VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
5-
SẮC
LỆNH
HIỆP
NHẤT
(UNITATIS
REDINTEGRATIO)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Chương
II
Cách
Tham
Dự
Phong
Trào
Hiệp
Nhất
5.
Mọi
người
phải
lưu
tâm
đến
sự
hiệp
nhất.
Mối
bận
tâm
tái
lập
hiệp
nhất
liên
hệ
đến
toàn
thể
Giáo
Hội,
tín
hữu
cũng
như
chủ
chăn,
mỗi
người
đều
phải
lưu
tâm
tùy
theo
sức
riêng
của
mình,
hoặc
trong
đời
sống
Kitô
hữu
thường
nhật,
hoặc
trong
các
công
trình
khảo
cứu
thần
học
và
sử
học.
19*
Nỗi
bận
tâm
này
chứng
tỏ
một
phần
nào
sự
liên
kết
huynh
đệ
vốn
tiềm
tàng
giữa
các
Kitô
hữu
và
dẫn
đưa
tới
sự
hiệp
nhất
đầy
đủ
và
toàn
hảo
theo
lòng
nhân
hậu
của
Thiên
Chúa.
6.
Canh
tân
Giáo
Hội.
Vì
mọi
việc
canh
tân
Giáo
Hội
1
cốt
yếu
nhằm
sống
trung
thành
với
ơn
gọi
của
Giáo
Hội
hơn,
nên
chắc
chắn
đó
là
lý
do
giải
thích
tại
sao
có
phong
trào
hiệp
nhất.
Trên
đường
lữ
hành,
Giáo
Hội
được
Chúa
Kitô
mời
gọi
canh
tân
luôn
mãi,
một
sự
canh
tân
mà
Giáo
Hội
vì
là
một
định
chế
nhân
trần,
bao
giờ
cũng
cần
đến.
Do
đó,
nếu
vì
hoàn
cảnh
mà
tuân
giữ
ít
chu
đáo
một
vài
điểm
hoặc
về
luân
lý
hoặc
về
kỷ
luật
Giáo
Hội
hoặc
cả
trong
cách
trình
bày
giáo
lý
-
cách
trình
bày
này
phải
được
thận
trọng
phân
biệt
với
chính
kho
tàng
đức
tin
-
thì
phải
lo
cải
tổ
cho
đúng
mức
khi
thuận
tiện
20*.
Vì
thế,
sự
canh
tân
này
có
giá
trị
rất
lớn
đối
với
công
cuộc
hiệp
nhất.
Giáo
Hội
thực
hiện
cuộc
canh
tân
ấy
bằng
nhiều
hình
thức
khác
nhau
của
đời
sống
Giáo
Hội
như
phong
trào
Thánh
Kinh
và
phụng
vụ,
việc
rao
giảng
lời
Chúa
và
giáo
lý,
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân,
những
hình
thức
mới
trong
đời
tu
trì,
nền
đạo
đức
hôn
nhân,
học
thuyết
và
hoạt
động
xã
hội
của
Giáo
Hội;
phải
coi
những
hình
thức
ấy
như
là
đảm
bảo
và
là
điềm
báo
những
tiến
bộ
tương
lai
của
phong
trào
hiệp
nhất.
7.
Hoán
cải
tâm
hồn.
Không
thể
có
phong
trào
hiệp
nhất
chính
danh
mà
không
có
sự
hoán
cải
nội
tâm.
Thật
vậy,
những
ước
vọng
hiệp
nhất
bắt
nguồn
và
chín
mùi
nhờ
sự
đổi
mới
tâm
trí
2,
từ
bỏ
chính
mình
và
bác
ái
một
cách
hết
sức
quảng
đại.
Vì
thế,
phải
nguyện
xin
Chúa
Thánh
Thần,
ban
cho
chúng
ta
ơn
thành
thật
quên
mình,
khiêm
nhượng
và
hiền
hòa
trong
khi
phục
vụ,
quảng
đại
trong
tình
huynh
đệ
đối
với
tha
nhân.
Vị
Tông
Ðồ
dân
ngoại
đã
nói:
"Tôi
đây
tù
nhân
trong
Chúa,
tôi
khẩn
khoản
nài
xin
anh
em
hãy
tiến
bước
đàng
hoàng
theo
ơn
kêu
gọi
mình
đã
được
với
tất
cả
lòng
khiêm
nhượng
và
hiền
hậu,
hãy
nhẫn
nại
chịu
đựng
nhau
trong
đức
ái;
hãy
lo
lắng
duy
trì
sự
hiệp
nhất
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
mối
dây
hòa
bình"
(Eph
4,1-3).
Lời
khuyên
nhủ
ấy
trước
hết
liên
hệ
đến
những
ai
được
nhắc
lên
chức
thánh
để
tiếp
tục
sứ
mệnh
Chúa
Kitô,
Người
đến
giữa
chúng
ta
"không
phải
để
được
phục
vụ,
nhưng
để
phục
vụ
người
ta"
(Mt
20,28).
Lời
chứng
sau
đây
của
Thánh
Gioan
vốn
còn
giá
trị
trước
những
lỗi
lầm
hủy
hoại
hiệp
nhất:
"Nếu
ta
nói
rằng
mình
vô
tội,
ta
kể
Người
là
kẻ
dối
trá
và
Lời
của
Người
không
ở
trong
chúng
ta"
(1Gio
1,10).
Vậy
chúng
ta
hãy
khiêm
nhường
xin
lỗi
Chúa
và
xin
lỗi
những
anh
em
ly
khai,
cũng
như
chúng
ta
tha
kẻ
có
nợ
chúng
ta
21*.
Hết
mọi
Kitô
hữu
hãy
nhớ
luôn
là
càng
cố
gắng
sống
trong
sạch
hơn
theo
Phúc
Âm,
càng
cổ
võ
và
thực
hiện
sự
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu
cách
hữu
hiệu
hơn.
Càng
kết
hiệp
mật
thiết
với
Chúa
Cha,
Chúa
Con
và
Thánh
Thần,
họ
càng
dễ
dàng
thắt
chặt
tình
tương
thân
tương
ái
với
nhau
hơn
22*.
8.
Hiệp
nhất
trong
lời
nguyện.
Sự
hoán
cải
tâm
hồn
và
đời
sống
thánh
thiện
làm
một
với
những
lời
khẩn
cầu
chung
hay
riêng
cho
sự
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu
phải
được
coi
như
là
linh
hồn
của
tất
cả
phong
trào
hiệp
nhất
và
xứng
đáng
mệnh
danh
là
"sự
hiệp
nhất
thiêng
liêng".
Người
công
giáo
thường
có
thói
quen
hội
nhau
để
cầu
nguyện
cho
Giáo
Hội
được
hiệp
nhất,
lời
cầu
nguyện
mà
chính
Ðấng
Cứu
Thế
trước
ngày
tử
nạn
đã
khẩn
khoản
dâng
lên
Chúa
Cha:
"Xin
cho
tất
cả
nên
một"
(Gio
17,21).
Trong
vài
trường
hợp
đặc
biệt,
chẳng
hạn
như
những
dịp
được
chính
thức
tổ
chức
để
cầu
nguyện
"cho
hiệp
nhất"
và
trong
các
buổi
hội
thảo
về
hiệp
nhất,
chẳng
những
người
công
giáo
được
phép
mà
còn
phải
được
khuyến
khích
hiệp
nhau
cầu
nguyện
với
anh
em
ly
khai.
Những
kinh
nguyện
chung
như
thế
là
phương
tiện
rất
hữu
hiệu
để
xin
ơn
hiệp
nhất
và
tiêu
biểu
thực
sự
mối
dây
còn
đang
liên
kết
người
công
giáo
với
anh
em
ly
khai:
"Vì
đâu
có
hai
ba
người
nhân
danh
Thầy
hội
họp
lại,
Thầy
sẽ
giữa
họ"
(Mt
18,20)
23*.
Nhưng
không
được
phép
áp
dụng
bừa
bãi
việc
"thông
dự
vào
sự
thánh"
24*
như
phương
thế
để
tái
lập
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Việc
thông
dự
ấy
đặc
biệt
tùy
thuộc
hai
nguyên
tắc:
biểu
hiệu
sự
duy
nhất
của
Giáo
Hội
và
tham
dự
các
phương
tiện
ban
ân
sủng.
Nhiều
khi,
việc
biểu
hiệu
sự
duy
nhất
của
Giáo
Hội
ngăn
trở
sự
hiệp
thông,
nhưng
đôi
khi
nhu
cầu
ban
ân
sủng
lại
khuyến
khích
sự
hiệp
thông
ấy.
Về
phương
cách
hành
động
trong
thực
tế,
hãy
theo
mọi
hoàn
cảnh
thời
gian,
không
gian
và
nhân
sự
được
Giám
Mục
bản
quyền
khôn
ngoan
định
đoạt,
trừ
khi
Tòa
Thánh
hay
Hội
Ðồng
Giám
Mục
theo
qui
chế
riêng
ấn
định
thể
khác.
9.
Tìm
hiểu
nhau.
Phải
biết
tâm
trạng
của
các
anh
em
ly
khai.
Vì
thế,
cần
tìm
hiểu
họ
trong
chân
lý
và
với
lòng
nhân
hậu.
Người
công
giáo
đã
được
chuẩn
bị
đầy
đủ
cần
phải
tìm
hiểu
sâu
rộng
hơn
về
học
thuyết
và
lịch
sử,
về
đời
sống
tu
đức
và
phụng
tự,
về
tâm
lý
tôn
giáo
và
văn
hóa
riêng
của
anh
em
ly
khai.
Ðể
đạt
được
kết
quả
ấy,
các
buổi
hội
thảo
song
phương,
nhất
là
khi
bàn
về
các
vấn
đề
thần
học,
sẽ
giúp
ích
rất
nhiều.
Trong
các
cuộc
hội
thảo
ấy,
mọi
người
được
bình
đẳng
bàn
luận,
miễn
là
những
người
tham
dự,
dưới
sự
giám
sát
của
Giám
Mục,
thật
sự
là
những
nhà
chuyên
môn.
Nhờ
đối
thoại
như
thế
lập
trường
của
Giáo
Hội
Công
Giáo
được
nhận
thức
rõ
ràng
hơn.
Rồi
cũng
như
thế
tư
tưởng
của
anh
em
ly
khai
được
am
hiểu
hơn
và
chúng
ta
có
thể
trình
bày
đức
tin
cho
họ
cách
thích
hợp
hơn
25*.
10.
Sự
huấn
luyện
trên
phương
diện
hiệp
nhất.
Thần
học
và
các
môn
học
khác,
nhất
là
sử
học,
cũng
phải
được
trình
bày
theo
chiều
hướng
hiệp
nhất
hầu
đáp
ứng
với
thực
tại
cách
chính
xác
hơn.
Vậy
các
chủ
chăn
và
linh
mục
tương
lai
phải
am
tường
khoa
thần
học
đã
được
trình
bày
xác
đáng
như
thế,
chứ
đừng
theo
lối
bút
chiến
26*,
nhất
là
trong
những
vấn
đề
liên
hệ
đến
những
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
Công
Giáo
và
các
anh
em
ly
khai.
Sự
giáo
dục
và
huấn
luyện
tu
đức
thiết
yếu
của
các
tín
hữu
và
tu
sĩ
tùy
thuộc
rất
nhiều
ở
nền
giáo
dục
của
các
linh
mục.
Người
công
giáo
dấn
thân
hoạt
động
truyền
giáo
trong
những
phần
đất
chung
với
các
Kitô
hữu
khác,
nhất
là
trong
lúc
này,
phải
am
tường
các
vấn
đề
và
các
thành
quả
do
phong
trào
hiệp
nhất
đem
đến
cho
việc
tông
đồ
của
họ
27*.
11.
Cách
thức
diễn
tả
và
trình
bày
đức
tin.
Phương
pháp
và
cách
diễn
tả
đức
tin
công
giáo
không
được
gây
trở
ngại
cho
việc
đối
thoại
với
những
người
anh
em.
Cần
phải
trình
bày
rõ
ràng
nguyên
vẹn
giáo
lý.
Không
gì
phá
hoại
hiệp
nhất
cho
bằng
chủ
trương
xu
thời
sai
lệch
28*,
nó
làm
tổn
thương
giáo
lý
công
giáo
thuần
túy
và
làm
lu
mờ
ý
nghĩa
đích
thực
và
chắc
chắn
của
những
giáo
lý
này.
Ðồng
thời,
đức
tin
công
giáo
phải
được
giải
thích
sâu
xa
và
chính
xác
hơn
bằng
cách
thức
và
ngôn
từ
để
các
anh
em
ly
khai
có
thể
hiểu
đúng
nghĩa.
Hơn
nữa,
khi
cùng
các
anh
ly
khai
tìm
hiểu
các
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa
trong
cuộc
đối
thoại
hiệp
nhất,
các
nhà
thần
học
công
giáo
gắn
bó
với
giáo
lý
của
Giáo
Hội,
phải
tiến
hành
với
lòng
yêu
mến
chân
lý,
bác
ái
và
khiêm
nhường.
Khi
so
sánh
các
giáo
lý
với
nhau,
phải
nhờ
rằng
có
một
"phẩm
trật"
29*
trong
các
chân
lý
của
giáo
lý
công
giáo
vì
liên
hệ
giữa
các
chân
lý
ấy
với
nền
tảng
đức
tin
không
đồng
đều.
Quan
niệm
như
thế
tức
là
đã
vạch
ra
được
một
đường
hướng
để
nhờ
sự
tranh
đua
thân
hữu,
tất
cả
được
thúc
đẩy
tìm
hiểu
sâu
rộng
và
biểu
hiệu
rõ
ràng
hơn
nguồn
phong
phú
khôn
lường
của
Chúa
Kitô
3.
12.
Cộng
tác
với
anh
em
ly
khai.
Trước
mặt
muôn
dân
30*,
toàn
thể
các
Kitô
hữu
hãy
tuyên
xưng
đức
tin
vào
Thiên
Chúa
duy
nhất
và
Ba
Ngôi,
vào
Con
Thiên
Chúa
nhập
thể,
cứu
chuộc
và
là
Chúa
chúng
ta;
và
trong
sự
tôn
trọng
lẫn
nhau,
hãy
cùng
nỗ
lực
làm
chứng
cho
niềm
trông
cậy
của
chúng
ta,
niềm
trông
cậy
không
bao
giờ
luống
công.
Vì
ngày
nay
sự
hợp
tác
trong
các
hoạt
động
xã
hội
đang
được
thiết
lập
rộng
rãi,
nên
hết
mọi
người
đều
được
kêu
gọi
để
chung
lưng
làm
việc,
huống
chi
những
người
tin
nơi
Chúa
nhất
là
các
Kitô
hữu,
vì
họ
đã
được
mang
danh
Chúa
Kitô.
Sự
hợp
tác
của
tất
cả
các
Kitô
hữu
nói
lên
cách
hùng
hồn
tình
liên
kết
đang
thắt
chặt
họ
lại
với
nhau
và
biểu
dương
khuôn
mặt
của
Chúa
Kitô
Tôi
Tớ
cách
rực
rỡ
hơn.
Sự
hợp
tác
này
đã
được
thiết
lập
trong
nhiều
quốc
gia
và
cần
được
cải
thiện
thêm
mãi,
nhất
là
trong
những
vùng
tiến
bộ
về
mặt
xã
hội
cũng
như
kỹ
thuật
bằng
cách
làm
cho
nhân
phẩm
được
tôn
trọng
đúng
mức,
bằng
cách
cổ
võ
hòa
bình
hoặc
nỗ
lực
áp
dụng
Phúc
Âm
vào
đời
sống
xã
hội,
bằng
cách
phát
triển
khoa
học
và
nghệ
thuật
trong
tinh
thần
Kitô
giáo,
bằng
cách
áp
dụng
đủ
loại
phương
dược
chống
các
khổ
nạn
của
thời
đại
chúng
ta,
như
nạn
đói
ăn,
thiên
tai,
mù
chữ,
nghèo
túng,
vô
gia
cư,
bất
bình
đẳng
trong
việc
phân
phối
phẩm
vật.
Nhờ
sự
cộng
tác
ấy,
tất
cả
mọi
kẻ
tin
vào
Chúa
kitô
có
thể
dễ
dàng
học
hỏi
cho
biết
cách
tìm
hiểu,
tôn
trọng
nhau
hơn
và
dọn
đường
tiến
tới
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Chú
Thích:
19*
Những
cuộc
nghiên
cứu
sử
học
và
thần
học
có
thể
giảm
thiểu
các
thiên
kiến
và
chứng
tỏ
rằng
đã
xảy
ra
nhiều
hiểu
lầm,
như
vậy
mối
liên
kết
sẽ
thêm
dễ
dàng
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Lateranô
V,
khóa
XII
(1517),
Hiến
chế
Constituti:
Mansi
32,
988
B.C.
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Cách
diễn
đạt
một
chân
lý
mạc
khải
có
thể
thật
rõ
ràng
trong
môi
trường
lịch
sử
của
nó,
song
lại
rất
khó
hiểu
trong
một
hoàn
cảnh
lịch
sử
khác.
Trong
trường
hợp
này
nên
tìm
một
công
thức
khác,
nhưng
không
thay
đổi
ý
nghĩa
đã
được
mạc
khải.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Eph
4,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Tinh
thần
hiệp
nhất
là
tinh
thần
hòa
giải
và
bác
ái
với
nhau.
Do
đó
người
công
giáo
và
không
công
giáo
phải
tha
thứ
cho
nhau
những
lỗi
phạm
chống
lại
tinh
thần
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Bằng
nhiều
cách
khác
nhau,
trọn
số
này
diễn
tả
một
chân
lý
rất
căn
bản:
để
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu,
trước
tiên
tất
cả
mọi
người
công
giáo
hãy
sống
trọn
vẹn
và
trung
thành
với
tôn
giáo
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Công
Ðồng
khuyến
khích
việc
cầu
nguyện
chung
giữa
người
công
giáo
và
không
công
giáo
khi
tiện
dịp.
Những
kinh
nguyện
chung
có
thể
là
Lạy
Cha,
Sáng
Danh,
các
Thánh
Vịnh
hay
bài
đọc
Thánh
Kinh.
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Có
"thông
dự
vào
sự
thánh"
khi
một
người
công
giáo
tham
dự
vào
sinh
hoạt
tôn
giáo
của
một
cộng
đoàn
không
công
giáo,
hay
trái
lại.
Lúc
ấy
người
ta
gọi
những
kinh
nguyện
chung
như
sự
tham
dự
nào
đó
được
ban
phép
và
cổ
võ.
Ðiều
kiện
để
một
hoạt
động
tôn
giáo
được
chuẩn
nhận
là
nó
phải
biểu
hiệu
được
tính
cách
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội
và
thực
sự
là
một
phương
thế
ban
ân
sủng.
Ðiều
kiện
thứ
nhất
thường
thiếu
sót;
trường
hợp
ấy,
người
công
giáo
không
được
phép
tham
dự.
Cũng
thế,
lễ
Tiệc
Ly
Tin
Lành
và
Thánh
Lễ
Công
Giáo
không
có
cùng
ý
nghĩa;
do
đó
người
công
giáo
không
được
quyền
tham
dự
vào
Tiệc
Ly
Tin
Lành.
Vậy
nên,
các
Giám
Mục
phải
ban
hành
những
tiêu
chuẩn
chính
xác
để
các
tín
hữu
biết
rõ
điều
nào
được
phép,
điều
nào
không
trong
vấn
đề
tế
nhị
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Ðể
tán
trợ
tinh
thần
hiệp
nhất,
người
công
giáo
và
không
công
giáo
phải
tìm
hiểu
nhau.
Một
sự
hiểu
biết
hỗ
tương
như
thế
quả
thật
rất
cần
thiết
trước
nhất
cho
các
linh
mục
và
các
thừa
sai
(xem
số
10).
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
Khi
gặp
những
sai
lầm
về
giáo
lý,
cần
phải
bình
tâm
và
khách
quan
chứng
tỏ
căn
nguyên
của
sai
lầm,
không
nên
buộc
tội
hay
công
kích
những
người
chủ
trương
cách
sai
lầm
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Tinh
thần
hiệp
nhất
không
cho
phép
công
kích
những
nhà
thừa
sai
ngoài
công
giáo,
song
phải
biểu
lộ
niềm
tôn
kính
họ
theo
như
đức
ái
đòi
buộc,
cho
dù,
tùy
hoàn
cảnh
cũng
cần
phải
gìn
giữ
các
tín
hữu
tránh
khỏi
những
sai
lầm
mà
họ
có
thể
truyền
bá.
(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Danh
từ
"xu
thời"
(irenismus)
phát
xuất
từ
tiếng
hy
lạp
"eirene"
có
nghĩa
"chủ
hòa".
Trong
những
tương
giao
với
người
không
công
giáo
phải
nhằm
sự
hòa
hợp
với
nhau.
Tuy
nhiên
nếu
chúng
ta
che
giấu
một
chân
lý
Công
Giáo
nào
đó
hoặc
thay
đổi
ý
nghĩa
đích
thực
của
một
học
thuyết
Công
Giáo
cốt
cho
người
không
công
giáo
dễ
chấp
nhận
hơn,
quả
thực
đó
là
một
phương
thế
giả
tạo
để
đạt
tới
sự
hòa
hợp
vừa
nói.
Ðó
cũng
chính
là
chủ
trương
xu
thời
sai
lệch
bị
Sắc
Lệnh
này
ngăn
cấm.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Danh
từ
"phẩm
trật"
ở
đây
hiểu
theo
nghĩa
bóng,
nó
biểu
thị
một
sự
dị
đồng
về
giá
trị,
về
sự
cần
thiết
về
lợi
ích
của
những
chân
lý
khác
nhau
mà
Giáo
Hội
Công
Giáo
truyền
dạy.
Trong
Giáo
Huấn
ấy
có
những
chân
lý
đức
tin,
nên
bất
biến
và
những
chân
lý
khác
không
thuộc
đức
tin.
Trong
những
chân
lý
đức
tin,
dù
cần
phải
tin
toàn
thể
tất
cả,
song
cũng
có
một
số
chân
lý
buộc
phải
hiểu
biết
cách
minh
bạch.
Khi
đối
thoại
với
người
không
công
giáo,
không
được
quên
những
dị
biệt
ấy
để
khỏi
bó
buộc
họ
phải
tin
tất
cả
giáo
thuyết
cùng
một
mức
độ
như
nhau.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Eph
3,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
"Muôn
dân"
ở
đây
ám
chỉ
toàn
thể
những
người
ngoài
Kitô
giáo
mà
tất
cả
Kitô
hữu
công
giáo
hay
không
công
giáo
đều
có
bổn
phận
làm
gương
sáng
hiệp
nhất
trong
một
số
các
chân
lý
nền
tảng
và
trong
đức
bác
ái
qua
việc
cộng
tác
mật
thiết
với
nhau
nhất
là
trên
bình
diện
xã
hội.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II