hơn,
phải
được
kể
như
qui
luật
là
trong
mỗi
giáo
phận,
số
lượng
và
khả
năng
của
hàng
giáo
sĩ
ít
nhất
phải
đủ
để
chăng
dắt
dân
Chúa
cho
đúng
mức;
đừng
để
thiếu
những
chức
vụ,
tổ
chức
và
các
công
việc
riêng
biệt
của
Giáo
Hội
địa
phương
mà
thực
tế
là
cần
thiết
cho
việc
điều
khiển
và
hoạt
động
tông
đồ
thích
hợp
của
Giáo
Hội
đó.
Sau
hết
các
tài
nguyên
để
nâng
đỡ
nhân
sự
và
các
tổ
chức,
hoặc
phải
có
sẵn,
hoặc
đàng
khác
ít
ra
phải
khôn
ngoan
tiên
liệu
sẽ
không
thiếu.
Cũng
nhằm
mục
đích
đó,
nơi
nào
có
những
tín
hữu
thuộc
Nghi
Lễ
khác,
Giám
Mục
giáo
phận
phải
lo
liệu
cho
những
nhu
cầu
thiêng
liêng
của
họ
hoặc
bằng
các
linh
mục
hay
những
giáo
xứ
cùng
nghi
lễ,
hoặc
bằng
vị
Đại
Diện
Giám
Mục
có
đủ
đặc
quyền
thích
hợp,
và
nếu
cần,
có
cả
chức
Giám
Mục
nữa,
hoặc
chính
ngài
đảm
trách
nhiệm
vụ
của
Đấng
bản
quyền
cho
các
nghi
lễ
khác
biệt
ấy.
Nếu
theo
sự
xét
đoán
của
Tòa
Thánh,
tất
cả
những
điều
trên
không
thể
thực
hiện
được,vì
những
lý
do
đặc
biệt,
thì
cần
phải
thiết
lập
một
Phẩm
Trật
riêng
cho
các
Nghi
Lễ
khác
biệt
này
16.
Cũng
thế,
trong
những
hoàn
cảnh
tương
tự,
cần
lo
cho
các
tín
hữu
thuộc
ngôn
ngữ
khác
nhau
hoặc
bằng
các
linh
mục
hay
những
giáo
xứ
cùng
ngôn
ngữ,
hoặc
bằng
Vị
Đại
Diện
Giám
Mục
thông
thạo
ngôn
ngữ
ấy,
và
nếu
cần
có
cả
chức
Giám
Mục
nữa,
hoặc
sau
cùng
nhờ
một
phương
thế
nào
khác
thích
hợp
hơn.
24.
Để
sửa
đổi
hoặc
cải
cách
các
giáo
phận
theo
tiêu
chuẩn
liên
quan
đến
các
số
22-23,
mà
vẫn
giữ
trọn
kỷ
luật
của
các
Giáo
Hội
Đông
Phương,
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
có
thẩm
quyền
phải
cứu
xét
những
công
việc
trên
cho
mỗi
lãnh
thổ
riêng
của
mình
bằng
cách
nhờ
đến
Tiểu
Ban
Giám
Mục
đặc
biệt,
nếu
thấy
điều
đó
thích
hợp,
nhưng
nhất
là
luôn
luôn
biết
nghe
các
Giám
Mục
trong
giáo
tỉnh
hay
giáo
miền
liên
hệ
và
sau
đó
phải
đệ
trình
những
ý
kiến
và
nguyện
vọng
của
mình
lên
Tòa
Thánh.
III.
Các
cộng
sự
viên
của
Giám
Mục
giáo
phận
trong
phận
sự
mục
vụ
1.
Giám
Mục
Phó
và
Giám
Mục
Phụ
Tá
25.
Trong
việc
điều
khiển
giáo
phận,
cần
phải
lo
liệu
cho
phận
sự
mục
vụ
của
các
Giám
Mục
thế
nào
để
ích
lợi
cho
đoàn
chiên
Chúa
luôn
luôn
là
qui
tắc
tối
cao.
Để
ích
lợi
đó
được
thể
hiện
đúng
mức,
nhiều
khi
cần
phải
thiết
lập
các
Giám
Mục
Phụ
Tá,
vì
Giám
Mục
giáo
phận
một
mình
không
thể
chu
toàn
mọi
phận
vụ
giám
mục
như
ích
lợi
các
linh
hồn
đòi
hỏi
;
hoặc
do
giáo
phận
quá
rộng
lớn,
nhân
số
quá
đông,
hoặc
do
những
hoàn
cách
đặc
biệt
của
hoạt
động
tông
đồ
hay
vì
nhiều
lý
do
khác.
Hơn
nữa,
đôi
khi
nhu
cầu
đặc
biệt
đòi
hỏi
phải
thiết
lập
Giám
Mục
Phó
để
giúp
đỡ
Giám
Mục
giáo
phận.
Các
Giám
Mục
Phó
và
Giám
Mục
Phụ
Tá
đó
phải
được
những
đặc
quyền
thích
hợp
sao
cho
trong
khi
vẫn
giữ
được
sự
duy
nhất
của
việc
điều
khiển
giáo
phận
và
duy
trì
quyền
Giám
Mục
giáo
phận,
các
ngài
hành
động
thêm
hữu
hiệu
hơn
và
chức
phẩm
riêng
của
các
Giám
Mục
được
bảo
toàn
hơn.
Ngoài
ra,
vì
được
mời
gọi
chia
xẻ
mối
lo
lắng
của
Giám
Mục
giáo
phận,
các
Giám
Mục
Phó
và
Giám
Mục
Phụ
Tá
phải
thi
hành
nhiệm
vụ
của
mình
làm
sao
cho
hoạt
động
được
hiệp
nhất
với
Giám
Mục
giáo
phận
trong
mọi
công
việc.
Hơn
nữa,
các
Ngài
phải
tỏ
lòng
tuân
phục
và
kính
trọng
Giám
Mục
giáo
phận.
Còn
phần
Giám
Mục
giáo
phận
cũng
hãy
lấy
tình
huynh
đệ
mà
yêu
mến
và
kính
nể
các
Giám
Mục
Phó
và
Giám
Mục
Phụ
Tá.
26.
Khi
ích
lợi
các
linh
hồn
đòi
hỏi,
Giám
Mục
giáo
phận
đừng
ngần
ngại
thỉnh
nguyện
Thẩm
Quyền
thiết
lập
một
hay
nhiều
Giám
Mục
Phụ
Tá,
là
những
người
được
đặt
lên
để
giúp
giáo
phận
nhưng
không
có
quyền
kế
vị.
Nếu
văn
thư
bổ
nhiệm
không
tiên
liệu
gì,
Giám
Mục
giáo
phận
hãy
đặt
một
hay
nhiều
Giám
Mục
Phụ
Tá
của
mình
làm
Tổng
Đại
Diện,
hoặc
ít
ra
làm
Đại
Diện
Giám
Mục
và
chỉ
tùy
thuộc
quyền
ngài.
Ngài
hãy
vui
lòng
tham
khảo
ý
kiến
các
vị
đó
khi
cần
cân
nhắc
những
vấn
đề
khá
quan
trọng,
nhất
là
những
vấn
đề
có
tính
cách
mục
vụ.
Trừ
khi
Thẩm
Quyền
quyết
định
cách
khác,
những
quyền
hành
và
đặc
quyền
do
luật
đình
cho
các
Giám
Mục
Phụ
Tá
sẽ
không
chấm
dứt
với
chức
vụ
của
Giám
Mục
giáo
phận.
cũng
mong
ước
rằng
lúc
trống
tòa,
nhiệm
vụ
điều
khiển
giáo
phận
được
trao
cho
Giám
Mục
Phụ
Tá,
hay
nếu
có
nhiều
thì
trao
cho
một
vị
trong
các
Ngài,
trừ
khi
có
những
lý
do
quan
trọng
khuyên
nên
làm
cách
khác.
Giám
Mục
Phó,
là
Đấng
được
bổ
nhiệm
với
quyền
kế
vị,
luôn
luôn
phải
được
Giám
Mục
giáo
phận
đặt
làm
Tổng
Đại
Diện.
Trong
những
trường
hợp
đặc
biệt,
Ngài
còn
có
thể
được
Thẩm
Quyền
ban
cho
những
đặc
quyền
rộng
hơn.
Để
ích
lợi
hiện
tại
và
tương
lai
của
giáo
phận
được
bảo
đảm
cách
hết
sức
hoàn
hảo,
Giám
Mục
và
Giám
Mục
Phó
của
Ngài
đừng
quên
tham
khảo
ý
kiến
lẫn
nhau
trong
những
vấn
đề
khá
quan
trọng.
2.
Giáo
Phủ
và
các
Ủy
Ban
Giáo
Phận.
27.
Trong
Giáo
Phủ
của
giáo
phận,
chức
vụ
của
vị
Tổng
Đại
Diện
nổi
bật
nhất.
Mỗi
khi
việc
điều
hành
chu
đáo
giáo
phận
đòi
hỏi,
Giám
Mục
có
thể
đặc
cử
một
hay
nhiều
vị
Đại
Diện
Giám
Mục.
Các
vị
này
đương
nhiên
được
hưởng
quyền
mà
luật
chung
ban
cho
vị
Tổng
Đại
Diện
trong
một
miền
được
xác
định
của
giáo
phận
hay
trong
một
số
công
việc
đích
xác,
hoặc
đối
với
các
tín
hữu
thuộc
một
nghi
lễ
nhất
định.
Trong
số
các
cộng
sự
viên
giúp
Giám
Mục
điều
hành
giáo
phận,
phải
kể
tới
các
linh
mục
thuộc
thành
phần
của
hội
đồng
hay
ủy
ban
của
ngài
như
kinh
sỹ
hội
chánh
tòa,
hội
đồng
tư
vấn
hay
ủy
ban
khác
tùy
theo
hoàn
cảnh
và
đặc
tính
của
các
địa
phương
khác
nhau.
Những
tổ
chức
này,
nhất
là
kinh
sỹ
hội
chánh
tòa,
khi
cần
thiết
còn
phải
tùy
thuộc
một
thể
thức
mới
thích
hợp
với
nhu
cầu
hiện
đại.
Linh
mục
và
giáo
dân
thuộc
về
Giáo
Phủ
giáo
phận
hãy
biết
rằng
mình
cộng
tác
với
Giám
Mục
vào
thừa
tác
vụ
mục
vụ.
Giáo
Phủ
giáo
phận
phải
được
tổ
chức
thế
nào
để
trở
thành
dụng
cụ
thích
hợp
cho
Giám
Mục,
không
những
để
cai
quản
giáo
phận,
nhưng
còn
để
thi
hành
các
việc
tông
đồ
nữa.
Tha
thiết
mong
ước
rằng
mỗi
giáo
phận
nên
thành
lập
một
Ủy
Ban
mục
vụ,
do
chính
Giám
Mục
giáo
phận
làm
chủ
tịch,
và
thành
phần
là
giáo
sĩ,
tu
sĩ
và
giáo
dân
được
tuyển
chọn
đặc
biệt.
Nhiệm
vụ
của
Ủy
Ban
là
thăm
dò
những
gì
liên
hệ
tới
công
việc
mục
vụ,
cân
nhắc
và
đưa
ra
những
kết
luận
thực
tế
về
những
việc
đó.
3.
Giáo
Sĩ
Giáo
Phận
28.
Tất
cả
các
linh
mục
giáo
phận
cũng
như
linh
mục
dòng
đều
cùng
Giám
Mục
tham
dự
và
thi
hành
một
chức
linh
mục
của
Chúa
Kitô,
và
do
đó
các
ngài
thành
những
người
cộng
tác
khôn
ngoan
của
Hàng
Giám
Mục.
Tuy
nhiên
trong
việc
coi
sóc
các
linh
hồn,
các
linh
mục
giữ
vai
trò
số
một,
vì
khi
gia
nhập
hay
là
liên
kết
với
Giáo
Hội
địa
phương,
các
ngài
hiến
toàn
thân
phục
vụ
Giáo
Hội
ấy
để
chăn
dắt
một
phần
đoàn
chiên
Chúa
;
vì
thế
các
ngài
làm
thành
một
linh
mục
đoàn
và
một
gia
đình
mà
Giám
Mục
là
người
cha.
Để
sắp
đặt
các
thừa
tác
vụ
thánh
nơi
các
linh
mục
của
mình
một
cách
thích
hợp
và
công
bình
hơn,
Giám
Mục
phải
được
hưởng
quyền
tự
do
cần
thiết
trong
việc
trao
phó
các
nhiệm
vụ
hoặc
ân
bổng,
nên
phải
huỷ
bỏ
những
quyền
lợi
hoặc
đặc
ân
hạn
chế
quyền
tự
do
đó
bằng
bất
cứ
cách
nào.
Những
liên
hệ
giữa
Giám
Mục
và
các
linh
mục
giáo
phận
phải
dựa
trên
những
mối
dây
bác
ái
hoàn
toàn
siêu
nhiên,
để
sự
đồng
tâm
nhất
trí
giữa
hàng
linh
mục
và
Giám
Mục
làm
cho
hành
động
mục
vụ
của
mình
được
phong
phú
hơn.
Vì
thế,
để
cổ
võ
việc
phục
vụ
các
linh
hồn
mỗi
ngày
một
hơn,
Giám
Mục
nên
mời
gọi
các
linh
mục
đối
thoại
riêng
và
chung
nữa,
nhất
là
về
vấn
đề
mục
vụ,
không
những
khi
thuận
tiện,
mà
còn
nên
ấn
định
thời
gian
nếu
có
thể.
Ngoài
ra,
tất
cả
các
linh
mục
giáo
phận
hãy
hợp
nhất
với
nhau
và
nhờ
thế
được
thúc
đẩy
lo
lắng
cho
ích
lợi
thiêng
liêng
của
toàn
giáo
phận.
Hơn
nữa,
các
ngài
hãy
nhớ
rằng,
những
của
cải
mình
có
được
kho
nhận
chức
vụ
trong
Giáo
Hội
đều
liên
hệ
với
nhiệm
vụ
thánh,
nên
các
ngài
hãy
tùy
sức
mà
quảng
đại
giúp
đỡ
những
nhu
cầu
vật
chất
của
giáo
phận,
theo
như
sự
quy
định
của
Giám
Mục.
29.
Những
cộng
sự
viên
thân
cận
hơn
của
Giám
Mục
là
chính
những
linh
mục
mà
ngài
đã
ủy
thác
nhiệm
vụ
mục
vụ
hay
hoạt
động
tông
đồ
có
tính
cách
liên
xứ
liên
quan
đến
hoặc
với
một
khu
vực
nhất
định
trong
giáo
phận,
hoặc
với
một
cộng
đoàn
giáo
dân
riêng
biệt
hay
một
loại
hoạt
động
đặc
biệt.
Các
linh
mục
được
Giám
Mục
trao
phó
những
nhiệm
vụ
tông
đồ
khác
nhau,
như
làm
việc
ở
trường
học,
hay
trong
các
tổ
chức
khác
hoặc
các
hiệp
hội,
cũng
góp
phần
cộng
tác
rất
quý
báu.
Cả
những
linh
mục
phụ
trách
các
công
việc
liên
giáo
phận,
vì
thi
hành
các
công
cuộc
tông
đồ
quan
trọng,
nên
đáng
được
săn
sóc
đặc
biệt,
nhất
là
bởi
Giám
Mục
mà
họ
ở
trong
giáo
phận
của
ngài.
30.
Với
một
danh
hiệu
đặc
biệt
các
linh
mục
chính
xứ
là
những
cộng
sự
viên
của
Giám
Mục
:
các
ngài
được
ủy
thác
việc
săn
sóc
các
linh
hồn
như
những
chủ
chăn
riêng
trong
một
khu
vực
nhất
định
thuộc
giáo
phận
dưới
quyền
Giám
Mục.
1)
Trong
khi
săn
sóc
các
linh
hồn
như
thế
các
linh
mục
chính
xứ
cùng
với
các
phụ
tá
của
mình
phải
chu
toàn
nhiệm
vụ
giáo
huấn,
thánh
hóa
và
cai
quản
sao
cho
các
tín
hữu
và
cộng
đoàn
giáo
xứ
cảm
thấy
mình
thực
sự
là
những
phần
tử
của
giáo
phận
cũng
như
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Vì
thế
các
ngài
cũng
phải
cộng
tác
với
những
linh
mục
chính
xứ
khác,
cả
với
những
linh
mục
thi
hành
phận
sự
mục
vụ
trong
địa
hạt
(thí
dụ
như
các
Linh
Mục
Quản
Hạt,
các
Linh
Mục
Niên
Trưởng),
hoặc
phụ
trách
những
công
việc
có
tính
cách
liên
xứ,
để
việc
mục
vụ
trong
địa
phận
không
mất
vẻ
duy
nhất
và
trở
nên
hữu
hiệu
hơn.
Ngoài
ra,
việc
săn
sóc
các
linh
hồn
luôn
luôn
phải
được
thấm
nhuần
tinh
thần
truyền
giáo
làm
sao
để
lan
rộng
cách
thích
đáng
tới
mọi
người
sống
trong
giáo
xứ.
Nếu
các
linh
mục
chính
xứ
không
thể
đến
với
một
số
nhóm
người,
các
Ngài
phải
kêu
gọi
những
người
khác
kể
cả
giáo
dân,
phụ
giúp
đặc
biệt
để
họ
có
thể
trợ
lực
các
ngài
trong
những
việc
tông
đồ.
Để
việc
săn
sóc
các
linh
hồn
hữu
hiệu
hơn,
đời
sống
chung
của
các
linh
mục,
đặc
biệt
là
các
linh
mục
trong
cùng
một
giáo
xứ,
được
tha
thiết
khuyến
khích,
vì
một
đời
sống
như
thế
vừa
hỗ
trợ
hoạt
động
tông
đồ,
vừa
nêu
gương
bác
ái
và
đoàn
kết
cho
giáo
hữu.
2)
Trong
khi
thi
hành
nhiệm
vụ
giáo
huấn,
các
linh
mục
chính
xứ
có
bổn
phận
phải
rao
giảng
lời
Chúa
cho
mọi
Kitô
hữu,
để
khi
đã
được
đâm
rễ
sâu
trong
đức
tin,
đức
cậy,
đức
ái,
họ
lớn
lên
trong
Chúa
Kitô,
và
cộng
đoàn
Kitô
giáo
làm
chứng
về
đức
ái
mà
Chúa
đã
truyền
dạy
17
;
các
ngài
cũng
phải
dạy
giáo
lý
để
giúp
giáo
hữu
tùy
từng
lứa
tuổi
được
thấu
triệt
mầu
nhiệm
cứu
rỗi.
Trong
việc
dạy
giáo
lý
trên,
không
những
các
ngài
phải
xin
các
tu
sĩ
giúp
đỡ,
mà
còn
yêu
cầu
cả
giáo
dân
cộng
tác
nữa
bằng
cách
thiết
lập
Hiệp
Hội
Giáo
Thuyết
Kitô
Giáo.
Trong
khi
hoàn
thành
công
việc
thánh
hóa,
các
linh
mục
chính
xứ
hãy
lo
lắng
để
việc
cử
hành
Hy
Tế
Thánh
Thể
phải
là
trọng
tâm
và
tuyệt
đỉnh
của
toàn
thể
đời
sống
cộng
đoàn
Kitô
giáo
;
các
ngài
hãy
nỗ
lực
để
tín
hữu
được
lương
thực
thiêng
liêng
nuôi
dưỡng
nhờ
sốt
sắng
siêng
năng
lãnh
nhận
các
bí
tích,
cũng
như
tham
dự
Phụng
Vụ
cách
ý
thức
và
sống
động.
các
ngài
cũng
hãy
nhớ
rằng
Bí
Tích
Giải
Tội
hỗ
trợ
rất
nhiều
cho
đời
sống
Kitô
giáo
;
vì
thế
các
ngài
phải
tỏ
ra
sẵn
sàng
ngồi
tòa
giải
tội
cho
tín
hữu,
trong
trường
hợp
cần
thiết
còn
phải
mời
các
linh
mục
thông
thạo
những
ngôn
ngữ
khác
tới
giúp
đỡ
nữa.
Trong
khi
chu
toàn
nhiệm
vụ
chủ
chăn,
trước
tiên
các
linh
mục
chính
xứ
hãy
quan
tâm
tìm
hiểu
đoàn
chiên
riêng
của
mình.
Vì
là
kẻ
phục
vụ
hết
mọi
con
chiên,
các
ngài
hãy
giúp
cho
đời
sống
Kitô
giáo
được
thăng
tiến
nơi
từng
giáo
hữu,
trong
gia
đình,
trong
các
hiệp
hội
đặc
biệt
liên
hệ
tới
việc
tông
đồ
và
cả
trong
toàn
thể
cộng
đoàn
giáo
xứ.
Vì
thế
các
ngài
hãy
thăm
viếng
các
gia
đình
và
trường
học
như
phận
sự
mục
vụ
đòi
hởi
;
các
ngài
hãy
nhiệt
thành
lo
cho
các
thanh
thiếu
niên
;
các
ngài
hãy
lấy
tình
phụ
tử
bao
bọc
những
người
nghèo
khổ,
bệnh
tật
;
sau
cùng
các
ngài
hãy
đặc
biệt
lo
lắng
cho
thợ
thuyền
và
nỗ
lực
làm
cho
các
tín
hữu
trợ
giúp
vào
công
cuộc
tông
đồ.
3)
Các
linh
mục
phó
xứ
là
những
cộng
sự
viên
của
linh
mục
chính
xứ,
hằng
ngày
các
ngài
góp
phần
cộng
tác
quý
giá
và
sống
động
vào
việc
thi
hành
phận
sự
mục
vụ
dưới
quyền
linh
mục
chính
xứ.
Vì
thế,
giữa
linh
mục
chính
xứ
và
các
linh
mục
phó
xứ
của
ngài,
phải
có
những
liên
lạc
huynh
đệ
luôn
bác
ái
và
kính
trọng
nhau,
tương
trợ
lẫn
nhau,
bằng
những
lời
khuyên
nhủ,
giúp
đỡ
và
gương
mẫu,
đồng
tâm
hiệp
ý
và
hăng
say
lo
lắng
cho
giáo
xứ.
31.
Để
phán
đoán
năng
khiếu
linh
mục
trong
việc
điều
hành
giáo
xứ,
Giám
Mục
hãy
chú
ý
tới
không
những
học
thức,
nhưng
còn
cả
lòng
đạo
đức,
lòng
nhiệt
thành
trong
việc
tông
đồ,
các
tài
năng
cũng
như
những
đức
tính
khác
cần
để
thi
hành
đúng
mức
việc
săn
sóc
các
linh
hồn.
Ngoài
ra,
vì
ích
lợi
các
linh
hồn
phải
là
lý
do
toàn
diện
của
nhiệm
vụ
giáo
xứ,
nên
để
Giám
Mục
có
thể
tiến
hành
việc
xếp
đặt
các
giáo
xứ
dễ
dàng
và
thích
hợp
hơn,
ngoại
trừ
quyền
lợi
của
các
giáo
sĩ
Dòng
Tu,
phải
bãi
bỏ
mọi
quyền
giới
thiệu,
bổ
nhiệm
hay
ưu
tiên,
kể
cả
luật
thi
tuyển
chung
hoặc
riêng
nếu
nơi
nào
có
luật
ấy.
Trong
giáo
xứ
của
mình,
mỗi
linh
mục
chính
xứ
còn
được
quyền
tại
chức
lâu
bền
như
ích
lợi
của
các
linh
hồn
đòi
hỏi.
Vì
vậy,
sau
khi
bãi
bỏ
việc
phân
biệt
các
linh
mục
chính
xứ
cố
định
và
linh
mục
chính
xứ
khả
dịch,
nên
xét
lại
và
đơn
giản
hoá
thể
thức
thuyên
chuyển
và
thay
đổi
các
linh
mục
chính
xứ,
để
nhờ
đó
Giám
Mục
vừa
duy
trì
sự
công
bằng
theo
tự
nhiên
và
theo
giáo
luật,
vừa
có
thể
đáp
ứng
thích
hợp
hơn
với
nhu
cầu
mà
ích
lợi
các
linh
hồn
đòi
hỏi.
Các
linh
mục
chính
xứ,
vì
tuổi
già
hoặc
vì
lý
do
nghiêm
trọng
khác,
không
thể
chu
toàn
chức
vụ
đúng
mức
và
hữu
hiệu,
nên
thiết
tha
yêu
cầu
các
linh
mục
đó
tự
ý
hoặc
do
Giám
Mục
khuyến
cáo,
xin
từ
chức.
Giám
Mục
hãy
trợ
cấp
xứng
đáng
cho
những
vị
đã
từ
chức.
32.
Cuối
cùng,
cũng
chính
sự
cứu
rỗi
các
linh
hồn
phải
là
lý
do
để
xác
định
hoặc
thừa
nhận
việc
thiết
lập
hay
việc
huỷ
bỏ
các
giáo
xứ
hoặc
những
thay
đổi
tương
tự
khác
mà
chỉ
Giám
Mục
mới
có
thể
tự
quyền
thực
hiện.
4.
Các
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
33.
Tất
cả
những
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
mà
những
điều
sau
đây
bàn
đến,
là
những
người
đã
tuyên
hứa
theo
những
lời
khuyên
Phúc
Âm
trong
các
Tu
Hội,
tuỳ
theo
ơn
gọi
riêng
của
mỗi
Tu
Hội,
có
nhiệm
vụ
tận
lực
và
chuyên
cần
gắng
sức
xây
dựng
phát
triển
toàn
diện
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
và
mưu
cầu
ích
lợi
cho
các
Giáo
Hội
địa
phương.
Họ
buộc
phải
theo
đuổi
những
mục
đích
đó
trước
hết
bằng
lời
cầu
nguyện,
các
việc
thống
hối
và
bằng
gương
mẫu
đời
sống
cá
nhân.
Thánh
Công
Đồng
cũng
thiết
tha
khuyến
khích
họ
luôn
luôn
quý
mến
và
siêng
năng
thực
hiện
các
việc
ấy.
Nhưng,
tuỳ
theo
đặc
tính
của
mỗi
Dòng
Tu,
các
tu
sĩ
còn
phải
tận
lực
tham
gia
các
công
việc
tông
đồ
bên
ngoài.
34.
Những
linh
mục
dòng
tu
được
thánh
hiến
thi
hành
chức
vụ
linh
mục,
để
chính
họ
trở
thành
những
cộng
sự
viên
khôn
ngoan
của
Hàng
Giám
Mục,
ngày
nay
có
thể
giúp
đỡ
các
Giám
Mục
nhiều
hơn,
trước
nhu
cầu
gia
tăng
của
các
linh
hồn.
Như
thế,
xét
theo
phương
diện
nào
đó,
phải
nói
rằng
các
Ngài
thực
sự
liên
hệ
với
hàng
giáo
sĩ
giáo
phận,
vì
cùng
chia
xẻ
công
việc
săn
sóc
các
linh
hồn
và
các
công
cuộc
tông
đồ
dưới
quyền
của
các
vị
Lãnh
Đạo
giáo
quyền.
Cả
những
thành
phần
khác
như
các
nam
hay
nữ
tu,
vì
lý
do
đặc
biệt,
đều
thuộc
về
gia
đình
giáo
phận,
cũng
giúp
đỡ
nhiều
cho
Hàng
Giáo
Phẩm
;
và
vì
nhu
cầu
tông
đồ
mỗi
ngày
một
gia
tăng,
nên
họ
có
thể
và
phải
giúp
đỡ
mỗi
ngày
một
hơn.
35.
Để
hoạt
động
tông
đồ
trong
mỗi
giáo
phận
luôn
luôn
được
thực
hiện
một
cách
hoà
hợp
và
để
sự
duy
nhất
của
kỷ
luật
giáo
phận
được
bảo
toàn,
Thánh
Công
Đồng
quy
định
những
nguyên
tắc
căn
bản
sau
đây
:
1)
Tất
cả
các
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
phải
sốt
sắng
tuân
phục
và
kính
trọng
các
Giám
Mục
là
những
Đấng
kế
vị
các
Tông
Đồ.
Ngoài
ra,
mỗi
khi
được
mời
cách
hợp
pháp
tham
dự
các
hoạt
động
tông
đồ,
họ
buộc
phải
thi
hành
nhiệm
vụ
của
mình
sao
cho
thành
những
cộng
sự
viên
thường
trực
và
tùng
phục
Giám
Mục
18.
Nhất
là
các
tu
Sĩ
Dòng
Tu
hãy
mau
mắn
và
trung
thành
hưởng
ứng
lời
thỉnh
cầu
và
nguyện
vọng
của
các
Giám
Mục
để
lãnh
nhận
những
vai
trò
rộng
lớn
hơn
trong
nhiệm
vụ
cứu
rỗi
con
người,
nhưng
vẫn
duy
trì
đặc
tính
của
Tu
Hội
và
theo
đúng
Hiến
Pháp,
và
nếu
cần
Hiến
Pháp
đó
sẽ
được
thích
nghi
với
mục
đích
ấy,
theo
các
nguyên
tắc
trong
Sắc
Lệnh
này
của
Công
Đồng.
Nhất
là
vì
quan
tâm
đến
nhu
cầu
khẩn
cấp
của
các
linh
hồn
và
vì
thiếu
các
giáo
sĩ
giáo
phận,
nên
Giám
Mục
có
thể
kêu
gọi
những
Tu
Hội
không
hoàn
toàn
sống
đời
chiêm
niệm
giúp
đỡ
những
việc
mục
vụ
khác
nhau,
nhưng
vẫn
tuỳ
theo
đặc
tính
riêng
của
mỗi
Tu
Hội
;
để
giúp
đỡ
công
việc
trên,
các
Bề
Trên
phải
tuỳ
sức
hưởng
ứng
việc
lãnh
nhận
giáo
xứ
dù
là
tạm
thời.
2)
Còn
các
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
được
sai
đi
phụ
trách
hoạt
động
tông
đồ
ở
ngoài
vẫn
phải
thấm
nhuần
tinh
thần
của
Tu
Hội,
luôn
luôn
trung
thành
giữ
luật
và
vâng
phục
Bề
Trên
tu
hội.
Giám
Mục
đừng
quên
nhấn
mạnh
đến
nghĩa
vụ
này.
3)
Tính
chất
miễn
trừ-
bởi
đó
các
Tu
Sĩ
Dòng
thuộc
quyền
Đức
Giáo
Hoàng
hay
một
Thẩm
Quyền
khác
trong
Giáo
Hội
và
không
tuỳ
thuộc
quyền
của
các
Giám
Mục
-
đặc
biệt
liên
hệ
tới
tổ
chức
nội
bộ
của
các
Tu
Hội
để
mọi
việc
trong
các
Tu
Hội
trở
nên
thích
hợp
và
liên
lạc
chặt
chẽ
với
nhau
hơn
và
sự
tiến
bộ
cũng
như
sự
trọn
lành
của
đời
sống
dòng
tu
được
lo
lắng
tới
nhiều
hơn
19
;
cũng
để
Đức
Giáo
Hoàng
có
thể
sắp
đặt
các
tu
sĩ
dòng
tu
theo
ích
lợi
của
toàn
thể
Giáo
Hội
20
;và
để
Thẩm
Quyền
khác
phân
phối
hợp
với
lợi
ích
của
Giáo
Hội
thuộc
quyền.
Những
đặc
tính
miễn
trừ
ấy
không
ngăn
cản
việc
các
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
trong
mỗi
giáo
phận
tùng
phục
quyền
các
Giám
Mục
theo
giáo
luật,
như
việc
chu
toàn
phận
sự
mục
vụ
của
các
Ngài
và
việc
coi
sóc
các
linh
hồn
một
cách
đúng
mức
đòi
hỏi
21.
4)
Mọi
tu
sĩ,
miễn
trừ
và
không
miễn
trừ,
đều
phải
phục
tùng
các
Đấng
Bản
Quyền
địa
phương
trong
những
điều
liên
quan
tới
cách
cử
hành
công
khai
việc
thờ
phượng,
nhưng
vẫn
kính
trọng
vẻ
khác
biệt
của
các
Nghi
Thức,
trong
những
điều
liên
quan
tới
việc
coi
sóc
các
linh
hồn,
việc
giảng
huấn
thánh
cho
dân
chúng,
việc
giáo
dục
tôn
giáo
và
luân
lý
cho
các
Kitô
hữu,
đặc
biệt
là
cho
các
thiếu
nhi,
việc
tổ
chức
dạy
giáo
lý
và
huấn
luyện
phụng
vụ,
tư
cách
của
hàng
giáo
sĩ
và
cả
những
công
việc
khác
liên
hệ
tới
việc
thi
hành
hoạt
động
tông
đồ
thánh.
Những
học
đường
công
giáo
của
các
tu
sĩ
cũng
phải
thuộc
quyền
các
Đấng
Bản
Quyền
địa
phương
về
những
gì
liên
hệ
đến
tổ
chức
và
sự
chăm
sóc
chung,
tuy
nhiên
các
tu
sĩ
vẫn
nắm
quyền
điều
hành
các
trường
đó.
Cũng
thế,
các
Tu
Sĩ
Dòng
Tu
buộc
phải
tuân
giữ
tất
cả
những
gì
mà
các
Công
Đồng
hay
Hội
Đồng
Giám
Mục
ban
bố
cách
hợp
pháp
buộc
mọi
người
phải
giữ.
5)
Giữa
các
Tu
Hội
với
nhau,
cũng
như
giữa
các
Tu
Hội
với
hàng
giáo
sĩ
giáo
phận,
phải
khuyến
khích
việc
hợp
tác
có
tổ
chức.
nhất
là
phải
có
sự
phối
hợp
chặt
chẽ
giữa
mọi
công
việc
và
hoạt
động
tông
đồ,
nó
tuỳ
thuộc
ở ý
hướng
siêu
nhiên
của
tinh
thần
và
tâm
hồn,
đâm
rễ
sâu
và
xây
dựng
trên
đức
ái.
Toà
Thánh
có
nhiệm
vụ
lo
lắng
việc
phối
hợp
cho
toàn
thể
Giáo
Hội
;
còn
mỗi
Chủ
Chăn
lo
cho
giáo
phận
mình
;
sau
hết,
các
Thượng
Hội
Đồng
Giáo
Chủ
và
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
lo
cho
lãnh
thổ
mình.
Các
Giám
Mục
hay
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
và
các
Bề
Trên
Dòng
Tu,
hoặc
Hội
Đồng
các
Bề
Trên
Cả
hãy
vui
lòng
tiến
hành
việc
thảo
luận
chung
với
nhau
về
những
dự
án
các
công
việc
tông
đồ
do
các
tu
sĩ
thực
hiện.
6)
Để
đồng
một
lòng
tán
trợ
những
mối
tương
quan
giữa
các
Giám
Mục
và
các
Tu
Sĩ
cách
hữu
hiệu,
các
Giám
Mục
và
các
Bề
Trên
Dòng
Tu
hãy
vui
lòng
họp
lại
với
nhau
vào
những
kỳ
hạn
nhất
định,
và
mỗi
khi
thấy
thích
hợp,
để
thảo
luận
về
những
công
việc
có
liên
hệ
tổng
quát
hoạt
động
tông
đồ
tại
lãnh
thổ
mình.
CHÚ
THÍCH
1
Cf.
CONC.
VAT.II,
Decr.
De
Ecclesiis
Orlentalibus
Catholicis,
nn.
7-11.
2
Cf.
CONC.
TRID.,Sess.5,
Decr.
De
reform.,c.2:
MANSI
33,30;
Sess.
24,
Decr.
De
reform.,
c:
MANSI
33,
159
(
cf.
CONC.
VAT.II,
Const.
dogm.
De
Ecclesia,
n.
25.)
3
Cf.
CONC.
VAT.
II,
Const.
dogm.
De
Ecclesia,
n.
25.
4
Cf
IOANNES
XXIII,
encycl.
Pacem
in
terris,
11
apr.
1963,
passim:AAS
55
(1963),
pp.
257-304.
5
Cf.
PAULUS
VI,
encycl.
Ecclesiam
suam,
6
aug.
1964
:
AAS
56
(1964),
p.
639.
6
Cf.
Ibid.,
pp.
644-
645.
7
Cf.
CONC.
VAT
II,
Decr.
De
instrumentis
communicationis
socialis.
8
Cf.
CONC.
VAT
II,
const.
de
Sacra
Liturgia.
–
PAULUS
VI,
Motu
proprio
Sacram
Liturgiam,
25
ian.
1964:
AAS
56
(1964),
pp.
139
ss.
9
Cf.
PIUS
XII.
Encycl.
Mediator
Dei,
20
nov.
1947:
AAS
39
(1947),
pp.
251
ss,-
PAULUS
VI,
encycl.
Mysterium
Fidei,
3
sept.
1965.
10
Cf.
Act
1,
14
et
2,
46.
11
Cf.
CONC.
VAT.
II,
Const.
dogm.
De
Ecclesia,
n.
44-45.
12
Cf.
Lc.
22,
26-27.
13
Cf.
Io.
15,15.
14
Cf.
CONC.
VAT.II,
Decr.
De
Oecumenismo.
15
Cf.
S.
PIUS
X,
Motu
proprio
Tampridem,
19
mart.
1914:
AAS
6
(1914).
pp.
174
ss.
–
PIUS
XII,
const.
apost.
Exsul
Familia,
1
aug.
1952
:
AAS
44
(
1952),
pp.
652
ss.
;
Leges
Operis
Apostolatus
Maris,
auctoritate
Pii
XII
conditae.
21
nov.
1957:
AAS
50
(1958),
pp.
375
ss.
16
Cf.
CONC.
VAT.II,
Decr.
De
Ecclesiis
Orientalibus
Catholicis,
n.
4.
17
Cf.
Io.
13,
35.
18
Cf.
PIUS
XII,
allocutio,
8
dec.
1950:
AAS
43
(1951),
p.
28.
–
Cf.
etiam
PAULUS
VI,
allocutio,
23
maii
1964:
AAS
56
(1964),
p.
571.
19
Cf.
LEO
XIII,
const,
apost,
Romanos
Pontifices,
8
maii
1881:
Acta
Leonis
XIII,
vol.II
(1882),
p.234.
20
Cf.
PAULUS
VI,
allocutio,
23
maii
1964
:
AAS
56
(1964),
pp.
570-571.
21
Cf.
PIUS
XII,
allocutio,
8
dec.
1950:
1.c.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II