VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
4-
SẮC
LỆNH
VỀ
CÁC
GIÁO
HỘI
CÔNG
GIÁO
ĐÔNG
PHƯƠNG
(ORIENTALIUM
ECCLESIARUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
Toàn
Văn
Sắc
Lệnh
Khóa
V
Ngày
21
tháng
11
Năm
1964
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Lời
mở
đầu
1.
Giáo
Hội
Công
Giáo
1*
rất
mực
tôn
trọng
những
quy
chế,
nghi
lễ
phụng
vụ,
truyền
thống
Giáo
Hội
và
quy
luật
của
đời
sống
Kitô
giáo
nơi
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
Thật
vậy,
truyền
thống
từ
các
Tông
Ðồ
qua
các
Giáo
Phụ
1.
2*
vẫn
được
sáng
tỏ
nơi
các
Giáo
Hội
vẫn
nổi
danh
nhờ
sự
cổ
kính
đáng
mộ
mến
ấy.
Chính
Truyền
Thống
này
tạo
nên
một
phần
Mạc
Khải
của
Thiên
Chúa
và
một
phần
gia
sản
nguyên
tuyền
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Vì
thế
trong
niềm
ưu
ái
đối
với
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
là
những
chứng
tá
sống
động
của
Truyền
Thống
trên,
Thánh
Công
Ðồng
này
ước
mong
các
Giáo
Hội
ấy
được
thịnh
vượng
và
biết
chu
toàn
phận
vụ
đã
được
trao
phó
với
tinh
thần
tông
đồ
hăng
say
mới
mẻ.
Vậy,
ngoài
những
quyết
định
liên
quan
tới
toàn
thể
Giáo
Hội,
Thánh
Công
Ðồng
thiết
định
những
chương
chính
yếu
sau
đây,
còn
những
điểm
khác
dành
lại
cho
các
Hội
Nghị
Ðông
Phương
3*
và
Tòa
Thánh
định
liệu
4*.
Các
Giáo
Hội
Riêng
Biệt
Hay
Các
Lễ
Chế
2.
Sự
khác
biệt
của
các
Lễ
Chế
không
phương
hại
đến
sự
hiệp
nhất.
Hội
Thánh
Công
Giáo
là
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
gồm
các
tín
hữu
là
những
người
liên
kết
chặt
chẽ
với
nhau
trong
Chúa
Thánh
Thần
nhờ
cùng
một
đức
tin,
nhờ
những
bí
tích
và
một
quyền
cai
trị
như
nhau.
Nhờ
việc
đoàn
tụ
thành
những
cộng
đoàn
khác
nhau
liên
kết
bằng
phẩm
trật
5*,
họ
tạo
nên
những
Giáo
Hội
riêng
biệt
hay
những
lễ
chế
6*.
Các
Giáo
Hội
này
thông
hiệp
với
nhau
một
cách
lạ
lùng
đến
nỗi
những
sắc
thái
khác
biệt
trong
Giáo
Hội
không
phương
hại
mà
còn
làm
sáng
tỏ
thêm
sự
hiệp
nhất.
Thật
ra,
Giáo
Hội
Công
Giáo
muốn
bảo
toàn
các
truyền
thống
của
từng
Giáo
Hội
riêng
biệt
hay
các
lễ
chế.
Ðồng
thời
Giáo
Hội
cũng
muốn
thích
nghi
nếp
sống
của
mình
với
các
nhu
cầu
khác
nhau
thuộc
thời
gian
và
nơi
chốn
2.
3.
Các
lễ
chế
đều
có
cùng
một
phẩm
giá.
Các
Giáo
Hội
riêng
biệt
này,
Ðông
cũng
như
Tây,
tuy
có
phần
khác
nhau
trong
lễ
chế
như
người
ta
thường
nói,
như
phụng
vụ,
giáo
luật
và
di
sản
tinh
thần,
nhưng
tất
cả
đều
được
đặt
dưới
quyền
cai
quản
mục
vụ
của
Giáo
Hoàng
Roma,
Ðấng
kế
vị
Thánh
Phêrô
theo
ý
Thiên
Chúa
trong
quyền
tối
cao
trên
toàn
thể
Giáo
Hội.
7*
Do
đó,
xét
theo
phẩm
giá,
các
Giáo
Hội
đều
ngang
hàng
với
nhau,
đến
nỗi
trên
bình
diện
lễ
chế
không
một
Giáo
Hội
nào
trổi
vượt
trên
các
Giáo
Hội
khác.
Tất
cả
đều
hưởng
cùng
những
quyền
lợi
và
có
những
bổn
phận
như
nhau,
cả
đến
việc
có
liên
quan
tới
công
cuộc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
toàn
thế
giới
(x.
Mc
16,15)
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Giáo
Hoàng
Roma
8*.
4.
Các
lễ
chế
phải
được
học
hỏi
kỹ
lưỡng.
Vì
thế,
mọi
nơi
trên
hoàn
cầu
đều
phải
lo
duy
trì
và
phát
triển
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
và
do
đó,
nên
thành
lập
những
xứ
đạo
và
hàng
giáo
phẩm
riêng
ở
nơi
mà
lợi
ích
thiêng
liêng
của
các
tín
hữu
đòi
hỏi.
Còn
hàng
giáo
phẩm
của
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
khác
nhau,
tuy
có
thẩm
quyền
9*
trên
cùng
một
địa
hạt,
cũng
phải
lo
cổ
võ
sự
hiệp
nhất
trong
hành
động
nhờ
các
cuộc
trao
đổi
ý
kiến
với
nhau
trong
các
phiên
họp
định
kỳ,
đồng
thời
phải
góp
sức
hỗ
trợ
các
công
việc
chung
để
mở
mang
đạo
Chúa
cách
dễ
dàng
hơn
và
bảo
vệ
kỷ
luật
trong
hàng
giáo
sĩ
cách
hữu
hiệu
hơn
3.
10*
Mọi
giáo
sĩ
và
tất
cả
những
ai
tiến
tới
các
chức
thánh
phải
học
hỏi
cẩn
thận
về
các
lễ
chế,
nhất
là
về
các
tiêu
chuẩn
thực
hành
trong
các
vấn
đề
tương
quan
giữa
các
lễ
chế.
11*
Ngay
các
giáo
hữu
cũng
phải
được
dạy
dỗ
về
các
lễ
chế
và
các
tiêu
chuẩn
ấy
trong
giờ
giáo
lý.
Sau
cùng,
tất
cả
và
mỗi
người
công
giáo,
cả
những
người
chịu
phép
rửa
trong
bất
cứ
Giáo
Hội
hay
cộng
đoàn
không
công
giáo
nào,
khi
trở
về
12*
hiệp
thông
hoàn
toàn
với
Giáo
Hội
Công
Giáo,
vẫn
phải
duy
trì
và
tôn
trọng
lễ
chế
riêng
dù
ở
bất
cứ
nơi
nào
và
phải
tùy
sức
tuân
giữ
4.
13*
Tuy
nhiên,
quyền
khiếu
nại
lên
Tòa
Thánh
trong
những
trường
hợp
đặc
biệt,
thuộc
cá
nhân,
cộng
đoàn,
hoặc
giáo
miền
vẫn
được
bảo
đảm.
Như
vị
trọng
tài
tối
cao
cho
các
tương
quan
giữa
các
Giáo
Hội
riêng
biệt,
Tòa
Thánh,
hoặc
đích
thân
hoặc
qua
các
đấng
thẩm
quyền
khác
sẽ
giải
quyết
thỏa
đáng
các
nhu
cầu
trong
tinh
thần
hiệp
nhất,
bằng
cách
ban
những
quy
luật,
sắc
lệnh
hay
những
phúc
chiếu
14*
thích
hợp.
Việc
Bảo
Vệ
Di
Sản
Tinh
Thần
Nơi
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
5.
Công
lao
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Lịch
sử,
các
truyền
thống,
và
rất
nhiều
thể
chế
trong
Giáo
Hội
đều
chứng
minh
rõ
ràng
rằng
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
có
công
biết
bao
đối
với
toàn
thể
Giáo
Hội
5.
Vì
vậy
Thánh
Công
Ðồng
không
những
hết
lòng
yêu
mến
và
ca
ngợi
đúng
mức
gia
sản
tinh
thần
của
các
Giáo
Hội
này,
mà
còn
xác
quyết
đó
là
sản
nghiệp
của
toàn
thể
Giáo
Hội
Chúa
Kitô.
Do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
long
trọng
tuyên
bố
rằng
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
cũng
như
Tây
Phương
đều
có
quyền
lợi
và
bổn
phận
tuân
theo
những
quy
luật
riêng
của
mình
15*
vì
những
quy
luật
này
có
giá
trị
nhờ
ở
đặc
tính
cổ
kính
đáng
quý
trọng,
phù
hợp
với
các
tập
tục
của
tín
hữu
hơn
và
xem
ra
có
thể
mưu
ích
cho
các
linh
hồn
cách
hữu
hiệu
hơn.
6.
Không
được
thay
đổi
cách
độc
đoán.
Mọi
giáo
hữu
Ðông
Phương
nên
ý
thức
và
xác
tín
rằng
mình
có
thể
và
phải
luôn
luôn
tuân
giữ
các
nghi
thức
phụng
vụ
hợp
pháp
và
quy
luật
của
mình,
và
không
được
thay
đổi
điều
gì
nếu
không
vì
lý
do
tiến
bộ
riêng
thuộc
phạm
vi
tổ
chức.
Vậy
chính
các
giáo
hữu
Ðông
Phương
phải
hết
sức
trung
thành
tuân
giữ
các
điều
ấy.
Họ
phải
lo
học
hiểu
các
điều
đó
ngày
càng
sâu
rộng
hơn
và
đạt
đến
mức
độ
hoàn
hảo
hơn
trong
thực
hành.
Nếu
vì
lý
do
thời
gian
hay
nhân
sự
làm
cho
họ
xao
lãng
một
cách
bất
cẩn,
họ
phải
cố
gắng
trở
về
với
truyền
thống
của
tổ
tiên.
Riêng
những
ai
hoặc
vì
phận
sự
hay
do
nhiệm
vụ
tông
đồ
có
liên
lạc
thường
xuyên
với
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
hay
với
tín
hữu
thuộc
các
Giáo
Hội
này,
cần
phải
được
đào
luyện
chu
đáo
để
am
hiểu
và
tôn
trọng
các
nghi
thức,
quy
luật,
giáo
thuyết
16*
cũng
như
lịch
sử
và
tâm
tính
người
Ðông
Phương
tùy
theo
tầm
quan
trọng
của
công
việc
họ
đảm
nhận
6.
Các
dòng
tu
và
các
tu
hội
theo
lễ
chế
Latinh
hoạt
động
tại
các
miền
thuộc
Giáo
Hội
Ðông
Phương
hay
giữa
các
tín
hữu
Ðông
Phương
nên
cố
gắng
thành
lập
các
chi
nhánh
hay
cả
những
tỉnh
dòng
theo
lễ
chế
Ðông
Phương,
nếu
có
thể,
để
việc
tông
đồ
được
hữu
hiệu
hơn
7.
Các
Thượng
Phụ
Ðông
Phương
7.
Thể
chế
Thượng
Phụ.
Thể
chế
Thượng
Phụ
17*
đã
được
thịnh
hành
từ
lâu
trong
Giáo
Hội
và
đã
được
các
Công
Ðồng
Chung
tiên
khởi
nhìn
nhận
8.
Thực
ra,
danh
hiệu
Thượng
Phụ
Ðông
Phương
dùng
để
chỉ
vị
Giám
Mục
có
thẩm
quyền
trên
tất
tất
cả
các
Giám
Mục
kể
các
các
vị
Tổng
Giáo
Chủ
18*,
trên
hàng
giáo
sĩ
và
giáo
dân
trong
địa
hạt
hay
thuộc
lễ
chế
mình
chiếu
theo
luật
định,
nhưng
vẫn
tôn
trọng
quyền
tối
cao
của
Giáo
Hoàng
Roma
9.
Vị
Giáo
Chủ
19*
thuộc
một
lễ
chế
nào
đó
được
chỉ
định
làm
giáo
chủ
cho
bất
cứ
nơi
nào
ngoài
địa
hạt
thượng
phụ,
thì
vẫn
lệ
thuộc
vào
quyền
của
Thượng
Phụ
giáo
chủ
lễ
chế
ấy
theo
luật
định.
8.
Các
Thượng
Phụ
trong
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
dù
tiến
chức
trước
hay
sau,
tất
cả
đều
bình
đẳng
trên
cương
vị
Thượng
Phụ
Giáo
Chủ,
nhưng
giữa
các
ngài
vẫn
có
ngôi
thứ
danh
dự,
được
minh
định
cách
hợp
pháp
10.
9.
Danh
dự
đặc
biệt
của
các
Thượng
Phụ
Ðông
Phương.
Theo
truyền
thống
rất
cổ
kính
của
Giáo
Hội,
các
Thượng
Phụ
Ðông
Phương
phải
được
hưởng
một
danh
dự
đặc
biệt
vì
các
ngài
cai
quản
địa
hạt
mình
như
những
người
cha
và
thủ
lãnh.
Vì
thế
Thánh
Công
Ðồng
quyết
định
phục
hồi
các
quyền
lợi
và
đặc
ân
20*
của
các
ngài
chiếu
theo
truyền
thống
cổ
kính
của
từng
Giáo
Hội
và
sắc
lệnh
của
các
Công
Ðồng
Chung
11.
Thực
ra,
chính
các
quyền
lợi
và
đặc
ân
này
đã
có
từ
thời
Ðông
Phương
và
Tây
Phương
còn
hiệp
nhất
21*,
mặc
dầu
ngày
nay
còn
phải
thích
nghi
ít
nhiều
với
hoàn
cảnh.
Các
Thượng
Phụ
hợp
với
Hội
Ðồng
riêng
lập
thành
tòa
thượng
thẩm
để
minh
xét
mọi
vấn
đề
trong
địa
hạt,
kể
cả
quyền
thiết
lập
các
địa
sở
mới
22*
và
bổ
nhiệm
các
Giám
Mục
cùng
một
lễ
chế
trong
địa
hạt
thượng
phụ,
dĩ
nhiên
vẫn
bảo
toàn
quyền
đặc
hữu
của
Giáo
Hoàng
Roma:
can
thiệp
vào
từng
trường
hợp
23*.
10.
Thiết
lập
những
tòa
thượng
phụ
mới.
Theo
luật
định,
tất
cả
những
khoản
nói
về
các
Thượng
Phụ
cũng
có
giá
trị
đối
với
các
Tổng
Giám
Mục
Niên
Trưởng
24*
là
những
vị
đứng
đầu
một
Giáo
Hội
riêng
biệt
hay
một
lễ
chế
nào
đó
12.
Vì
thể
chế
Thượng
Phụ
là
hình
thức
cai
trị
cổ
truyền
nơi
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
nên
Thánh
Công
Ðồng
Chung
hết
sức
mong
ước
thiết
lập
thêm
những
tòa
Thượng
Phụ
Giáo
Chủ,
khi
cần.
Việc
thiết
lập
này
được
dành
cho
Công
Ðồng
Chung
hay
Giáo
Hoàng
Roma
13.
Quy
Luật
Về
Các
Bí
Tích
12.
Tái
lập
qui
luật
cũ
về
các
Bí
Tích.
Thánh
Công
Ðồng
chấp
nhận
và
phê
chuẩn
quy
luật
cổ
kính
về
các
bí
tích
thịnh
hành
nơi
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
cả
cách
thức
cử
hành
và
ban
các
bí
tích
ấy
nữa.
Thánh
Công
Ðồng
cũng
mong
ước
phục
hồi
cách
thức
này
khi
cần.
13.
Ban
Bí
Tích
Thêm
Sức.
Quy
luật
về
thừa
tác
viên
"Thêm
Sức"
đã
thịnh
hành
từ
ngàn
xưa
nơi
các
giáo
hữu
Ðông
Phương
sẽ
được
phục
hồi
hoàn
toàn
25*.
Do
đó,
các
linh
mục
có
thể
ban
bí
tích
này,
miễn
là
dùng
Dầu
Thánh
do
Thượng
Phụ
hay
Giám
Mục
làm
phép
14.
14.
Tất
cả
các
linh
mục
Ðông
Phương
có
thể
ban
bí
tích
này
thành
sự
cùng
một
trật
với
phép
Rửa
Tội,
26*
hoặc
riêng
rẽ,
cho
mọi
tín
hữu
thuộc
bất
cứ
lễ
chế
nào,
kể
cả
lễ
chế
Latinh,
và
để
cho
hợp
pháp,
phải
giữ
mọi
điều
theo
luật
định,
chung
cũng
như
riêng
15.
Các
linh
mục
theo
lễ
chế
Latinh
27*
có
quyền
ban
bí
tích
này,
cũng
có
thể
ban
cho
tín
hữu
thuộc
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
miễn
là
không
phương
hại
đến
lễ
chế.
Dĩ
nhiên
để
cho
hợp
pháp,
phải
tuân
giữ
các
điều
luật,
chung
cũng
như
riêng
16.
15.
Luật
giữ
này
Chúa
nhật
và
các
lễ
trọng.
Vào
Chúa
nhật
và
các
ngày
Lễ
Trọng,
các
giáo
hữu
buộc
phải
tham
dự
vào
Phụng
Vụ
Thánh
28*
hay
các
giờ
ca
tụng
Thiên
Chúa
theo
tập
tục
và
thói
quen
của
từng
lễ
chế
17.
Ðể
giáo
dân
có
thể
chu
toàn
bổn
phận
này
cách
dễ
dàng,
giờ
thuận
tiện
cho
việc
giữ
luật
đó
được
ấn
định
là
từ
chiều
hôm
trước
cho
đến
hết
Chúa
nhật
hay
ngày
lễ
trọng
18.
Thánh
Công
Ðồng
Chung
tha
thiết
khuyên
nhủ
các
tín
hữu
nên
rước
lễ
trong
những
ngày
đó,
cũng
như
khuyên
năng
rước
lễ
hơn,
và
cả
việc
rước
lễ
hằng
ngày
19.
16.
Quyền
tài
phán
trên
các
lễ
chế
khác
nhau.
Trong
cuộc
sống
trà
trộn
hằng
ngày
của
tín
hữu
thuộc
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
khác
nhau
trong
cùng
một
miền
hay
địa
hạt
đông
phương,
các
linh
mục
thuộc
bất
cứ
lễ
chế
nào,
một
khi
được
Ðấng
Bản
Quyền
mình
ban
quyền
giải
tội
theo
luật
và
không
hạn
hẹp,
đều
có
thể
giải
tội
cho
mọi
tín
hữu
trong
toàn
địa
hạt
ngài,
cả
các
tín
hữu
và
những
nơi
thuộc
các
lễ
chế
khác
nằm
trong
địa
hạt
này,
miễn
là
Ðấng
Bản
Quyền
địa
phương
của
các
lễ
chế
khác
không
ngăn
cấm
rõ
ràng
ở
nơi
đó
20.
17.
Bí
Tích
Truyền
Chức.
Ðể
phục
hồi
quy
luật
cổ
kính
về
Bí
Tích
Truyền
Chức
trong
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
Thánh
Công
Ðồng
mong
muốn
tái
lập
chức
phó
tế
vĩnh
viễn
29*
nơi
mà
thể
chế
này
đã
bị
mai
một
21.
Còn
đối
với
chức
Phụ
Phó
Tế
và
các
Chức
Nhỏ
cũng
như
những
quyền
lợi
và
bổn
phận
liên
hệ,
sẽ
do
quyền
lập
pháp
của
từng
Giáo
Hội
riêng
biệt
tùy
nghi
định
đoạt
22.
18.
Hình
thức
Giáo
luật
của
việc
cử
hành
hôn
phối
khác
lễ
chế.
Ðể
tránh
những
hôn
nhân
bất
thành
sự
khi
người
Công
Giáo
Ðông
Phương
kết
hôn
với
người
không
Công
Giáo
Ðông
Phương
đã
được
rửa
tội,
và
để
duy
trì
tính
cách
bền
vững,
thánh
thiện
của
hôn
nhân
cũng
như
sự
hòa
thuận
trong
gia
đình,
Thánh
Công
Ðồng
phán
quyết
rằng,
để
cho
hợp
pháp,
buộc
cử
hành
lễ
nghi
cho
những
đôi
hôn
phối
này
theo
hình
thức
giáo
luật.
30*
Còn
để
thành
sự,
chỉ
cần
sự
hiện
diện
của
thừa
tác
viên
có
chức
thánh
là
đủ,
dĩ
nhiên
phải
tuân
giữ
các
điểm
khác
theo
luật
định
23.
Việc
Phụng
Thờ
Thiên
Chúa
19.
Các
ngày
lễ
.
Từ
nay
về
sau,
duy
có
Công
Ðồng
Chung
hay
Tòa
Thánh
mới
có
quyền
thiết
lập,
thay
đổi
hay
bãi
bỏ
các
ngày
lễ
chung
cho
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Còn
các
ngày
lễ
riêng
của
các
Giáo
Hội
địa
phương,
thì
ngoài
Tòa
Thánh
ra,
Hội
Ðồng
Thượng
Phụ
hay
Tổng
Giáo
Chủ
cũng
có
quyền
trên,
tuy
nhiên,
nên
lưu
tâm
hoàn
cảnh
của
toàn
miền
và
của
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
khác
24.
20.
Cử
hành
lễ
Phục
Sinh.
Trong
khi
chờ
đợi
mọi
Kitô
hữu
thỏa
thuận
mừng
lễ
Phục
Sinh
vào
cùng
một
ngày
31*,
Thánh
Công
Ðồng
đã
ủy
thác
cho
các
Thượng
Phụ
hay
các
Ðấng
Bản
Quyền
Tối
Cao
địa
phương
việc
ấn
định
một
Chúa
nhật
để
mừng
lễ
này,
sau
khi
tham
khảo
ý
kiến
các
người
liên
hệ
và
được
họ
chấp
thuận
hầu
thể
hiện
sự
hiệp
nhất
giữa
các
Kitô
hữu
sống
trong
một
miền
hay
một
lãnh
thổ
25.
21.
Thời
gian
thánh.
Về
luật
thời
gian
thánh,
các
tín
hữu
sống
ngoài
địa
hạt
hay
miền
thuộc
lễ
chế
riêng
có
thể
hoàn
toàn
thích
nghi
theo
qui
luật
đang
thịnh
hành
nơi
họ
sống.
Riêng
những
gia
đình
theo
nhiều
lễ
chế
khác
nhau
cũng
được
phép
giữ
luật
này
theo
một
lễ
chế
mà
thôi
26.
32*
22.
Kinh
nhật
tụng.
Các
giáo
sĩ
và
tu
sĩ
Ðông
Phương
cứ
theo
tập
tục
và
truyền
thống
riêng
của
qui
luật
mình
mà
cử
hành
các
giờ
Kinh
Nhật
Tụng,
đã
được
rất
mực
tôn
kính
trong
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
từ
ngàn
xưa
27.
Chính
các
giáo
hữu
cũng
nên
noi
gương
cha
ông
tham
dự
các
giờ
Kinh
Nhật
Tụng
với
lòng
sốt
sắng
và
tùy
khả
năng.
23.
Ngôn
ngữ
trong
phụng
vụ.
Quyền
ấn
định
việc
dùng
ngôn
ngữ
trong
phụng
vụ
thánh
được
dành
cho
các
Thượng
Phụ
và
Hội
Ðồng
của
ngài,
hay
Ðấng
Bản
Quyền
tối
cao
của
mỗi
Giáo
Hội
và
Hội
Ðồng
Giáo
Chủ.
Các
vị
này
cũng
có
quyền
phê
chuẩn
các
bản
dịch
sang
tiếng
bản
xứ
sau
khi
phúc
trình
lên
Tòa
Thánh
28.
Liên
Lạc
Với
Anh
Em
Thuộc
Các
Giáo
Hội
Ly
Khai
33*
24.
Cổ
võ
sự
hiệp
nhất
giữa
các
anh
em
Ðông
Phương
ly
khai.
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
hiệp
thông
với
Tòa
Thánh
Rôma
có
trọng
trách
đặc
biệt
phải
xúc
tiến
việc
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu,
nhất
là
các
kitô
hữu
Ðông
Phương,
dựa
theo
các
nguyên
tắc
được
Thánh
Công
Ðồng
này
bàn
tới
trong
sắc
lệnh
"Về
Hiệp
Nhất",
nhất
là
họ
phải
cầu
nguyện
và
làm
gương
sáng
trong
đời
sống,
trung
thành
với
những
truyền
thống
tôn
giáo
Ðông
Phương
34*
thời
xưa,
tìm
hiểu
lẫn
nhau
sâu
xa
hơn,
cộng
tác
và
quí
trọng
con
người
35*
cùng
sự
vật
36*
trong
tình
huynh
đệ
29.
25.
Các
anh
em
ly
khai
Ðông
Phương,
khi
trở
về
hiệp
nhất
với
Công
Giáo
nhờ
tác
động
của
ơn
Chúa
Thánh
Thần,
sẽ
không
bị
đòi
phải
làm
gì
hơn
là
tuyên
xưng
Ðức
Tin
công
giáo
37*
một
cách
đơn
giản.
Hơn
nữa,
vì
chức
vụ
linh
mục
đã
thành
sự
nơi
họ
vẫn
được
bảo
tồn,
nên
các
giáo
sĩ
Ðông
Phương,
khi
trở
về
hiệp
nhất
với
Công
Giáo,
vẫn
còn
quyền
thi
hành
chức
vụ
riêng
theo
những
qui
luật
do
Ðấng
có
thẩm
quyền
thiết
lập
30.
38*
26.
Nguyên
tắc
về
"việc
thông
dự
vào
sự
thánh".
Luật
Chúa
cấm
thông
dự
vào
sự
thánh
39*
có
phương
hại
đến
vấn
đề
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội,
hoặc
đưa
đến
sai
lầm
thật
sự
hay
nguy
cơ
lạc
hướng
về
đức
tin,
sinh
ra
gương
mù
gương
xấu
và
tạo
nên
thái
độ
lãnh
đạm
31.
Việc
thực
hành
mục
vụ
chứng
tỏ
rằng:
đối
với
những
vấn
đề
iên
quan
đến
anh
em
Ðông
Phương,
người
ta
có
thể
và
phải
xét
tới
hoàn
cảnh
cá
biệt
của
từng
người,
trong
đó
có
những
hoàn
cảnh
không
phương
hại
đến
sự
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội
cũng
không
có
những
hiểm
nguy
phải
tránh,
nhưng
chỉ
thấy
sự
cần
thiết
của
ơn
cứu
rỗi
và
lợi
ích
thiêng
liêng
của
các
linh
hồn
thúc
bách.
Chính
vì
thế
mà
Giáo
Hội
Công
Giáo,
vì
mọi
hoàn
cảnh
thời
gian,
nơi
chốn
và
nhân
sự
thường
đã
và
đang
còn
theo
một
phương
thức
hành
động
mềm
dẻo
hơn,
đang
khi
đem
lại
những
phương
thế
cứu
rỗi
và
biểu
dương
tình
bác
ái
nơi
các
Kitô
hữu
cho
hết
mọi
người
qua
việc
tham
dự
vào
các
bí
tích
cũng
như
các
cuộc
cử
hành
phụng
tự
khác
và
dùng
các
đồ
vật
thánh
40*.
Sau
khi
đã
cân
nhắc
những
điều
đó,
Thánh
Công
Ðồng
đã
thiết
định
nguyên
lý
hành
động
sau
đây
"để
chúng
tôi
khỏi
trở
thành
chướng
ngại
vật,
vì
quan
niệm
quá
nghiêm
khắc,
cho
những
ai
lãnh
nhận
ơn
cứu
rỗi"
32
và
để
xúc
tiến
ngày
một
hữu
hiệu
sự
hiệp
nhất
với
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ly
khai
với
chúng
ta.
27.
Áp
dụng
mục
vụ
về
việc
"thông
dự
vào
sự
thánh".
Chiếu
theo
các
nguyên
tắc
vừa
được
nhắc
trên
đây,
có
thể
ban
các
bí
tích
Cáo
Giải,
Thánh
Thể
và
Xức
Dầu
Bệnh
Nhân
cho
những
tín
hữu
Ðông
Phương
vì
ý
ngay
lành
41*
đã
ly
khai
với
Giáo
Hội
Công
Giáo,
nếu
tự
ý
họ
xin
và
đã
chuẩn
bị
tâm
hồn
một
cách
thích
đáng.
Hơn
nữa
người
Công
Giáo
cũng
được
quyền
xin
chịu
những
bí
tích
nầy
nơi
các
thừa
tác
viên
ngoài
công
giáo
thuộc
các
Giáo
Hội
có
những
bí
tích
ấy
thành
sự,
mỗi
khi
cần
thiết
hay
ích
lợi
thiêng
liêng
đòi
hỏi,
trong
trường
hợp
ngăn
trở
thể
lý
cũng
như
luân
lý,
42*
không
thể
tìm
tới
linh
mục
công
giáo
được
33.
28.
Ngoài
ra,
cũng
theo
các
nguyên
tắc
này,
khi
có
lý
do
chính
đáng
người
Công
Giáo
và
anh
em
ly
khai
Ðông
Phương
có
thể
cùng
nhau
thông
dự
vào
những
cuộc
cử
hành
phụng
tự,
dùng
chung
những
đồ
vật
thánh
và
nơ
thánh
34.
43*
29.
Việc
ấn
định
cách
thức
thông
dự
vào
sự
thánh
với
anh
em
thuộc
Giáo
Hội
ly
khai
Ðông
Phương
sẽ
uyển
chuyển
tùy
theo
sự
khôn
ngoan
của
các
vị
Giáo
Chủ
Bản
Quyền
địa
phương,
để
sau
khi
hội
ý
với
nhau,
và
nếu
cần,
sau
khi
đã
tham
khảo
ý
kiến
của
các
vị
Giáo
Chủ
của
những
Giáo
Hội
ly
khai,
các
vị
Giáo
Chủ
Bản
Quyền
địa
phương
ấy
có
thể
điều
hòa
việc
liên
lạc
giữa
các
Kitô
hữu
bằng
những
nguyên
tắc
và
tiêu
chuẩn
thuận
lợi
và
hữu
hiệu
hơn
44*.
Kết
Luận
30.
Thánh
Công
Ðồng
rất
hoan
hỉ
về
sự
cộng
tác
tích
cực
và
hữu
hiệu
giữa
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
và
Tây
Phương,
đồng
thời
tuyên
bố
rằng:
mọi
chủ
trương
có
tính
cách
pháp
định
này
được
nêu
ra
vì
những
hoàn
cảnh
hiện
tại,
cho
tới
ngày
Giáo
Hội
Công
Giáo
và
Giáo
Hội
ly
khai
Ðông
Phương
đạt
tới
tình
trạng
hiệp
thông
hoàn
toàn
45*.
Trong
khi
chờ
đợi,
thành
khẩn
xin
các
Kitô
hữu,
Ðông
Phương
cũng
như
Tây
Phương,
dâng
lên
Thiên
Chúa
những
lời
nguyện
sốt
sắng,
kiên
trì
và
hàng
ngày,
ngõ
hầu
nhờ
sự
trợ
giúp
của
Mẹ
Cực
Thánh
Thiên
Chúa,
mọi
người
được
hiệp
nhất.
46*
Cũng
xin
mọi
người
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
An
Ủi,
tuôn
tràn
ơn
trợ
lực
và
an
ủi
cho
bao
nhiêu
Kitô
hữu
của
bất
cứ
Giáo
Hội
nào
đang
phải
đau
khổ
và
chịu
bách
hại
mà
vẫn
can
đảm
tuyên
xưng
danh
Chúa
Kitô
47*.
Mọi
người
chúng
ta
hãy
yêu
thương
nhau
trong
tình
bác
ái
huynh
đệ
và
hãy
tôn
trọng
lẫn
nhau
35.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Sắc
Lệnh
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
21
tháng
11
năm
1964.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
1*
Giáo
Hội
Công
Giáo
là
Giáo
Hội
phổ
quát.
Các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
đều
thuộc
về
Giáo
Hội
này.
Các
Giáo
Hội
đó
ngang
hàng
với
Giáo
Hội
Latinh,
không
kém
hơn,
cũng
không
phải
là
phụ
thêm
vào
Giáo
Hội
theo
nghi
lễ
Latinh.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Leô
XIII,
Tông
thư
Orientalium
dignitas,
30-11-1894,
trong
Leonis
XIII
Acta
XIV,
trg
201-202.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Các
Giáo
Phụ
là
các
"văn
sĩ"
công
giáo
thời
thượng
cổ
Kitô
giáo,
từ
thế
kỷ
thứ
nhất
đến
thế
kỷ
thứ
tám.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Hội
nghị
là
một
ủy
ban
thương
gồm
vài
Giám
Mục.
Các
vị
này
cộng
tác
v7í
vị
thủ
lãnh
diều
khiển
một
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Sắc
lệnh
chỉ
đề
cập
đến
một
vài
điểm
của
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương;
những
vấn
đề
khác
được
ủy
thác
cho
Hội
Nghị
và
Tòa
Thánh.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Hàng
giáo
phẩm
gồm
tất
cả
những
ai
có
quyền
thánh
và
điều
khiển
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
"Lễ
Chế":
ở
đây
hiểu
theo
nghĩa
rộng
(xem
phần
nhập
đề).
"Giáo
Hội
riêng
biệt
ở
đây
đồng
hóa
với
Lễ
Chế.
Giáo
Hội
riêng
biệt
là
Cộng
Ðoàn
tín
hữu
có
cùng
một
nghi
lễ
phụng
vụ,
một
quy
luật
và
cùng
dưới
một
quyền
cai
trị.
Ðứng
lẫn
lộn
"Giáo
Hội
riêng
biệt"
với
Giáo
Hội
địa
phương.
Nhiều
Giáo
Hội
địa
phương
có
thể
cùng
thuộc
về
một
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
T.
Leô
IX,
Thư
In
terra
pax,
năm
1053:
"Ut
enim".
-
Innocentiô
III,
CÐ
Lateranô
IV,
năm
1215,
ch
IV:
"Licet
Graecos";
Thư
Inter
Quattuor,
2-8-1206:
"Postulasti
postmodum".
-Innocentiô
IV,
Thư
Cum
de
cetero,
27-8-1274;
thư
Sub
catholicae,
6-3-1254,
phần
mở
đầu.
-
Nicolaô
III,
Huấn
thị
Istud
est
memoriale,
9-10-1278.
-
Leô
X,
Tông
thư
Acceptimus
nuper,
18-5-1521.
-
Phaolô
III,
Tông
thư
Dudum,
23-12-1534.
-
Piô
IV,
Tông
hiến
Romanus
pontifex,
16-2-1564,
ch
5.
-
Clementê
VIII,
Tông
hiến
Magnus
Dominus,
23-12-1595,
ch
10.
-
Phaolô
V,
Tông
hiến
Solei
circumspecta,
10-12-1615,
ch
3.
-
Benedictô
XIV,
Tđ
Demandatam,
24-12-1743,
ch
3;
Tđ
Allatae
sunt,
26-6-1745,
ch
3,
6-9,
32.
-
Piô
VI,
Tđ
Catholicae
communionis,
24-5-1787.
-
Piô
IX,
Thư
In
suprema,
6-1-1848,
ch
3;
Tông
thư
Ecclesiam
Christi,
26-11-1853;
Tông
hiến
Romani
Pontificis,
6-1-1862.
-
Leô
XIII,
Tông
thư
Praeclara,
20-6-1894,
số
7;
Tông
thư
Orientalium
dignitas,
30-11-1894,
phần
mở
đầuv.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Sự
hiệp
nhất
tất
cả
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
với
nhau,
đông
phương
cũng
như
tây
phương,
được
bảo
đảm
nhờ
cùng
một
quyền
cai
trị
tối
cao
của
Ðức
Giáo
Hoàng,
vị
có
quyền
hành
trên
mọi
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Công
Ðồng
tuyên
bố
rằng:
tất
cả
mọi
Giáo
Hội
riêng
biệt
có
tư
cách
như
nhau,
hưởng
cùng
một
quyền
lợi
và
có
những
bổn
phận
như
nhau.
Như
thế
Công
Ðồng
bác
bỏ
luận
đề
trước
kia
được
nhiều
người
ủng
hộ
rằng
Giáo
Hội
theo
Lễ
Chế
Latinh
cao
trọng
hơn
các
Giáo
Hội
đông
phương.
Các
Giáo
Hội
đông
phương
có
quyền
rao
giảng
Phúc
Âm
bất
cứ
nơi
nào,
như
Giáo
Hội
Latinh.
trước
kia
quyền
này
chỉ
được
hạn
hẹp
trong
một
vài
nơi.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Thẩm
quyền
là
một
khả
năng
thực
hành
quyền
thiêng
liêng
và
cai
trị
các
tín
hữu.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctiati,
2-6-1957,
kh
4.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Công
Ðồng
ao
ước
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
trên
cùng
một
lãnh
thổ
thông
cảm
và
cộng
tác
chặt
chẽ
với
nhau
trong
các
công
việc
chung
càng
nhiều
càng
hay.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Việc
cộng
tác
giữa
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
giả
thiết
có
sự
hiểu
biết
và
quý
trọng
nhau.
Như
thế
Công
Ðồng
muốn
giáo
sĩ
cũng
như
giáo
dân
có
sự
hiểu
biết
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Công
Ðồng
tránh
dùng
tiếng
"trở
lại"
để
khỏi
va
chạm
người
Ðông
phương
không
công
giáo.
Dù
ở
đây
chỉ
đề
cập
đến
cá
nhân
đã
chịu
Phép
Thánh
Tẩy
để
trở
về
với
Giáo
Hội
Công
Giáo,
tuy
nhiên
Công
Ðồng
không
loại
trừ
ý
tưởng
và
lòng
ao
ước
một
sự
liên
kết
tập
thể
giữa
người
Ðông
Phương
không
công
giáo
và
Giáo
Hội
Công
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
N.v.t.
kh
8:
"Không
có
phép
Tòa
Thánh
thì
theo
lối
thực
hành
của
những
thế
kỷ
trước".
Cũng
vậy,
đối
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo
đã
được
rửa
tội,
kh.
11
có
câu
"Họ
có
thể
chọn
lựa
lễ
chế
nào
mà
họ
thích
hơn".
Bản
văn
trên
đây
minh
chứng
một
cách
rõ
rệt
việc
theo
một
lễ
chế
cho
hết
mọi
người
ở
bất
cứ
nơi
nào.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Công
Ðồng
muốn
mỗi
người
công
giáo
đông
phương
duy
trì
Lễ
Chế
và
ở
lại
trong
Giáo
Hội
riêng
biệt
của
mình.
Cũng
như
khi
các
người
đông
phương
không
công
giáo
trở
về
với
Giáo
Hội
Công
Giáo,
Công
Ðồng
khuyên
họ
nên
liên
kết
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương
có
cùng
một
Lễ
Chế
mà
họ
đã
ở
khi
còn
thuộc
về
cộng
đoàn
hay
Giáo
Hội
ly
khai.
Quy
luật
này
nhằm
giúp
cho
Giáo
Hội
riêng
biệt
khỏi
phải
mai
một.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Phúc
chiếu
là
một
bản
trả
lời
chính
thức
bằng
chữ
viết
của
Tòa
Thánh
cho
câu
hỏi
của
một
Giám
Mục,
một
tín
hữu
hay
một
cộng
đoàn.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Leô
XIII,
Tông
thư
Orientalium
dignitas,
30-11-1894;
Tông
thư
Praeclara
gratulationis,
20-6-1894;
và
các
văn
kiện
khác
đã
trích
dẫn
ở
ghi
chú
2.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Công
Ðồng
nhấn
mạnh:
Tất
cả
các
Giáo
Hội
riêng
biệt,
Ðông
Phương
cũng
như
Tây
Phương,
đều
có
quyền
tự
trị
theo
những
quy
luật
riêng.
Vậy
Giáo
Hội
Latinh
không
phải
là
mẫu
mực
cho
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Các
Giáo
Hội
này
không
phải
là
một
biệt
lệ.
Trái
lại
sự
khác
nhau
về
kỷ
luật
là
một
định
luật
chung.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Giáo
Thuyết
riêng
biệt
cho
Giáo
Hội
Ðông
Phương
ở
đây
chỉ
các
phương
pháp
và
những
cách
thức
hiểu
biết,
đào
sâu
và
diễn
tả
những
việc
về
Chúa
như
ở
Ðông
Phương
thường
dùng
ngay
từ
thời
thượng
cổ.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Benedictô
XV,
Tự
sắc
Orientalis
Catholici,
15-10-1917.
-
Piô
XI,
Tđ
Rerum
Orientalium,
8-9-1928,
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Lối
thực
hành
của
Giáo
Hội
thời
các
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
XI,
Gioan
XXIII
minh
chứng
cách
phong
phú
phong
trào
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Ít
ra
từ
thế
kỷ
thứ
4,
các
Giáo
Hội
riêng
biệt
chính
yếu
có
một
vị
thượng
phụ
đứng
đầu.
Vị
này
có
quyền
trên
tất
cả
các
giáo
phận
và
các
Giám
Mục
liên
hệ
của
Giáo
Hội
riêng
biệt
đó;
ví
dụ
như
Alexandria,
Antiokia,
Jerusalem,
sau
đó
Constantinopla,
là
những
tòa
thượng
phụ.
Giám
Mục
Roma
là
Thượng
Phụ
Tây
Phương.
Hiện
nay
có
6
Thượng
Phụ
Công
Giáo
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
CÐ
Nicea
I.
đ
th
6.
CD(
Constantinopla
I,
đ
th
2
và
3.
CD(
Calcedonia,
đ
th
28
và
9.
CÐ
Constantinopla
IV,
đ
th
17
và
21.
-
CÐ
Lateranô
IV,
đ
th
5
và
30.
CÐ
Florence,
Sắc
lệnh
Pro
Graecis,
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Tổng
Giáo
Chủ
là
một
Tổng
Giám
Mục
có
quyền
trên
vài
Giám
Mục
quản
trị
giáo
phận
trong
một
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
CÐ
Nicea
I,
đ
th
6.
-
CÐ
Constantinopla
I,
đ
th
3.
-
CD-
Constantinopla
IV,
đ
th
17.
-
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctiati,
kh
216,
2,11.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Giáo
chủ
có
quyền
trên
một
khu
giáo
phận
ví
dụ
trên
một
giáo
phận.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Trong
các
Công
Ðồng
Chung
Nicea
I,
đ
th
6.
-
Constantinopla
I,
đ
th
3.
-
Constantinopla
IV,
đ
th
21.
-
Lateranô
IV,
đ
th
5.
-
Firenze,
Sắc
lệnh
Pro
graecis,
6-7-1439,
9.
-
Xem
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctiati,
2-6-1957,
đ
th
219,
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
tự
do
lựa
chọn
Thượng
Phụ
và
Giám
Mục
của
mình,
tự
do
thiết
lập
những
giáo
phận
mới.
Họ
tự
tổ
chức
lấy
phụng
vụ,
luật
pháp
và
qui
luật
liên
hệ
đến
hàng
giáo
sĩ
và
tín
hữu
của
họ.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
ghi
chú
8.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Sự
liên
kết
ấy
kéo
dài
cho
đến
thế
kỷ
11.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Ðịa
sở
là
danh
từ
chỉ
giáo
phận
ở
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Các
Thượng
Phụ
Ðông
Phương
không
thể
thiết
lập
giáo
phận
mới
hay
bổ
nhiệm
Giám
Mục
ngoài
lãnh
thổ
mình,
ví
dụ
ở
Pháp
hay
Bắc
Mỹ
v.v...
Quyền
này
dành
riêng
cho
Ðức
Giáo
Hoàng.
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Tổng
Giám
Mục
Niên
Trưởng
chính
ở
đây
là
vị
lãnh
đạo
của
một
Giáo
Hội
riêng
biệt
không
phải
một
Giáo
Hội
thuộc
một
thượng
phụ
hay
một
giáo
khu.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
CÐ
Ephesô,
đ
th
8.
-
Clememtê
VII,
Decet
Romanum
Pontificem,
23-2-1956.
-
Piô
VII,
Tông
thư
In
Universalis
Ecclesiae,
22-2-1807.
-
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctiati,
2-6-1957,
đ
th
324-339.
-
CÐ
Carthagô
năm
419,
đ
th
17.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
CÐ
Carthagô,
năm
419,
đ
th
17
và
57.-
CÐ
Caceđonia,
năm
451,
đ
th
12.
-
T.
Innocentiô
I,
Thư
Et
onus
et
honor,
quãng
năm
415:
"Nam
quid
sciscitaris".
-
T.
Nicolaô
I,
thư
Ad
consulta
vestra,
13-11-866:
"A
quo
autem".
-
Innocentiô
III,
thư
Rex
regum,
25-2-1204.
-
Leô
XII,
Tông
hiến
Petrus
Apostolorum
Princeps,
15-8-1824.
-
Leô
XII,
Tông
thư
Christi
Domini,
năm
1895.
-
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctiati,
2-6-1957,
kh
159.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Ở
Ðông
Phương,
bí
tích
Thêm
Sức
thường
do
một
linh
mục
ban.
Mọi
linh
mục
Ðông
Phương
đều
có
quyền
ban
bí
tích
này.
Tại
một
vài
nơi,
quyền
này
bị
hủy
bỏ.
Công
Ðồng
hồi
quyền
này
cho
tất
cả.
Theo
tiết
mục
tiếp
sau,
bất
cứ
linh
mục
đông
phương
nào
có
quyền
ban
bí
tích
Thêm
Sức
cho
tín
hữu
công
giáo,
dù
tín
hữu
này
thuộc
một
Lễ
Chế
khác,
như
Lễ
Chế
Latinh
chẳng
hạn.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Innocentiô
IV,
thư
Sub
Catholicae,
6-3-1254,
3
số
4.
-
CÐ
Lyon
II,
năm
1274
(Cuộc
tuyên
xưng
đức
tin
của
Michael
Palaeologô
do
Ðức
Gregoriô
X
ghi
nhận).
-
Eugeniô
IV,
trong
CÐ
Firenze,
Hiến
chế
Exultate
Deo,
22-11-1439,
11.
-
Celmentê
VIII,
huấn
dụ
Sanctissimus,
31-8-1595.
-
Benedictô
XIV,
hiến
chế
Esti
Pastoralis,
26-5-1742,
11,
số
I,
III,
số
1.
-
v.v.
-
CÐ
Laodic,
năm
347-381,
đ
th
48.
-
CÐ
Sisen.
Armenorum,
năm
1312.
-
CÐ
Linanen.
Maronitarum,
năm
1736,
phần
II,
ch
III,
số
2
và
những
CÐ
riêng
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
Trong
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
bí
tích
Thêm
Sức
thường
được
cử
hành
sau
khi
ban
phép
Thánh
Tẩy.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Huấn
thị
của
Bộ
Thánh
Vụ
(gởi
Giám
Mục
Scepusien)
năm
1783.
-
Thánh
bộ
Truyền
giáo
(trước
là
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Ðức
Tin)
(pro
Coptis),
15-3-1790
số
XIII;
Sắc
lệnh
ngày
6-10-1863,
C,
a.
-
Thánh
Bộ
Giáo
Vụ
Ðông
Phương,
1-5-1948.
-
Bộ
Thánh
Vụ,
phúc
thư
ngày
22-4-1896
và
thư
ngày
19-5-1896.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Ở
đây
chỉ
các
linh
mục
theo
Lễ
Chế
Latinh
có
quyền
ban
bí
tích
Thêm
Sức
trong
giáo
phận
của
mình
hay
đã
lãnh
nhận
đặc
quyền
này
vì
lợi
ích
cho
các
tín
hữu
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Giáo
luật
kh
782,
4.
-
Thánh
Bộ
Giáo
Vụ
Ðông
Phương,
sắc
lệnh
De
sacramento
Confirmationis
administrando
etiam
fidelibus
orientalibus
a
prebyteris
latini
ritus,
qui
hos
indulto
gaudent
pro
fidelibus
ritus
sui,
1-5-1948.
(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Phụng
Vụ
Thánh
là
việc
cử
hành
Thánh
Thể.
Những
giờ
ca
tụng
Thiên
Chúa
chỉ
kinh
nhật
tụng
hát
trong
Cung
Thánh,
hoặc
liên
hệ
đến
lễ
Misa
hoặc
không.
Khi
các
giờ
ca
tụng
Thiên
Chúa
hát
trong
nhà
thờ,
các
tín
hữu
cũng
được
mời
tham
dự.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
CÐ
Laodiceô
năm
347-381,
đ
th
29.
-
T.
Nicephorô
CP
ch
14.
-
CÐ
Duinen.
Armenorum
năm
719,
đ
th
31.
-
T.
Theodorô
Studita,
bài
giảng
21.
-
T.
Nicolaô
I,
Thư
Ad
consulta
vestra,
13-11-866:
"In
quorum
Apostolorum";
"Nosse
cupitis";
"Quod
interrogatis";
"Praeterea
consulitis";
"Si
die
dominico";
và
các
CÐ
riêng.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Ðây
là
một
điểm
mới
có,
ít
là
từ
ngày
có
luật
buộc
phải
tham
dự
vào
phụng
vụ
thánh.
Hơn
nữa,
ngày
đó
tương
ứng
với
ngày
phụng
vụ
nơi
các
giáo
hữu
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Canones
Apostolorum
8
và
9.
-
CÐ
Antiokia
năm
341,
đ
th
2.
-
Timotheô
Alexandria,
Interrogat.
3.
-
Innocentiô
III,
Hiến
chế
Quia
divinae,
4-1-1215;
và
nhiều
CÐ
riêng
Ðông
Phương
mới
đây.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Vì
lợi
ích
cho
các
linh
hồn,
khoản
luật
nhằm
dự
liệu
những
tình
trạng
bị
lệ
thuộc
vào
nhiều
thẩm
quyền
(của
những
người
cùng
cư
ngụ)
trên
cùng
một
lãnh
địa.
tuy
nhiên,
tính
cách
"địa
hạt"
của
thẩm
quyền
vẫn
được
bảo
toàn.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Phó
Tế
vĩnh
viễn
là
một
giáo
sĩ
được
thụ
phong
đểsốngbậc
phó
tế
suốt
đời
mà
không
nhận
chức
linh
mục.
Tại
Ðông
Phương
việc
chính
yếu
của
phó
tế
là
cử
hành
các
nghi
lễ
phụng
vụ.
Ở
Tây
Phương,
phó
tế
còn
hoạt
động
mục
vụ
nhất
là
từ
Công
Ðồng
Vaticanô
II.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
CÐ
Niceô
I,
đ
th
18.
-
CÐ
Neocesareô
năm
314-325,
đ
th
12.
-
CÐ
Sardaigne
năm
343,
đ
th
8.
-
T.
Leô
Cả,
Thư
Omnium
quidem,
13-1-444.
-
CÐ
Calcedonia,
đ
th
6.
-
CÐ
Constantinopla
IV,
đ
th
23,
26;
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Nhiều
Giáo
Hội
Ðông
Phương
xem
chức
Phó
Tế
như
một
chức
nhỏ,
nhưng
trong
Tự
sắc
Cleri
sanctitati,
Ðức
Piô
XII
đã
ban
bố
những
bó
buộc
thuộc
các
chức
lớn
cho
chức
này.
Khoản
luật
trên
đề
nghị
nên
trở
về
với
luật
cổ
truyền
Ðông
Phương
riêng
với
chức
Phó
Tế.
Ðây
là
một
khoản
"phá
thông
lệ"
trong
tự
sắc
"Cleri
sanctiati".
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Hình
thức
giáo
luật
đòi
buộc
hôn
lễ
phải
được
cử
hành
trước
mặt
Cha
Xứ
có
thẩm
quyền,
thường
là
cha
xứ
của
người
vợ.
Chi
tiết
này
không
còn
cần
thiết
cho
việc
thành
sự
bí
tích
hôn
phối
của
người
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Piô
XII,
Tự
sắc
Crebiae
allatae,
22-2-1949,
kh
32,
2,
số
5:
(quyền
chuẩn
chước
về
mô
thức
của
các
Thượng
Phụ);
-
Piô
XII,
Tự
sắc
Cleri
sanctitari,
2-6-1957,
kh
267
(quyền
của
Thượng
Phụ
để
chữa
lành
tận
căn
khuyết
điểm
mô
thức).
-
Bộ
Thánh
Vụ
và
Thánh
Bộ
Giáo
Phụ
Ðông
Phương
năm
1957
đã
chấp
thuận
quyền
chuẩn
chước
về
mô
thức
và
thi
hành
việc
chữa
hẳn
khuyết
điểm
mô
thức
(cứ
5
năm):
"Ngoài
tòa
Thượng
Phụ
Giáo
Chủ
ra,
các
Tổng
Giáo
Chủ
và
các
Bản
quyền
địa
phương
khác...
không
phải
phục
vụ
quyền
bề
trên
nào
dươi?#242;a
Thánh".
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
T.
Leô
Cả,
Thư
Quod
saepissime,
15-4-454:
"Petitionem
autem".
-
T.
Nicephorô
CP,
ch
13.
-
CÐ
Thượng
Phụ
Sergiô,
18-9-1596,
đ
th
17.
-
Piô
VI,
Tông
thư
Assueto
paterne,
8-4-1775.
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
khác
nhau
không
luôn
luôn
theo
cùng
một
niên
lịch.
Có
khi
trong
cùng
một
thành
phố,
các
Giáo
Hội
theo
Lễ
Chế
khác
hau,
cử
hành
lễ
Phục
Sinh
không
cùng
một
ngày.
Công
Ðồng
mong
muốn
các
Giáo
Hội
đó
nên
đồng
ý
với
nhau
dể
cử
hành
lễ
Phục
Sinh
cùng
một
ngày.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
CÐ
Vaticanô
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh,
ngày
4-12-1963.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
Clementê
VIII,
Huấn
dụ
Sanctissimus,
31-8-1595,
6:
"Si
ipsi
graeci".
-
Bộ
Thánh
Vụ,
7-6-1673,
ad
1
và
3;
13-3-1727,
ad
1.
-
Thánh
Bộ
Truyền
Giáo,
Sắc
lệnh
18-8-1913,
mục
33;
Sắc
lệnh
14-8-1914,
mục
27;
Sắc
lệnh
27-3-1916,
mục
14.
-
Thánh
Bộ
Giáo
Vụ
Ðông
Phương,
Sắc
lệnh
1-3-1929,
mục
36;
Sắc
lệnh
4-5-1930,
mục
41.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Nếu
trong
một
gia
đình,
vợ
và
chồng
thuộc
hai
Giáo
Hội
khác
nhau,
cả
gia
đình
có
thể
theo
quy
luật
(ngày
lễ,
chay
tịnh,
kiêng
thịt...)
của
cùng
một
Giáo
Hội
riêng
biệt
cũng
được.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
CÐ
Laodiceô,
347-381,
đ
th
18.
-
CÐ
Mar
Issaci
Chaldaeorum,năm
410,
đ
th
15.
-
CÐ
Nerses
Glaien,
Armenorum,
năm
1166.
-
Innocentiô
IV,
thư
Sub
Catholicae,
6-3-1254,
8.
-
Benedictô
XIV,
Tông
hiến
Etsi
Pastoraltis,
26-5-1742,
7,
số
5.
-
Huấn
thị
Eo
quamvis
tempore,
4-5-1745,
42
và
tiếp
theo.
-
Các
CÐ
riêng
mới
đây:
CÐ
Armenô
(1911),
CÐ
Coptô
(1898),
CÐ
Maronitô
(1736),
CÐ
Rumenô
(1872),
CÐ
Rutenô
(1891),
CÐ
Syrô
(1888).
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Theo
truyền
thống
đông
phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Mục
đích
của
chương
cuối
cùng
này
là
đưa
ra
vài
huấn
lệnh
cho
người
Công
Giáo
Ðông
Phương
để
giúp
cho
Giáo
Hội
ly
khai
và
Giáo
Hội
Công
Giáo
xích
lại
gần
nhau
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
34*
Người
Công
Giáo
Ðông
Phương
phải
chứng
tỏ
cho
anh
em
ly
khai
thấy
rằng
sự
hiệp
nhất
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
có
thể
thực
hiện
mà
không
làm
mất
những
cá
tính
đặc
biệt
của
mỗi
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
35*
Tiếng
Latinh
(animoum)
chỉ
thái
độ
hay
tâm
trạng
của
các
tín
hữu
thuộc
một
Giáo
Hội
riêng
biệt.
(Trở
lại
đầu
trang)
36*
Tiếng
này
bao
hàm
những
đồ
vật
thánh,
nhất
là
những
ảnh
thánh.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Theo
nội
dung
của
Tông
hiến
về
sự
hiệp
nhất
của
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
37*
Xưa
kia
Giáo
Hội
đòi
buộc
phải
tuyên
thệ
bỏ
ly
giáo
và
vạ
tuyệt
thông
được
tháo
gỡ
bằng
một
lời
xá
giải
đúng
nghi
thức.
Cả
hai
việc
này
được
Công
Ðồng
hủy
bỏ.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Bó
buộc
của
Công
Ðồng
đối
với
anh
em
ly
khai
Ðông
Phương
và
đối
với
tất
cả
các
thứ,
bậc
trong
phẩm
trật
thuộc
về
luật
Chúa
và
luật
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
38*
Vì
thế,
một
linh
mục
đông
phương
ly
khai
sau
khi
trở
về
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
có
thể
thi
hành
nhiệm
vụ
linh
mục
trong
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Cũng
thế
thầy
phó
tế
sẽ
có
thể
thi
hành
nhiệm
vụ
phó
tế
vì
họ
đã
được
thụ
phong
thành
sự
trong
Giáo
Hội
ly
khai.
(Trở
lại
đầu
trang)
39*
Tiếng
chuyên
môn
này
chỉ
sự
tham
dự
của
một
người
Công
Giáo
vào
một
nghi
thức
tôn
giáo
hay
những
phận
vụ
tôn
giáo
của
một
Giáo
Hội
không
công
giáo;
ví
dụ
người
Công
Giáo
tham
dự
vào
Thánh
Lễ
do
Giáo
Hội
ly
khai
cử
hành,
hay
tham
dự
vào
giờ
ca
tụng
Thiên
Chúa
trong
một
Giáo
Hội
ly
khai
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Giáo
lý
này
cũng
có
giá
trị
trong
các
Giáo
Hội
ly
khai.
(Trở
lại
đầu
trang)
40*
Danh
từ
dùng
ở
đây
có
nghĩa
rất
tổng
quát,
bao
hàm
tất
cả
những
gì
có
liên
quan
tới
việc
phụng
tự
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Thánh
Basiliô
Cả,
Epist.
canonica
ad
Amphilochium,
PG
32,
669
B.
(Trở
lại
đầu
trang)
41*
Người
tín
hữu
Ðông
Phương
ly
khai
xin
nhận
các
bí
tích
vì
ý
nhay
lành
khi
thành
tâm
tưởng
rằng
mình
đang
thuộc
về
Chúa
Kitô
và
có
thể
được
cứu
rỗi
trong
Giáo
Hội
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
42*
Có
sự
ngăn
trở
thể
lý,
khi
nào
trong
miền
phụ
cận
không
có
Linh
Mục
Công
Giáo.
Có
ngăn
trở
luân
lý
khi
Linh
Mục
Công
Giáo
ở
xa
hay
đau
yếu.
Những
trường
hợp
như
thế
thường
xảy
ra
hoặc
ở
Ðông
Phương
hoặc
đối
với
những
tín
hữu
sống
trong
tình
trạng
di
cư.
Công
Ðồng
quan
tâm
đến
phần
rỗi
của
từng
Kitô
hữu.
Bởi
thế,
dù
chỉ
vì
lợi
ích
thiêng
liêng,
cũng
đã
đủ
lý
do
để
xin
một
linh
mục
thuộc
Giáo
Hội
ly
khai
ban
bí
tích.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Những
yếu
tố
sau
đây
được
coi
là
nền
tảng
của
sự
uyển
chuyển
trên:
1)
Tính
cách
thành
sự
của
các
Bí
Tích.
2)
Ý
ngay
lành
và
thái
độ
tâm
hồn
(chuẩn
bị).
3)
Sự
cần
thiết
của
ơn
cứu
rỗi
đời
đời.
4)
Không
có
linh
mục
riêng
của
lễ
chế
mình.
5)
Không
có
nguy
hại
đáng
trách
và
rõ
ràng
kéo
theo
sự
lầm
lạc.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Ðây
chỉ
nói
về
việc
hiệp
thông
sự
thánh
ngoài
bí
tích.
Thánh
Công
Ðồng
chấp
nhận
sự
uyển
chuyển
trên,
dĩ
nhiên
vẫn
phải
giữ
những
gì
buộc
giữ.
(Trở
lại
đầu
trang)
43*
Một
lý
do
chính
đáng
không
những
là
sự
cần
thiết
mà
còn
là
một
lợi
ích
thật
sự.
Dĩ
nhiên
phải
giả
thiết
trường
hợp
không
thể
thỏa
mãn
các
nhu
cầu
đó
trong
Giáo
Hội
Công
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
44*
Trong
việc
"hiệp
thông
sự
thánh"
luôn
luôn
có
một
sự
liều
lĩnh
nào
đó:
chính
vì
thế
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
giới
hữu
quyền
trong
Giáo
Hội
phải
lưu
tâm
hầu
tránh
những
lạm
dụng
và
nguy
hiểm
thật
sự.
Khi
Công
Ðồng
đề
cập
đến
sự
thông
cảm
giữa
các
Giám
Mục
Công
Giáo
và
ly
khai,
Công
Ðồng
giả
thiết
không
những
có
sự
chung
sống
ôn
hòa
giữa
đôi
bên,
mà
còn
ám
chỉ
một
sự
xích
lại
gần
nhau
của
hai
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
45*
Trong
trường
hợp
các
Giáo
Hội
ly
khai
hiệp
nhất
với
Giáo
Hội
Công
Giáo
một
số
quy
luật
của
Sắc
Lệnh
này
sẽ
không
còn
lý
do
tồn
tại;
nhiều
quy
luật
khác
cần
phải
sửa
đổi
hay
thích
nghi
với
hoàn
cảnh
mới.
(Trở
lại
đầu
trang)
46*
Lời
mời
gọi
của
Công
Ðồng
gửi
đến
tất
cả
mọi
tín
hữu.
Như
vậy
cũng
gửi
đến
các
tín
hữu
thuộc
các
Giáo
Hội
ly
khai.
Do
đó
Công
Ðồng
lại
biểu
lộ
lòng
ao
ước
hiệp
nhất
giữa
các
Giáo
Hội
trong
sự
viên
mãn
của
Giáo
Hội
Công
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
47*
Công
Ðồng
ám
chỉ
đến
các
cuộc
đàn
áp
đang
đè
nặng
trên
các
tín
hữu
Ðông
Phương
ở
một
vài
nơi,
hoặc
do
các
chế
độ
độc
tài,
hoặc
đôi
khi
do
người
Hồi
Giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
Rm
12,10.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II