VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
5-
SẮC
LỆNH
HIỆP
NHẤT
(UNITATIS
REDINTEGRATIO)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Chương
III
Các
Giáo
Hội
Và
Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội
31*
Ly
Khai
Với
Tông
Tòa
Roma
13.
Phân
loại.
Giờ
đây,
chúng
ta
đưa
mắt
nhìn
đến
hai
khối
phân
ly
chính
xúc
phạm
đến
chiếc
áo
liền
một
tấm
của
Chúa
Kitô
32*.
Khối
phân
ly
thứ
nhất
đã
nẩy
sinh
ở
Ðông
Phương,
hoặc
vì
để
phản
đối
các
công
thức
tín
lý
của
các
Công
Ðồng
Ephêsô
33*
và
Calcedonia
34*,
hoặc
sau
này
vì
sự
cắt
đứt
35*
hiệp
thông
Giáo
Hội
giữa
các
Giáo
Chủ
Ðông
Phương
và
Tòa
Thánh
Roma.
Thứ
đến,
hơn
bốn
thế
kỷ
sau,
khối
phân
ly
thứ
hai
phát
sinh
ở
Tây
Phương
do
những
biên
cố
cùng
được
mệnh
danh
là
Cải
Cách.
Từ
đó,
nhiều
Cộng
Ðoàn,
quốc
gia
hoặc
giáo
đoàn
đã
ly
khai
với
Tòa
Thánh
Roma.
Trong
số
ấy
còn
có
những
Cộng
Ðồng
duy
trì
phần
nào
những
truyền
thống
và
cơ
cấu
công
giáo,
đáng
kể
nhất
là
Cộng
Ðoàn
Anh
Giáo.
Các
mối
chia
rẽ
ấy
rất
khác
nhau
chẳng
những
về
nguồn
gốc,
không
gian
và
thời
gian,
nhưng
nhất
là
về
bản
chất
và
tầm
quan
trọng
của
các
vấn
đề
liên
hệ
đến
đức
tin
và
cơ
cấu
Giáo
Hội.
Vì
thế,
tuy
không
coi
thường
những
hoàn
cảnh
dị
biệt
của
các
Cộng
Ðoàn
Kitô
hữu
khác
nhau
ấy,
tuy
không
bỏ
qua
những
mối
liên
lạc
còn
đang
nối
kết
họ
với
nhau,
bất
chấp
những
mối
chia
rẽ
hiện
có,
Thánh
Công
Ðồng
này
quyết
định
đề
ra
những
nhận
định
sau
đây
để
mọi
người
biết
khôn
ngoan
hành
động
mưu
cầu
hiệp
nhất.
I.
Nhận
Ðịnh
Ðặc
Biệt
Về
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
14.
Tính
chất
lịch
sử
riêng
biệt
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Trong
nhiều
thế
kỷ,
các
Giáo
Hội
Ðông
và
Tây
Phương
đã
đi
theo
đường
lối
riêng
của
mình,
nhưng
vẫn
liên
kết
với
nhau
trong
tình
huynh
đệ
nhờ
hiệp
thông
trong
đức
tin
và
đời
sống
bí
tích;
do
sự
thỏa
thuận
chung,
Tòa
Thánh
Roma
can
thiệp
mỗi
khi
các
Giáo
Hội
ấy
bất
đồng
quan
điểm
với
nhau
về
đức
tin
hay
về
kỷ
luật.
Thánh
Công
Ðồng
hân
hoan
nhắc
lại
cho
mọi
người
một
trong
những
điều
quan
trọng
là,
ở
Ðông
Phương
đang
phát
triển
nhiều
Giáo
Hội
riêng
biệt
hay
địa
phương
36*,
đứng
đầu
là
các
Giáo
Hội
có
Thượng
Phụ
37*,
trong
đó
có
nhiều
Giáo
Hội
hãnh
diện
vì
được
chính
các
Tông
Ðồ
thiết
lập
38*.
Vì
thế
các
tín
hữu
đông
phương
đã
và
đang
mang
nặng
mối
bận
tâm
và
âu
lo
duy
trì
những
liên
lạc
thân
hữu
trong
hiệp
thông
đức
tin
và
đức
ái,
là
những
liên
lạc
phải
có
giữa
các
Giáo
Hội
địa
phương
như
giữa
anh
em
ruột
thịt
39*.
Cũng
đừng
quên
rằng,
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
từ
khởi
đầu
đã
từng
có
một
kho
tàng
cống
hiến
cho
Giáo
Hội
Tây
Phương
nhiều
yếu
tố
về
phụng
vụ,
về
truyền
thống
tu
đức
và
luật
pháp.
Còn
một
sự
kiện
khác
không
nên
coi
thường
là,
những
tín
điều
căn
bản
về
đức
tin
Kitô
giáo
như
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi,
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
Nhập
Thể
bởi
Ðức
Trinh
Nữ
Maria,
đã
được
định
tín
trong
các
Công
Ðồng
Chung
khai
diễn
tại
Ðông
Phương
40*.
Các
Giáo
Hội
ấy
đã
và
đang
chịu
nhiều
khổ
đau
để
gìn
giữ
đức
tin
ấy.
Di
sản
do
các
Tông
Ðồ
truyền
lại
đã
được
đón
nhận
qua
nhiều
hình
thức
và
cách
thế
khác
nhau,
do
ngay
từ
thuở
ban
đầu
của
Giáo
Hội,
di
sản
ấy
cũng
được
giải
thích
khác
nhau
đây
đó
tùy
theo
thiên
tài
và
cảnh
sống
riêng.
Không
kể
những
nguyên
nhân
ngoại
tại,
bấy
nhiêu
yếu
tố
41*,
cộng
với
sự
thiếu
bác
ái
và
thông
cảm
lẫn
nhau,
đã
mở
đường
cho
nhiều
mối
chia
rẽ
phát
sinh.
Vì
vậy,
Thánh
Công
Ðồng
khuyến
dụ
mọi
người,
đặc
biệt
là
những
ai
muốn
hoạt
động
tái
lập
sự
hiệp
thông
trọn
vẹn
như
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
và
Giáo
Hội
Công
Giáo
hằng
mong
mỏi
hay
nhận
định
chính
xác
về
hoàn
cảnh
cá
biệt
đã
khai
sinh
và
phát
triển
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
và
về
đặc
tính
của
mối
liên
lạc
đã
có
giữa
các
Giáo
Hội
ấy
với
Tòa
Thánh
Roma
trước
thời
phân
ly
cũng
như
hãy
tạo
cho
mình
một
quan
niệm
chính
đáng
về
tất
cả
những
điểm
nêu
trên.
Chu
đáo
giữ
được
những
điều
ấy
là
đã
đóng
góp
rất
nhiều
cho
cuộc
đối
thoại
mong
muốn
kia
42*.
15.
Truyền
thống
phụng
vụ
và
tu
đức
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Mọi
người
đều
thấy
hiển
nhiên
là
các
tín
hữu
đông
phương
rất
mộ
mến
cử
hành
phụng
vụ
Thánh,
nhất
là
việc
cử
hành
Phép
Thánh
Thể,
nguồn
sống
của
Giáo
Hội
và
đảm
bảo
vinh
quang
đời
sau,
nhờ
đó
các
tín
hữu
hiệp
nhất
với
giám
mục
được
đến
gần
Thiên
Chúa
Cha,
nhờ
Chúa
Con
Ngôi
Lời
Nhập
Thể
đã
chịu
đau
khổ
và
được
hiển
vinh,
trong
ơn
tràn
trề
của
Chúa
Thánh
Thần
họ
được
thông
hiệp
cùng
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
rất
thánh
và
"thông
phần
bản
tính
Thiên
Chúa"
(2P
1,4).
Vì
vậy,
nhờ
việc
cử
hành
Thánh
Thể
trong
từng
Giáo
Hội
ấy,
Giáo
Hội
Thiên
Chúa
được
xây
dựng
và
bành
trướng
1,
và
sự
thông
hiệp
giữa
các
Giáo
Hội
ấy
tỏ
rõ
qua
việc
đồng
tế.
Trong
nghi
lễ
phụng
vụ
này,
Ðức
Maria
trọn
đời
đồng
trinh
hằng
được
các
tín
hữu
đông
phương
ca
ngợi
bằng
những
bài
thánh
ca
tuyệt
diệu.
Công
Ðồng
Chung
Ephêsô
đã
long
trọng
tuyên
bố
Ngài
là
Mẹ
Thiên
Chúa
Rất
Thánh,
để
Chúa
Kitô
được
nhận
thật
là
chính
Con
Thiên
Chúa
và
là
Con
Người
theo
Thánh
Kinh.
Họ
cũng
ca
tụng
nhiều
vị
thánh,
trong
số
ấy
có
các
Thánh
Giáo
Phụ
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Vì
các
Giáo
Hội
ấy,
mặc
dù
ly
khai,
vẫn
có
các
bí
tích
đích
thực
nhờ
sự
kế
vị
các
Tông
Ðồ,
nhất
là
Chức
Linh
Mục
và
Phép
Thánh
Thể,
bởi
đó,
họ
còn
liên
kết
chặt
chẽ
với
chúng
ta;
cho
nên
một
vài
hình
thức
thông
dự
vào
sự
thánh,
trong
những
trường
hợp
thuận
tiện
và
với
sự
chấp
thuận
của
giáo
quyền,
chẳng
những
là
có
thể
thực
hiện
mà
còn
đáng
khuyến
khích
nữa
43*.
Ở
Ðông
Phương
cũng
còn
thấy
nhiều
truyền
thống
tu
đức
phong
phú,
tiêu
biểu
nhất
là
đời
sống
đan
viện,
vì
tại
đây,
nền
tu
đức
đan
viện
đã
phát
triển
ngay
từ
thời
vang
son
của
các
Thánh
Giáo
Phụ,
và
về
sau,
còn
lan
tràn
sang
nhiều
nơi
ở
Tây
Phương.
Ðịnh
chế
dòng
tu
Latinh
phát
xuất,
và
sau
đó,
không
ngừng
nhận
được
sinh
lực
mới
từ
nền
tu
đức
ấy
như
từ
nguồn
mạch
của
mình.
Vì
vậy,
thiết
tha
kêu
mời
những
người
Công
Giáo
hãy
nâng
tìm
đến
kho
tàng
thiêng
liêng
của
các
Thánh
Giáo
Phụ
Ðông
Phương
hơn
vì
kho
tàng
ấy
nâng
toàn
thể
con
người
đến
chỗ
chiêm
ngưỡng
những
sự
thần
linh.
Mọi
người
đều
biết
rằng:
thông
hiểu,
kính
trọng,
giữ
gìn
và
phát
triển
di
sản
phụng
vụ
và
tu
đức
rất
phong
phú
của
các
tín
hữu
đông
phương
là
việc
tối
quan
trọng
để
trung
thành
bảo
toàn
truyền
thống
Kitô
giáo
và
để
thực
hiện
sự
giao
hòa
các
Kitô
hữu
đông
phương
với
tây
phương.
16.
Quy
luật
riêng
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Hơn
nữa,
ngay
từ
buổi
đầu,
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
đã
theo
những
qui
luật
riêng
được
các
Thánh
Giáo
Phụ,
các
Công
Ðồng
và
cả
các
Công
Ðồng
Chung
phê
chuẩn.
Vì
sự
khác
biệt
về
phong
tục
và
tập
quán
đã
nhắc
tới
trên
kia
chẳng
những
rất
ít
cản
trở
sự
hiệp
nhất
mà
còn
tăng
thêm
vẻ
đẹp
của
Giáo
Hội
và
góp
phần
không
nhỏ
vào
việc
chu
toàn
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội,
nên
để
đánh
tan
mọi
nghi
ngờ,
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố:
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
đang
khi
nhớ
đến
sự
hiệp
nhất
cần
thiết
của
toàn
thể
Giáo
Hội
44*,
vẫn
có
quyền
tự
trị
theo
các
kỷ
luật
riêng,
vì
điều
này
phù
hợp
với
đặc
tính
của
tín
hữu
họ
và
có
thể
mưu
ích
cho
các
linh
hồn
hơn.
Ðây
là
một
nguyên
tắc
truyền
thống
người
ta
thường
không
noi
giữ,
nhưng,
giữ
trọn
được
là
đã
thỏa
mãn
một
trong
những
điều
kiện
tối
cần
để
tái
lập
hiệp
nhất.
17.
Tính
chất
đặc
biệt
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
về
những
vấn
đề
giáo
lý.
Những
gì
đã
trình
bày
về
sự
dị
biệt
chính
đáng
trên
kia
cũng
áp
dụng
được
cho
những
phương
thức
trình
bày
giáo
thuyết
thần
học
khác
nhau.
Thực
thế,
trên
đường
đi
tìm
chân
lý
mạc
khải,
ở
đông
cũng
như
ở
tây
phương,
có
nhiều
phương
pháp
và
tiến
trình
khác
nhau
để
nhận
thức
và
tuyên
xưng
những
sự
thần
linh.
Do
đó,
không
đáng
ngạc
nhiên
khi
thấy
có
vài
khía
cạnh
của
mầu
nhiệm
mạc
khải
đôi
khi
được
một
bên
hiểu
đúng
và
trình
bày
sáng
sủa
hơn
bên
kia,
thành
thử
những
công
thức
thần
học
khác
nhau
ấy
phải
được
coi
là
bổ
túc
hơn
là
đối
lập
nhau.
Còn
về
những
truyền
thống
thần
học
chân
chính
của
các
tín
hữu
đông
phương,
phải
công
nhận
là
chúng
ăn
rễ
cách
tuyệt
hảo
trong
Thánh
Kinh,
lại
được
khai
triển
và
biểu
hiện
trong
đời
sống
PhụngVụ,
được
nuôi
dưỡng
bằng
truyền
thống
Tông
Ðồ,
sống
động
trong
các
văn
phẩm
của
các
Thánh
Giáo
Phụ
Ðông
Phương
cũng
như
của
các
tác
giả
tu
đức,
chúng
giúp
xây
dựng
một
cuộc
đời
chính
trực
và
giúp
chiêm
ngưỡng
đầy
đủ
chân
lý
Kitô
giáo.
Tạ
ơn
Chúa
vì
nhiều
tín
hữu
đông
phương
con
cái
Giáo
Hội
Công
Giáo
đang
sống
hoàn
toàn
hiệp
thông
45*
với
các
anh
em
thuộc
truyền
thống
tây
phương,
mà
vẫn
giữ
gìn
và
tha
thiết
sống
phần
gia
sản
ấy
cho
tinh
ròng
và
đầy
đủ
hơn,
Thánh
Công
Ðồng
này
tuyên
bố
rằng:
toàn
bộ
di
sản
tu
đức
và
phụng
vụ,
kỷ
luật
và
thần
học
trong
các
truyền
thống
ấy
thuộc
về
đặc
tính
công
giáo
và
tông
truyền
trọn
vẹn
của
Giáo
Hội.
18.
Kết
luận.
Sau
khi
nhắc
tất
cả
những
điều
ấy,
Thánh
Công
Ðồng
này
lập
lại
những
gì
đã
được
các
Thánh
Công
Ðồng
trước
cũng
như
các
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
tuyên
bố:
để
tái
lập
và
duy
trì
sự
thông
hảo
và
hiệp
nhất,
"chẳng
còn
buộc
anh
em
gánh
nặng
nào
khác
ngoài
những
sự
cần
thiết"
(CvSđ
15,28).
Công
Ðồng
cũng
tha
thiết
ước
mong
từ
đây,
mọi
cố
gắng
đều
nhằm
thực
hiện
dần
dần
sự
hiệp
nhất
46*
trong
những
định
chế
và
hình
thức
khác
nhau
của
đời
sống
Giáo
Hội,
nhất
là
trong
kinh
nguyện
và
đối
thoại
huynh
đệ
về
giáo
lý
và
về
các
nhu
cầu
mục
vụ
khẩn
thiết
hơn
của
thời
đại
chúng
ta.
Cũng
thế
Công
Ðồng
khuyên
các
chủ
chăn
và
tín
hữu
của
Giáo
Hội
Công
Giáo
hãy
giao
hảo
với
những
kẻ
không
còn
ở
đông
phương
nhưng
sống
xa
quê
nhà,
47*
để
gia
tăng
sự
cộng
tác
thân
ái
với
họ
hơn
trong
tinh
thần
bác
ái
và
loại
trừ
những
hình
thức
ganh
đua,
tranh
tụng.
Nếu
mọi
người
hết
lòng
xúc
tiến
công
cuộc
này,
Thánh
Công
Ðồng
hy
vọng
rằng,
sau
khi
bức
tường
ngăn
cách
Giáo
Hội
Ðông
Tây
bị
phá
đổ,
sẽ
chỉ
còn
ngôi
nhà
duy
nhất
được
củng
cố
trên
đá
góc
là
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ðấng
sẽ
làm
cho
cả
hai
nên
một
2.
II.
Các
Giáo
Hội
Và
Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội
Ly
Khai
Tây
Phương
19.
Tình
trạng
chung.
Các
Giáo
Hội
Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội
đã
ly
khai
với
Tông
Tòa
Roma
trong
thời
khủng
hoảng
trầm
trọng
nhất
phát
sinh
ở
Tây
Phương
từ
cuối
thời
Trung
Cổ
hoặc
mãi
về
sau
này,
vẫn
còn
liên
kết
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
bằng
một
mối
dây
thân
thích
và
một
sự
liên
lạc
đặc
biệt
vì
lớp
dân
Kitô
giáo
ấy
đã
sống
hiệp
thông
với
Giáo
Hội
rất
lâu
trong
những
thế
kỷ
trước.
Các
Giáo
Hội
và
Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội
ấy
vì
sự
dị
biệt
nguồn
gốc,
giáo
lý
và
đời
sống
tu
đức
chẳng
những
khác
với
chúng
ta
mà
còn
khác
biệt
với
nhau
nữa,
nên
rất
khó
diễn
tả
cho
đúng
các
Giáo
Hội
ấy
và
chúng
tôi
có
ý
làm
điều
ấy
nơi
đây.
Mặc
dù
phong
trào
hiệp
nhất
và
ước
vọng
sống
hòa
bình
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
chưa
được
đề
cao
khắp
nơi,
nhưng
chúng
tôi
cũng
hy
vọng
rằng
ý
thức
hiệp
nhất
và
sự
tôn
trọng
lẫn
nhau
sẽ
dần
lớn
lên
trong
mọi
người.
Phải
nhìn
nhận
rằng,
có
nhiều
dị
biệt
quan
trọng
giữa
các
Giáo
Hội
và
Cộng
Ðoàn
Giáo
Hội
ấy
với
Giáo
Hội
Công
Giáo,
chẳng
những
về
phương
diện
lịch
sử,
xã
hội,
tâm
lý,
văn
hóa,
nhưng
nhất
là
về
cách
giải
thích
chân
lý
mạc
khải.
Ðể
có
thể
thiết
lập
cuộc
đối
thoại
hiệp
nhất
dễ
dàng
hơn,
bất
chấp
những
dị
biệt
đó,
sau
đây
chúng
tôi
muốn
đề
ra
một
vài
điểm
có
thể
và
phải
là
nền
tảng
và
yếu
tố
thúc
đẩy
cho
cuộc
đối
thoại
ấy
48*.
20.
Việc
tuyên
xưng
Chúa
Kitô.
Chúng
tôi
đặc
biệt
nghĩ
đến
những
Kitô
hữu
đang
công
khai
tuyên
xưng
Chúa
Giêsu
Kitô
là
Chúa
và
là
Thiên
Chúa,
Ðấng
trung
gian
duy
nhất
giữa
Thiên
Chúa
và
loài
người,
để
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa
độc
nhất
là
Cha,
Con
và
Thánh
Thần.
Thực
ra
chúng
tôi
biết
nơi
họ
có
nhiều
khác
biệt
quan
trọng
với
giáo
lý
của
Giáo
Hội
Công
Giáo,
khác
biệt
ngay
cả
về
Chúa
Kitô
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
nhập
thể,
về
công
trình
cứu
chuộc,
và
do
đó,
về
mầu
nhiệm
và
chức
vụ
của
Giáo
Hội
cũng
như
về
vai
trò
của
Ðức
Maria
trong
công
cuộc
cứu
thế.
Nhưng
chúng
tôi
vui
mừng
khi
thấy
các
anh
em
ly
khai
hướng
về
Chúa
Kitô
như
là
nguồn
mạch
và
trung
tâm
của
sự
hiệp
thông
Giáo
Hội.
Xúc
động
vì
ước
vọng
kết
hiệp
với
Chúa
Kitô,
họ
được
thúc
đẩy
để
càng
ngày
càng
tìm
về
hiệp
nhất
và
làm
chứng
đức
tin
của
mình
khắp
muôn
dân
thiên
hạ.
21.
Học
hỏi
Thánh
Kinh.
Lòng
yêu
mến,
kính
trọng
và
gần
như
tôn
sùng
Thánh
Kinh
khiến
các
anh
em
của
chúng
ta
bền
chí
và
hăng
say
học
hỏi
Sách
Thánh:
vì
Phúc
Âm
"là
quyền
năng
Thiên
Chúa
để
cứu
rỗi
mọi
tín
hữu,
trước
tiên
là
Do
Thái,
kế
đến
Hy
Lạp"
(Rm
1,16).
Nhờ
cầu
khẩn
Thánh
Thần,
49*
họ
tìm
Thiên
Chúa
ngay
trong
Thánh
Kinh,
Ðấng
như
nói
với
họ
trong
Chúa
Kitô,
Ðấng
các
tiên
tri
loan
báo
trước
và
là
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
nhập
thể
vì
chúng
ta.
Trong
Thánh
Kinh,
họ
chiêm
ngưỡng
cuộc
đời
Chúa
Kitô
và
những
gì
Thầy
Chí
Thánh
đã
dạy
và
đã
làm
để
cứu
rỗi
loài
người,
họ
cũng
chiêm
ngưỡng
các
mầu
nhiệm,
nhất
là
mầu
nhiệm
sự
chết
và
phục
sinh
của
Người.
Tuy
các
Kitô
hữu
ly
khai
với
chúng
ta
xác
nhận
thần
quyền
của
Sách
Thánh,
nhưng
mỗi
người
mỗi
khác,
họ
cảm
nghĩ
khác
chúng
ta
về
sự
liên
quan
giữa
Thánh
Kinh
và
Giáo
Hội;
trong
đó
theo
đức
tin
công
giáo,
giáo
huấn
đích
thực
đặc
biệt
có
thẩm
quyền
trong
việc
giải
thích
và
rao
giảng
Lời
Chúa
đã
được
ghi
chép.
Tuy
nhiên
trong
chính
việc
đối
thoại,
Lời
Chúa
là
dụng
cụ
tuyệt
hảo
trong
bàn
tay
toàn
năng
của
Thiên
Chúa
để
đạt
tới
sự
hiệp
nhất
được
Ðấng
Cứu
Thế
tỏ
bày
cho
mọi
người.
22.
Các
bí
tích.
Nhờ
Phép
Rửa
được
ban
đúng
như
Chúa
đã
thiết
lập
và
được
lãnh
nhận
với
đủ
dự
kiện
tâm
hồn
cần
thiết,
con
người
thật
sự
được
tháp
nhập
vào
Chúa
Kitô
đã
chịu
đóng
đinh
và
vinh
hiển,
và
được
tái
sinh
để
thông
phần
sự
sống
Thiên
Chúa
theo
lời
Thánh
Tông
Ðồ:
"Anh
em
được
mai
táng
với
Người
trong
phép
Rửa,
anh
em
cũng
sẽ
được
sống
lại
với
Người
bởi
đã
tin
vào
Thiên
Chúa
tác
thành,
chính
Ðấng
đã
khiến
Người
từ
trong
kẻ
chết
sông
lại"
(Col
2,12)
3.
Vậy
phép
Rửa
tạo
nên
mối
dây
hiệp
nhất
tất
cả
những
kẻ
đã
được
tái
sinh.
Nhưng
phép
Rửa,
tự
bản
tính,
mới
chỉ
là
bắt
đầu
và
khởi
điểm,
vì
phép
Rửa
trọn
vẹn
nhằm
đạt
tới
sự
sống
sung
mãn
trong
Chúa
Kitô.
Như
thế,
phép
Rửa
qui
hướng
về
việc
tuyên
xưng
trọn
vẹn
đức
tin,
sát
nhập
trọn
vẹn
vào
định
chế
cứu
rỗi
như
chính
Chúa
Kitô
đã
muốn
và
sau
cùng
kết
nhập
trọn
vẹn
vào
sự
hiệp
thông
thánh
thể.
Những
cộng
đoàn
Giáo
Hội
ly
khai
với
chúng
ta,
mặc
dù
không
hiệp
nhất
đầy
đủ
với
chúng
ta
như
phép
Rửa
đòi
hỏi,
và
mặc
dù
chúng
ta
tin
họ
không
còn
giữ
được
bản
chất
đích
thực
và
nguyên
vẹn
của
Mầu
Nhiệm
Thánh
Thể
nhất
là
vì
thiếu
bí
tích
Truyền
Chứa
Thánh
50*,
nhưng
khi
tưởng
niệm
sự
chết
và
sự
sống
lại
của
Chúa
trong
Tiệc
Thánh
họ
đã
tuyên
xưng
rằng
sự
sống
chỉ
có
nghĩa
nhờ
hiệp
thông
với
Chúa
Kitô
và
họ
mong
đợi
ngày
trở
lại
vinh
quang
của
Người.
Do
đó,
phải
dùng
giáo
lý
về
Tiệc
Thánh
của
Chúa,
về
các
bí
tích
khác,
về
việc
phụng
tự
cũng
như
về
các
thừa
tác
vụ
của
Giáo
Hội
làm
đối
tượng
cho
cuộc
đối
thoại.
23.
Cuộc
sống
với
Chúa
Kitô.
Ðời
sống
Kitô
hữu
của
các
anh
em
ấy
được
nuôi
dưỡng
bằng
đức
tin
vào
Chúa
Kitô
và
được
duy
trì
nhờ
ân
sủng
của
phép
Rửa
và
nhờ
nghe
Lời
Thiên
Chúa.
Ðời
sống
ấy
biểu
lộ
trong
kinh
nguyện
riêng,
trong
việc
suy
niệm
Thánh
Kinh,
trong
đời
sống
gia
đình
Kitô
giáo,
trong
việc
phụng
tự
của
cộng
đoàn
tụ
họp
để
ngợi
khen
Thiên
Chúa.
Hơn
nữa,
đôi
khi
trong
các
nghi
lễ
phụng
tự
của
họ
cũng
thấy
có
những
yếu
tố
nổi
bật
thuộc
nền
phụng
vụ
cổ
kính
chung.
Ðức
tin
vào
Chúa
Kitô
đã
kết
quả
trong
những
lời
ngợi
khen
và
cảm
tạ
vì
các
ơn
lành
nhận
được
do
Chúa
ban;
thêm
vào
đó
là
ý
thức
mạnh
mẽ
về
đức
công
bình
và
tình
yêu
chân
thành
đối
với
tha
nhân.
Ðức
tin
sống
động
ấy
cũng
phát
sinh
nhiều
tổ
chức
nhằm
xoa
dịu
sự
cùng
khổ
tinh
thần
và
thể
xác,
giáo
dục,
tuổi
trẻ,
cải
tiến
những
hoàn
cảnh
xã
hội
của
cuộc
sống
thành
nhân
đạo
hơn
và
củng
cố
nền
hòa
bình
thế
giới.
Mặc
dù,
trước
các
vấn
đề
luân
lý,
có
nhiều
Kitô
hữu
không
luôn
hiểu
Phúc
Âm
cùng
một
cách
như
người
công
giáo
và
không
cùng
nhận
những
giải
pháp
giống
nhau
trước
những
vấn
đề
khó
khăn
của
xã
hội
hiện
đại.
Tuy
nhiên,
như
chúng
ta,
họ
cũng
muốn
giữ
vững
lời
Chúa
Kitô
như
là
nguồn
mạch
của
đức
hạnh
Kitô
giáo
và
tuân
theo
lời
Thánh
Tông
Ðồ
dạy:
"Hết
thảy
công
việc
anh
em
làm,
bất
cứ
lời
nói
hay
hành
động,
hãy
thực
hiện
tất
cả
nhân
danh
Chúa
Giêsu
Kitô
và
nhờ
Người
cảm
tạ
Thiên
Chúa
Cha"
(Col
3,17).
Từ
đó,
có
thể
bắt
đầu
cuộc
đối
thoại
hiệp
nhất
về
việc
áp
dụng
Phúc
Âm
vào
các
vấn
đề
luân
lý.
Kết
Luận
24.
Sau
khi
đã
vắn
tắt
trình
bày
những
điều
kiện
và
các
nguyên
tắc
chỉ
đạo
để
thực
hiện
công
cuộc
hiệp
nhất,
chúng
tôi
tin
tưởng
hướng
về
tương
lai.
Thánh
Công
Ðồng
này
khuyến
cáo
các
tín
hữu
hãy
tránh
mọi
sự
nhẹ
dạ
và
nhiệt
thành
thiếu
khôn
ngoan
có
thể
phương
hại
tới
việc
phát
triển
công
cuộc
hiệp
nhất.
Thật
vậy,
hoạt
động
hiệp
nhất
của
họ
không
thể
thành
tựu
được,
nếu
nó
không
hoàn
toàn
và
thực
sự
là
công
giáo,
nghĩa
là
trung
thành
với
chân
lý
do
các
Tông
Ðồ
và
các
Giáo
Phụ
51*
truyền
lại
và
phù
hợp
với
đức
tin
luôn
được
Giáo
Hội
Công
Giáo
tuyên
xưng,
đồng
thời
hướng
tới
sự
sung
mãn
nhờ
đó
Chúa
muốn
Thân
Thể
Người
được
lớn
lên
qua
các
thời
đại.
Thánh
Công
Ðồng
này
luôn
khẩn
khoản
ước
mong
cho
các
sáng
kiến
của
con
cái
Giáo
Hội
Công
Giáo
được
tiến
triển
hòa
hợp
với
các
sáng
kiến
của
anh
em
ly
khai
mà
không
cản
trở
đường
lối
của
Thiên
Chúa
Quan
Phòng,
cũng
như
không
gây
thiên
kiến
làm
phương
hại
đến
những
ơn
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đầy
sau
này.
52*
Hơn
nữa
Thánh
Công
Ðồng
cũng
tuyên
bố
là
mình
luôn
ý
thức
rằng
ý
nguyện
thánh
thiện
giao
hòa
toàn
thể
Kitô
hữu
trong
sự
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội
duy
nhất
và
độc
nhất
của
Chúa
Kitô
vượt
quá
sức
lực
và
khả
năng
loài
người.
Vì
thế,
Thánh
Công
Ðồng
đặt
hết
hy
vọng
vào
lời
Chúa
Kitô
nguyện
cầu
cho
Giáo
Hội,
vào
tình
thương
của
Chúa
Cha
đối
với
chúng
ta
và
vào
quyền
lực
của
Chúa
Thánh
Thần.
"Hy
vọng
không
bị
hổ
thẹn:
vì
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
giãi
khắp
lòng
ta
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
Ðấng
đã
được
ban
cho
ta"
(Rm
5,5).
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Sắc
Lệnh
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
21
tháng
11
năm
1964.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
31*
Tĩnh
từ
"Giáo
Hội"
(ecclesilis)
ở
đây
là
một
ngôn
từ
mới,
phát
xuất
từ
giáo
phái
Tin
Lành,
chỉ
một
điều
gì
liên
quan
đến
Giáo
Hội
trong
tư
thế
một
mầu
nhiệm
siêu
nhiên.
Theo
dụng
ngữ
công
giáo,
tiếng
này
không
bao
hàm
ý
tưởng
một
Giáo
Hội
thuần
túy
vô
hình
và
thiêng
liêng.
Chữ
"thuộc
Giáo
Hội"
(ecclesiasticus)
thường
chỉ
nghĩa
diều
gì
thuộc
riêng
của
Giáo
Hội
Công
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Sau
khi
đóng
đinh
Chúa
Kitô,
lúc
chia
nhau
y
phục
của
Người,
mấy
người
lính
chợt
nhận
thấy
tấm
áo
dài
liền
kim
không
có
đường
may
(Gio
19,23).
Ngay
từ
thời
sơ
khai
Kitô
giáo,
người
ta
đã
thấy
qua
tấm
áo
không
đường
may
này
một
hình
ảnh
của
Giáo
Hội
không
phân
rẽ
do
Chúa
Giêsu
Kitô
thiết
lập.
Nhưng
thực
tế
đã
có
nhiều
cộng
đoàn
Kitô
giáo
tách
rời
khỏi
Giáo
Hội
chân
thực
của
Chúa
Kitô,
và
như
vậy
mở
đường
cho
những
cuộc
phân
ly.
Trong
chương
này,
sắc
lệnh
lưu
ý
tới
hai
khối
phân
ly
chính:
một
ở
Ðông
Phương
và
một
ở
Tây
Phương
(gồm
Tin
Lành
và
Anh
Giáo).
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Công
Ðồng
Ephêsô
(năm
431)
đã
truyền
dạy
một
cách
bất
khả
ngộ
rằng
Chúa
Giêsu
Kitô
là
một
Ngôi
Vị
đơn
nhất,
Con
Thiên
Chúa
làm
người
và
Ðức
Maria
thật
sự
là
Mẹ
Thiên
Chúa.
Phái
Nestorianô
đã
chối
bỏ
những
chân
lý
ấy
và
tự
tách
khỏi
Giáo
Hội
phổ
quát.
(Trở
lại
đầu
trang)
34*
Công
Ðồng
Calcedonia
(năm
451)
tuyên
bố
rằng
Chúa
Giêsu
Kitô
là
Thiên
Chúa
thật
cũng
là
Người
thật
và
trong
Người
có
hai
bản
tính,
thần
tính
và
nhân
tính,
hoàn
hảo,
phân
biệt
chứ
không
hòa
trộn
lẫn
nhau.
Song
có
những
cộng
đoàn
địa
phương
quả
quyết
nơi
Chúa
Kitô
chỉ
có
một
bản
tính.
Ðó
là
những
người
theo
nhất
tính
thuyết,
họ
cũng
đã
ly
khai
khỏi
Giáo
Hội
Công
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
35*
Sự
cắt
đứt
này
đã
xảy
ra
năm
1054
khi
Ðặc
Sứ
của
Ðức
Giáo
Hoàng,
Hồng
Y
Humbert,
dứt
phép
thông
công
Thượng
Phụ
thành
Constantinopla
là
Micae
Cerulariô.
Ðáp
lại,
Thượng
Phụ
Cerulariô
cũng
dứt
phép
thông
công
vị
Ðặc
Sứ
đó
và
tách
khỏi
Roma.
Sự
cắt
đứt
này
đã
thành
toàn
diện
và
dứt
khoát
vào
thế
kỷ
XIII.
Ngày
7
tháng
12
năm
1965
tại
Roma,
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
và
tại
Constantinopla
Ðức
Thượng
Phụ
Athenagoras
long
trọng
hủy
bỏ
sự
dứt
phép
thông
công
lẫn
nhau
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
36*
Giáo
Hội
riêng
biệt
là
một
cộng
đoàn
hay
một
giáo
khu
gồm
mọi
tín
hữu
cùng
theo
một
lễ
chế
phụng
vụ,
cùng
giữ
một
quy
luật
giáo
hội
và
cùng
chịu
một
quyền
quản
trị
như
nhau.
Chỗ
này
chữ
"địa
phương"
hiểu
theo
nghĩa
rộng,
vì
một
Giáo
Hội
riêng
biệt
có
các
tín
đồ
ở
rải
rác
nhiều
nơi.
(Trở
lại
đầu
trang)
37*
Giáo
Hội
này
là
một
Giáo
Hội
riêng
biệt
mà
thủ
lãnh
là
một
thượng
phụ
như
Giáo
Hội
Nga,
Giáo
Hội
Constaninopla...
Hiện
nay,
có
ít
nhất
là
9
Giáo
Hội
có
Thượng
Phụ
thuộc
Ðông
Phương
ly
khai.
(Trở
lại
đầu
trang)
38*
Vì
dụ
như
Giáo
Hội
Giêrusalem
và
Antiokia.
(Trở
lại
đầu
trang)
39*
Những
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ly
khai
sống
độc
lập
nhau.
Họ
coi
nhau
như
những
Giáo
Hội
huynh
đệ,
không
có
và
không
nhận
một
thủ
lãnh
chung
trên
họ.
Trái
lại,
những
Giáo
Hội
riêng
biệt
(địa
phương)
Công
Giáo
lại
có
cùng
một
thủ
lãnh
cao
cấp
chung:
Ðức
Giáo
Hoàng.
Ngài
có
quyền
trên
tất
cả
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
riêng
biệt
Ðông
phương
cũng
như
Tây
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
40*
Những
điều
này
quy
chiếu
về
thời
các
Giáo
Hội
này
còn
liên
kết
với
Roma.
Lúc
ấy,
7
Công
Ðồng
Chung
đầu
tiên
đều
nhóm
họp
ở
phương
Ðông.
(Trở
lại
đầu
trang)
41*
Giáo
Hội
Ðông
Phương
càng
phát
triển,
những
người
Tây
Phương
càng
ít
cảm
thông
tâm
thức
Ðông
Phương,
cũng
như
ngược
lại;
sự
kiện
đó
đưa
tới
nhiều
hiểu
lầm
và
khi
thị
đáng
tiếc
ở
cả
hai
bên
và
khích
động
thêm
sự
chia
rẽ.
(Trở
lại
đầu
trang)
42*
Ðoạn
này
đề
cập
đến
những
Giáo
Hội
Ðông
Phương
không
công
giáo
(ly
khai),
không
nói
về
các
Giáo
Hội
liên
kết
với
Roma.
Công
Ðồng
đã
công
bố
một
sắc
lệnh
đặc
biệt
bàn
tới
những
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
nhan
đề
"Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương".
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Joanem,
Homelia,
XLVI:
PG
59,260-262.
(Trở
lại
đầu
trang)
43*
Những
tiêu
chuẩn
về
sự
tham
dự
hỗ
tương
trong
các
sinh
hoạt
tôn
giáo
này
đã
được
trình
bày
cặn
kẽ
trong
sắc
lệnh
về
những
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
(số
26-29).
(Trở
lại
đầu
trang)
44*
Toàn
thể
Giáo
Hội
chính
là
Giáo
Hội
phổ
quát
Công
Giáo,
Giáo
Hội
duy
nhất
Chúa
Kitô
sáng
lập.
Lúc
Ðông
Phương
còn
liên
kết
với
Tông
Tòa
Roma,
những
Giáo
Hội
riêng
biệt
Ðông
Phương
đã
hưởng
dụng
một
quyền
tự
trị
thật
đáng
kể.
Ðức
Giáo
Hoàng
ít
khi
can
thiệp
vào
việc
quản
trị
của
họ.
Sắc
lệnh
tuyên
bố
rằng
quyền
tự
trị
ấy
vẫn
được
duy
trì
nếu
họ
liên
kết
lại
với
Giáo
Hội
phổ
quát.
Sự
liên
kết
này
bao
hàm
việc
thừa
nhận
tối
thượng
quyền
nơi
Ðức
Giáo
Hoàng
kế
vị
thánh
Phêrô,
Ðại
Diện
tối
cao
của
Chúa
Kitô.
Tuy
nhiên
việc
thừa
nhận
ấy
vẫn
dung
hợp
tốt
đẹp
với
một
quyền
tự
trị
rất
lớn
của
các
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
45*
Nói
về
những
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương,
nghĩa
là
có
liên
kết
với
Roma.
(Trở
lại
đầu
trang)
46*
Những
dự
tính
liên
kết
giữa
Ðông
Phương
và
Giáo
Hội
Công
Giáo
của
Công
Ðồng
Lyon
II
và
Công
Ðồng
Firenze
đã
thất
bại,
bởi
vì
tâm
thức
tín
hữu
đông
phương
ly
khai
lúc
ấy
chưa
được
chuẩn
bị
sẵn
để
đón
nhận
việc
liên
kết.
Ở
đây
sắc
lệnh
nhắm
tới
việc
chuẩn
bị
tinh
thần
và
thiêng
liêng
cho
các
dân
tộc
Kitô
Giáo
Ðông
Phương
hầu
đạt
đến
một
mối
liên
kết
tốt
đẹp.
(Trở
lại
đầu
trang)
47*
Ðây
là
những
người
Ðông
Phương
không
công
giáo
di
trú
trong
nhiều
miền
khác
nhau
tại
Âu
Châu,
Mỹ
Châu.
Việc
họ
tiếp
xúc
với
người
công
giáo
tại
đó
có
thể
giúp
đôi
bên
xích
lại
dần
nhau
dễ
dàng
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
CÐ
Firenze,
khóa
VI
(1439),
Ðịnh
tín
Laetentur
caeli:
Mansi
31,
1026E.
(Trở
lại
đầu
trang)
48*
Trong
số
này
Sắc
Lệnh
chứng
tỏ
rằng
có
nhiều
điểm
dị
biệt
giữa
anh
em
"ly
giáo"
tây
Phương
và
Giáo
Hội
Công
Giáo
hơn
là
giữa
Ðông
Phương
ly
khai
và
Công
Giáo
Tây
Phương.
Do
đó
việc
liên
kết
càng
khó
khăn
hơn,
tuy
thế
cũng
cần
phải
mở
một
cuộc
đối
thoại.
Trong
những
số
tiếp
theo,
Sắc
Lệnh
nêu
lên
một
vài
học
thuyết
chung
có
thể
làm
khởi
điểm
cho
cuộc
đối
thoại
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
49*
Do
lời
yêu
cầu
Ðức
Phaolô
VI,
người
ta
thay
đổi
hai
điểm
trong
câu
này.
Thay
vì
tiếng
"được
tác
động
bởi
Chúa
Thánh
Thần"
bây
giờ
đổi
lại
thành
"Nhờ
cầu
khẩn
Chúa
Thánh
Thần",
và
chữ
"họ
tìm"
thay
thế
cho
"họ
gặp
thấy".
Sở
dĩ
thay
đổi
như
vậy
là
cốt
tránh
dáng
vẻ
chấp
nhận
giáo
thuyết
của
những
người
cải
cách.
Theo
giáo
thuyết
này,
mọi
tín
hữu
đều
được
Chúa
Thánh
thần
ban
cho
đầy
đủ
ánh
sáng
để
hiểu
thấu
ý
nghĩa
mạc
khải
của
Thánh
Kinh
và
để
nhờ
thế
gặp
thấy
Thiên
Chúa
trong
Sách
Thánh,
không
cần
nhờ
đến
quyền
Giáo
Huấn
của
Giáo
Hội.
Thực
sự,
người
ta
có
thể
gặp
được
Thiên
Chúa
trong
Sách
Thánh;
nhưng
không
gặp
Ngài
một
cách
tất
nhiên
và
trong
bất
cứ
lúc
nào;
lý
do
là
vì
những
ngăn
trở
về
tâm
tính
chủ
quan
người
ta
có
thể
không
gặp
thấy
Ngài.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Rm
6,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
50*
Những
cộng
đoàn
giáo
hội
Tin
Lành
không
có
bí
tích
Truyền
Chức
Thánh.
Vì
thế,
các
thừa
tác
viên
của
họ
không
có
quyền
thánh
hiến
bánh
rượu
thành
Mình
Máu
Chúa
Kitô.
Lễ
tiệc
ly
Tin
Lành
không
bao
hàm
sự
hiện
diện
thật
sự;
nó
không
phải
là
một
hy
lễ
đích
thực.
Do
đó,
anh
em
Tin
Lành
đã
không
bảo
tồn
được
"bản
chất
đích
thực
và
nguyên
vẹn
của
mầu
nhiệm
Thánh
Thể".
Công
thức
này
đã
được
Ðức
Phaolô
VI
minh
nhiên
ưng
thuận.
(Trở
lại
đầu
trang)
51*
Giáo
Phụ
là
những
văn
sĩ
công
giáo
thuộc
thời
kỳ
đầu
của
Giáo
Hội,
từ
thế
kỷ
I
thới
thế
kỷ
VIII.
(Trở
lại
đầu
trang)
52*
Ðoạn
này
bộc
lộ
niềm
hy
vọng
vào
tương
lai.
Ðường
lối
của
Chúa
Quan
Phòng
thật
lạ
lùng.
Người
ta
không
thể
biết
trước
những
ơn
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy.
Tuy
nhiên,
mỗi
tín
hữu
nói
riêng
và
mỗi
cộng
đồng
nói
chung
phải
luôn
luôn
tuyệt
đối
vâng
theo
Chúa
Thánh
Thần.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II