VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
VIII
Ðức
Nữ
Trinh
Maria
Mẹ
Thiên
Chúa
Trong
Mầu
Nhiệm
Chúa
Kitô
Và
Giáo
Hội
67*
I.
Lời
Mở
Ðầu
52.
Nhập
đề.
68*
Thiên
Chúa
là
Ðấng
vô
cùng
nhân
hậu
và
khôn
ngoan
đã
muốn
hoàn
tất
việc
cứu
chuộc
thế
giới,
nên
"khi
đến
thời
viên
mãn,
Ngài
đã
sai
Con
Mình
đến,
sinh
bởi
người
nữ...
để
chúng
ta
được
nhận
làm
nghĩa
tử"
(Gal
4,4-5).
"Vì
loài
người
chúng
ta
và
để
cứu
rỗi
chúng
ta,
Người
đã
từ
trời
xuống
thế,
bởi
phép
Chúa
Thánh
Thần,
Người
đã
nhập
thể
trong
lòng
Trinh
Nữ
Maria"
1.
Mầu
nhiệm
cứu
rỗi
thần
linh
này
được
mạc
khải
cho
chúng
ta
và
vẫn
tiếp
tục
trong
Giáo
Hội,
Giáo
Hội
mà
Chúa
đã
lập
làm
thân
thể
Người.
Trong
Giáo
Hội
ấy,
liên
kết
với
Chúa
Kitô
Thủ
Lãnh,
và
hiệp
thông
với
toàn
thể
các
Thánh
Người,
các
tín
hữu
cũng
phải
kính
nhớ
"trước
hết
đức
Maria
vinh
hiển,
trọn
đời
Ðồng
Trinh,
Mẹ
Thiên
Chúa
và
Mẹ
Chúa
Giêsu
Kitô,
Chúa
chúng
ta"
2.
69*
53.
Ðức
Maria
và
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
khi
sứ
thần
truyền
tin,
Ðức
Nữ
Trinh
Maria
đã
đón
nhận
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
trong
tâm
hồn
và
thân
xác,
và
đem
sự
sống
đến
cho
thế
gian.
Ngài
được
công
nhận
và
tôn
kính
là
Mẹ
thật
của
Thiên
Chúa
và
của
Ðấng
Cứu
Thế.
Ðược
cứu
chuộc
cách
kỳ
diệu
hơn
nhờ
công
nghiệp
Con
Ngài
và
hiệp
nhất
mật
thiết
và
bền
chặt
với
Con,
Ðức
Maria
đã
lãnh
nhận
sứ
mệnh
và
vinh
dự
cao
cả
là
được
làm
Mẹ
Con
Thiên
Chúa,
do
đó
làm
ái
nữ
của
Chúa
Cha
và
cung
thánh
của
Chúa
Thánh
Thần.
Nhờ
lãnh
nhận
ân
sủng
vô
cùng
cao
quí
này,
Ngài
đã
trổi
vượt
mọi
tạo
vật
trên
trời
dưới
đất.
Nhưng
đồng
thời,
vì
thuộc
dòng
dõi
Adam,
Ngài
cũng
liên
kết
với
tất
cả
mọi
người
cần
được
cứu
rỗi;
hơn
nữa,
"Ngài
thật
là
Mẹ
các
chi
thể
(của
Chúa
Kitô)...
vì
đã
cộng
tác
trong
đức
ái
để
sinh
ra
các
tín
hữu
trong
Giáo
Hội
là
những
chi
thể
của
Ðầu
ấy"
3.
Vì
thế,
Ngài
cũng
được
chào
kính
như
chi
thể
của
Giáo
Hội
tối
cao
và
độc
nhất
vô
nhị,
cũng
như
mẫu
mực
và
gương
sáng
phi
thường
của
Giáo
Hội
trên
phương
diện
đức
tin
và
đức
ái.
Và
Giáo
Hội
Công
Giáo,
được
Chúa
Thánh
Thần
chỉ
dạy,
dâng
lên
Ngài
tình
con
thảo,
như
đối
với
một
người
Mẹ
rất
dấu
yêu.
70*
54.
Ý
hướng
của
Công
Ðồng.
Bởi
thế,
khi
trình
bày
giáo
lý
về
Giáo
Hội
-
trong
Giáo
Hội
này,
Chúa
Cứu
Thế
thực
hiện
cuộc
cứu
độ
-
Thánh
Công
Ðồng
ân
cần
mong
muốn
làm
sáng
tỏ
vai
trò
của
Ðức
Nữ
Trinh
trong
mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
Nhập
Thể
và
Nhiệm
Thể,
cũng
như
làm
sáng
tỏ
bổn
phận
những
người
được
cứu
chuộc
đối
với
Mẹ
Thiên
Chúa,
là
Mẹ
Chúa
Kitô
và
Mẹ
nhân
loại,
cách
riêng
Mẹ
các
tín
hữu.
Tuy
nhiên,
Công
Ðồng
không
có
ý
đưa
ra
một
học
thuyết
đầy
đủ
về
Ðức
Maria
và
giải
quyết
các
vấn
đề
mà
sự
nghiên
cứu
của
các
nhà
thần
học
chưa
làm
sáng
tỏ
trọn
vẹn.
Những
ý
kiến
được
tự
do
trình
bày
trong
các
trường
phái
công
giáo
về
Ðấng
có
địa
vị
cao
cả
nhất
trong
Giáo
Hội
thánh
sau
Chúa
Kitô,
và
cũng
là
Ðấng
rất
gần
chúng
ta
4,
những
ý
kiến
ấy
đều
được
duy
trì
cách
hợp
pháp
71*.
II.
Vai
Trò
Ðức
Nữ
Trinh
Trong
Nhiệm
Cuộc
Cứu
Rỗi
72*
55.
Mẹ
Ðấng
Cứu
Thế
trong
Cựu
Ước.
Thánh
Kinh,
Cựu
Ước
cũng
như
Tân
Ước,
và
Thánh
Truyền
đáng
kính,
trình
bày
ngày
một
sáng
tò
hơn
vai
trò
của
Mẹ
Ðấng
Cứu
Thế
trong
nhiệm
cuộc
cứu
rỗi
và
đưa
vai
trò
ấy
ra
cho
chúng
ta
chiêm
ngắm.
Thực
vậy,
các
sách
Cựu
Ước
thuật
lại
lịch
sử
cứu
rỗi,
trong
đó
ngày
Chúa
Kitô
xuất
hiện
trên
thế
giới
được
chuẩn
bị
cách
tiệm
tiến.
Các
tài
liệu
tiên
khởi
này,
như
Giáo
Hội
vẫn
đọc
và
về
sau
hiểu
theo
ánh
sáng
mạc
khải
trọn
vẹn,
dần
dần
cho
thấy
rõ
ràng
hơn
hình
ảnh
người
nữ,
Mẹ
Ðấng
Cứu
Thế.
Theo
ánh
sáng
mạc
khải
ấy,
người
nữ
này
đã
được
phác
họa
trước
trong
lời
hứa
chiến
thắng
con
rắn,
lời
hứa
mà
Tổ
Tông
đã
nhận
được
sau
khi
phạm
tội
(x.
Stk
3,15).
Cũng
thế,
Ngài
là
Trinh
Nữ
sẽ
thụ
thai
và
sinh
con
trai
tên
là
Emmanuel
(x.
Is
7,14
so
sánh
với
Mik
5,2-3;
Mt
1,22-23).
Ngài
trổi
vượt
trên
các
người
khiêm
hạ
và
khó
nghèo
của
Chúa,
là
những
người
tin
tưởng,
hy
vọng
và
lãnh
nhận
ơn
cứu
độ
nơi
Chúa.
Cuối
cùng,
sau
đêm
dài
mong
đợi
lời
hứa
được
thực
hiện,
với
Ngài,
người
Thiếu
Nữ
cao
sang
của
Sion,
thời
gian
đã
nên
trọn
và
Nhiệm
Cuộc
mới
được
thiết
lập:
khi
Con
Thiên
Chúa
mặc
lấy
bản
tính
nhân
loại
nơi
Ngài
để
giải
thoát
con
người
khỏi
tội
lỗi
nhờ
các
mầu
nhiệm
của
thân
xác
Chúa.
73*
56.
Ðức
Maria
trong
việc
truyền
tin.
Nhưng
Chúa
Cha
rất
nhân
từ
đã
muốn
sự
ưng
thuận
của
người
mẹ
được
tiền
định
trước
khi
Chúa
Con
nhập
thể,
để
như
một
người
nữ
đã
hợp
tác
cho
sự
chết,
thì
cũng
một
người
nữ
hợp
tác
cho
sự
sống.
Ðiều
đó
đặc
biệt
thích
hợp
với
Mẹ
Chúa
Giêsu,
vì
Ngài
đem
đến
cho
thế
giới
chính
Nguồn
Sống
cải
tạo
mọi
sự,
và
đã
được
Chúa
ban
cho
nhiều
ơn
cân
xứng
với
sứ
mệnh
cao
cả
như
thế.
Do
đó,
không
có
gì
lạ,
nếu
các
Thánh
Giáo
Phụ
đã
thường
xưng
tụng
Mẹ
Thiên
Chúa
là
Ðấng
toàn
thánh,
không
vương
nhiễm
một
tội
nào,
như
một
tạo
vật
mới
do
Chúa
Thánh
Thần
uốn
nắn
và
tác
thành
5.
Tràn
đầy
thánh
thiện,
có
một
không
hai
ngay
từ
lúc
mới
được
thụ
thai,
Ðức
Trinh
Nữ
thành
Nazareth
được
Thiên
Thần
vâng
lệnh
Chúa
đến
truyền
tin
và
kính
chào
là
"Ðấng
đầy
ân
phúc"
(x.
Lc
1,28).
Và
Trinh
Nữ
đã
đáp
lời
Thiên
Sứ
rằng:
"Này
tôi
là
Tôi
Tá
Chúa,
xin
hãy
xảy
ra
cho
tôi
theo
lời
Ngài"
(Lc
1,38).
Như
thế,
Ðức
Maria,
con
cháu
Adam,
vì
chấp
nhận
lời
Thiên
Chúa,
đã
trở
nên
Mẹ
Chúa
Giêsu.
Hết
lòng
đón
lấy
ý
định
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa,
vì
không
một
tội
nào
ngăn
trở
Ngài,
Ðức
Maria
đã
tận
hiến
làm
tôi
tớ
Chúa,
phục
vụ
cho
thân
thể
và
sự
nghiệp
của
Con
Ngài,
và
nhờ
ân
sủng
của
Thiên
Chúa
toàn
năng,
phục
vụ
mầu
nhiệm
cứu
chuộc
dưới
quyền
và
cùng
với
Con
Ngài.
Bởi
vậy,
các
Thánh
Giáo
Phụ
đã
nghĩ
rất
đúng
rằng:
Thiên
Chúa
đã
không
thu
dụng
Ðức
Maria
một
cách
thụ
động,
nhưng
đã
để
Ngài
tự
do
cộng
tác
vào
việc
cứu
rỗi
nhân
loại,
nhờ
lòng
tin
và
sự
vâng
phục
của
Ngài.
Thực
vậy,
Thánh
Ireneô
nói:
"Chính
Ngài,
nhờ
vâng
phục,
đã
trở
nên
nguyên
nhân
cứu
rỗi
cho
mình
và
cho
toàn
thể
nhân
loại"
6.
Và
cùng
với
thánh
Ireneô
còn
có
rất
nhiều
Thánh
Giáo
Phụ
thời
xưa
cũng
không
ngần
ngại
giảng
dạy
rằng:
"Nút
dây
đã
bị
thắt
lại
do
sự
bất
tuân
của
Evà,
nay
được
gỡ
ra
nhờ
sự
vâng
phục
của
Ðức
Maria;
điều
mà
trinh
nữ
Evà
đã
buộc
lại
bởi
cứng
lòng
tin,
Ðức
Trinh
Nữ
Maria
đã
tháo
ra
nhờ
lòng
tin
7;
và
so
sánh
với
Evà,
các
ngài
gọi
Ðức
Maria
là
"Mẹ
kẻ
sống"
8,
và
thường
quả
quyết
rằng:
"bởi
Evà
đã
có
sự
chết,
thì
nhờ
Maria
lại
được
sống"
9.
74*
57.
Ðức
Maria
và
thời
thơ
ấu
Chúa
Giêsu.
Sự
liên
kết
giữa
Mẹ
và
Con
trong
công
cuộc
cứu
rỗi
được
tỏ
rõ
từ
khi
Ðức
Maria
thụ
thai
Chúa
Kitô
cách
trinh
khiết
cho
đến
lúc
Chúa
Kitô
chết.
Thực
vậy,
trước
hết,
Ðức
Maria
vội
vã
đến
thăm
bà
Elizabeth
và
được
bà
ấy
chào
mừng
là
người
có
phúc
vì
đã
tin
vào
sự
cứu
rỗi
Chúa
đã
hứa,
trong
lúc
đó
vị
tiền
hô
nhảy
trong
lòng
mẹ
(x.
Lc
1,
41-45).
Rồi
ngày
sinh
nhật,
Mẹ
Thiên
Chúa
đã
vui
mừng
giới
thiệu
với
các
mục
đồng
và
các
nhà
bác
học
đứa
Con
đầu
lòng
của
mình,
mà
khi
sinh
ra
đã
không
làm
giảm
bớt
nhưng
còn
thánh
hiến
sự
trinh
khiết
toàn
vẹn
của
Ngài
10.
Trong
đền
thánh,
sau
khi
hiến
lễ
vật
ấn
định
cho
người
nghèo,
Ðức
Maria
dâng
Con
lên
cho
Thiên
Chúa,
và
đã
nghe
Simeon
báo
trước
Con
mình
sẽ
là
dấu
chỉ
sự
phản
kháng,
và
một
lưỡi
gươm
sẽ
đâm
thấu
lòng
mẹ,
nhờ
đó
tư
tưởng
trong
lòng
nhiều
người
sẽ
được
bày
tỏ
(x.
Lc
2,
34-35).
Khi
trẻ
Giêsu
lạc
mất,
Cha
Mẹ
đã
lo
âu
tìm
kiếm
và
gặp
lại
Con
trong
đền
thánh
đang
bận
tâm
lo
việc
của
Cha
Người.
Các
Ngài
không
hiểu
lời
Con
nói;
nhưng
Mẹ
Chúa
Giêsu
giữ
lấy
tất
cả
các
điều
ấy
và
suy
gẫm
trong
lòng
(x.
Lc
2,
41-51).
75*
58.
Ðức
Maria
và
đời
sống
công
khai
Chúa
Giêsu.
Trong
cuộc
đời
công
khai
của
Chúa
Giêsu,
Mẹ
Người
cũng
đã
xuất
hiện
rõ
ràng,
và
ngay
từ
đầu,
trong
tiệc
cưới
thành
Cana
xứ
Galilêa,
vì
động
lòng
thương
xót,
Ngài
đã
cầu
bầu,
khiến
Chúa
Giêsu,
Ðấng
Thiên
Sai,
làm
phép
lạ
đầu
tiên
của
Người
(x.
Gio
2,
1-11).
Trong
thời
gian
Chúa
truyền
đạo,
Ðức
Maria
đã
đón
nhận
lời
của
Con
Ngài,
những
lời
nâng
cao
Nước
Trời
lên
khỏi
những
lý
do
và
liên
hệ
huyết
nhục,
và
tuyên
bố
là
có
phúc
cho
những
ai
nghe
và
giữ
lời
Thiên
Chúa
(x.
Mc
3,35
và
song
song;
Lc
11,27-28)
như
chính
Ngài
hằng
thực
hành
những
điều
đó
cách
trung
tín
(x.
Lc
2,19
và
51).
Như
thế
Ðức
Nữ
Trinh
cũng
đã
tiến
bước
trong
cuộc
lữ
hành
đức
tin,
trung
thành
hiệp
nhất
với
Con
cho
đến
bên
thập
giá,
là
nơi
mà
theo
ý
Thiên
Chúa,
Ngài
đã
đứng
đó
(x.
Gio
19,25).
Ðức
Maria
đã
đau
đớn
chịu
khổ
cực
với
Con
một
của
mình
và
dự
phần
vào
hy
lễ
của
Con,
với
tấm
lòng
của
một
người
mẹ
hết
tình
ưng
thuận
hiến
tế
lễ
vật
do
lòng
mình
sinh
ra.
Và
cuối
cùng
chính
Chúa
Giêsu
Kitô
khi
hấp
hối
trên
thập
giá
đã
trối
Ngài
làm
Mẹ
của
môn
đệ
qua
lời
này:
"Thưa
Bà,
này
là
con
Bà"
(x.
Gio
19,26-27)
11.
76*
59.
Ðức
Maria
sau
khi
Chúa
lên
trời.
Vì
Thiên
Chúa
không
muốn
tỏ
bày
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
nhân
loại
cách
long
trọng
trước
khi
Ngài
đổ
tràn
Thánh
Thần
Chúa
Kitô
đã
hứa,
nên
chúng
ta
thấy
các
Tông
Ðồ
trước
ngày
Hiện
Xuống
"đã
kiên
tâm
hiệp
ý
cầu
nguyện,
cùng
với
các
phụ
nữ,
với
Ðức
Maria,
Mẹ
Chúa
Giêsu,
và
với
anh
em
Người"
(CvTđ
1,14).
Ðức
Maria
cũng
tha
thiết
cầu
xin
Thiên
Chúa
ban
Thánh
Thần,
là
Ðấng
đã
bao
phủ
lấy
Ngài
trong
ngày
Truyền
Tin.
Sau
cùng,
được
gìn
giữ
tinh
sạch
khỏi
mọi
vết
tội
nguyên
tổ
12,
và
sau
khi
hoàn
tất
cuộc
đời
dưới
thế,
Ðức
Nữ
Trinh
Vô
Nhiễm
đã
được
đưa
lên
hưởng
vinh
quang
trên
trời
cả
hồn
lẫn
xác
13,
và
được
Thiên
Chúa
tôn
vinh
làm
Nữ
Vương
vũ
trụ,
để
nên
giống
Con
Ngài
trọn
vẹn
hơn,
là
Chúa
các
Chúa
(x.
Kh
19,16),
Ðấng
đã
chiến
thắng
tội
lỗi
và
sự
chết
14.
77*
III.
Ðức
Nữ
Trinh
Và
Giáo
Hội
78*
60.
Ðức
Kitô,
Ðấng
trung
gian
độc
nhất
và
Mẹ
Maria.
79*
Chúng
ta
chỉ
có
một
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất,
như
lời
Thánh
Tông
Ðồ
dạy:
"Thực
vậy,
chỉ
có
một
Thiên
Chúa
duy
nhất,
và
chỉ
có
một
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất
giữa
Thiên
Chúa
với
nhân
loại,
đó
là
Chúa
Giêsu
Kitô,
là
Người,
đã
dâng
mình
làm
giá
chuộc
mọi
người"
(1Tm
2,5-6).
Nhưng
vai
trò
làm
mẹ
của
Ðức
Maria
đối
với
loài
người
không
làm
lu
mờ
hay
giảm
bớt
vai
trò
trung
gian
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
chút
nào,
trái
lại
còn
làm
sáng
tỏ
mãnh
lực
của
sự
trung
gian
ấy.
Vì
mọi
ảnh
hưởng
có
sức
cứu
rỗi
của
Ðức
Nữ
Trinh
trên
nhân
loại
không
phát
sinh
từ
một
sự
cần
thiết
khách
thể
nào,
nhưng
từ
ý
định
nhân
lành
của
Thiên
Chúa,
và
bắt
nguồn
từ
công
nghiệp
dư
tràn
của
Chúa
Kitô.
Ảnh
hưởng
ấy
nương
tựa
và
hoàn
toàn
tùy
thuộc
vào
sự
trung
gian
của
Chúa
Kitô,
nguồn
mạch
mọi
quyền
lực
của
ảnh
hưởng
đó.
Nhưng
ảnh
hưởng
này
không
làm
cản
trở
gì,
trái
lại
còn
giúp
đỡ
các
tín
hữu
kết
hiệp
trực
tiếp
với
Chúa
Kitô.
80*
61.
Cộng
tác
vào
việc
cứu
chuộc.
Từ
muôn
đời,
Ðức
Nữ
Trinh
đã
được
tiền
định
làm
Mẹ
Thiên
Chúa
cùng
một
lúc
với
việc
nhập
thể
của
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa.
Và
theo
chương
trình
của
Chúa
Quan
Phòng,
trên
trần
gian
Ngài
đã
trở
nên
Mẹ
cao
trọng
của
Ðấng
Cứu
Chuộc
thần
linh,
và
cách
đặc
biệt
hơn
mọi
người
khác,
Ngài
là
cộng
sự
viên
quảng
đại
và
tôi
tá
khiêm
hạ
của
Chúa.
Vì
đã
cưu
mang,
sinh
hạ
và
nuôi
dưỡng
Chúa
Kitô,
đã
dâng
Chúa
Kitô
lên
Chúa
Cha
trong
đền
thánh
và
cùng
đau
khổ
với
Con
mình
chết
trên
thập
giá,
Ðức
Maria
đã
cộng
tác
cách
rất
đặc
biệt
vào
công
trình
của
Ðấng
Cứu
Thế,
nhờ
lòng
vâng
phục,
nhờ
đức
tin,
đức
cậy
và
đức
ái
nồng
nhiệt,
để
tái
lập
sự
sống
siêu
nhiên
cho
các
linh
hồn.
Bởi
vậy,
trên
bình
diện
ân
sủng,
Ngài
thật
là
Mẹ
chúng
ta.
81*
62.
Vai
trò
tùy
thuộc
trong
việc
cứu
rỗi.
Nhưng
trong
nhiệm
cuộc
ân
sủng,
Ðức
Maria
luôn
tiếp
tục
thiên
chức
làm
mẹ,
từ
khi
Ngài
tin
tưởng
ưng
thuận
trong
ngày
Truyền
Tin
-
sự
ưng
thuận
mà
Ngài
đã
không
ngần
ngại
giữ
vững
bên
thập
giá
-
cho
tới
lúc
vĩnh
viễn
hoàn
tất
việc
cứu
rỗi
mọi
người
được
tuyển
chọn.
Thật
vậy,
sau
khi
về
trời,
vai
trò
của
Ngài
trong
việc
cứu
độ
không
chấm
dứt,
nhưng
Ngài
vẫn
tiếp
tục
liên
lỉ
cầu
bầu
để
đem
lại
cho
chúng
ta
những
ân
huệ
giúp
chúng
ta
được
phần
rỗi
đời
đời
15.
Với
tình
từ
mẫu,
Ngài
chăm
sóc
những
anh
em
của
Con
Ngài
đang
lữ
hành
trên
dương
thế
và
đang
gặp
bao
nguy
hiểm,
thử
thách,
cho
đến
khi
họ
đạt
tới
hạnh
phúc
quê
trời.
Vì
thế,
trong
Giáo
Hội,
Ðức
Nữ
Trinh
được
kêu
cầu
qua
các
tước
hiệu:
Trạng
Sư,
vị
Bảo
Trợ,
Ðấng
Phù
Hộ
và
Ðấng
Trung
Gian
16.
Tuy
nhiên
phải
hiểu
các
tước
hiệu
ấy
thế
nào
để
không
thêm
bớt
gì
vào
vinh
dự
và
quyền
năng
của
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất
17.
Thực
vậy,
không
bao
giờ
có
thể
đặt
một
tạo
vật
ngang
hàng
với
Ngôi
Lời
nhập
thể
và
cứu
chuộc;
nhưng
cũng
như
chức
linh
mục
của
Chúa
Kitô
được
thông
ban
dưới
nhiều
hình
thức
cho
các
thừa
tác
viên
và
các
giáo
dân,
và
cũng
như
sự
tốt
lành
duy
nhất
của
Thiên
Chúa
được
ban
phát
nhiều
cách
cho
các
tạo
vật,
thì
sự
trung
gian
duy
nhất
của
Ðấng
Cứu
Thế
không
những
không
loại
bỏ
mà
còn
khuyến
khích
các
thụ
sinh
cộng
tác,
trong
sự
tùy
thuộc
vào
nguồn
mạch
duy
nhất.
Vai
trò
tùy
thuộc
ấy
của
Ðức
Maria,
Giáo
Hội
không
ngần
ngại
tuyên
xưng,
mà
luôn
nghiệm
thấy,
và
nhắn
nhủ
các
tín
hữu
ghi
nhớ
trong
lòng
để
nhờ
sự
nâng
đỡ
và
phù
hộ
từ
mẫu
của
Ngài,
họ
gắn
bó
mật
thiết
hơn
với
Ðấng
Trung
Gian
và
Cứu
Thế.
82*
63.
Maria
trinh
nữ
và
người
mẹ
là
mẫu
mực
của
Giáo
Hội.
83*
Ðức
Trinh
Nữ
nhờ
ân
huệ
và
sứ
mệnh
làm
Mẹ
Thiên
Chúa,
nhờ
đó
Ngài
được
hiệp
nhất
với
Con
là
Ðấng
Cứu
Chuộc,
và
nhờ
các
ơn
và
nhiệm
vụ
đặc
biệt
khác,
Ngài
còn
kết
hiệp
mật
thiết
với
Giáo
Hội,
như
thánh
Ambrosiô
đã
dạy,
Mẹ
Thiên
Chúa
là
mẫu
mực
của
Giáo
Hội
trên
bình
diện
đức
tin,
đức
ái
và
hiệp
nhất
hoàn
hảo
với
Chúa
Kitô
18.
Thực
vậy,
trong
mầu
nhiệm
Giáo
Hội,
chính
Giáo
Hội
cũng
được
gọi
cách
hợp
pháp
là
Mẹ
và
Trinh
Nữ,
Ðức
Nữ
Trinh
Maria
đi
tiên
phong,
tỏ
ra
là
một
người
mẹ
và
một
trinh
nữ
gương
mẫu
tuyệt
vời
và
hiếm
có
19.
Vì,
bởi
lòng
tin
và
vâng
phục,
Ngài
đã
sinh
chính
Con
Chúa
Cha
nơi
trần
gian,
mà
không
hề
biết
đến
người
nam,
nhưng
được
Chúa
Thánh
Thần
bao
phủ.
Như
một
Evà
mới,
Ngài
đã
đặt
niềm
tin
vào
sứ
giả
của
Thiên
Chúa,
chứ
không
đặt
vào
con
rắn
xưa,
một
niềm
tin
không
bị
một
nghi
ngờ
nào
làm
phai
nhạt.
Nhưng
Người
Con
mà
Ngài
đã
sinh
ra,
Thiên
Chúa
đã
đặt
làm
Trưởng
Tử
trong
nhiều
anh
em
(x.
Rm
8,29),
nghĩa
là
các
tín
hữu,
mà
Ngài
cộng
tác
vào
việc
sinh
hạ
và
giáo
dục
với
tình
thương
của
một
người
mẹ.
84*
64.
Giáo
Hội
là
trinh
nữ
và
là
mẹ.
Tuy
nhiên,
khi
chiêm
ngưỡng
sự
thánh
thiện
kỳ
bí
và
noi
gương
đức
ái
của
Ðức
Maria,
và
khi
trung
thành
chu
toàn
thánh
ý
Chúa
Cha,
Giáo
Hội
cũng
được
làm
mẹ
nhờ
lời
Thiên
Chúa
mà
Giáo
Hội
trung
thành
lãnh
nhận:
thực
vậy,
nhờ
việc
rao
giảng
và
ban
phép
Thánh
Tẩy,
Giáo
Hội
sinh
hạ
những
người
con
được
thụ
thai
bởi
phép
Chúa
Thánh
Thần
và
sinh
ra
do
Thiên
Chúa
để
họ
lãnh
nhận
một
đời
sống
mới
và
bất
diệt.
Giáo
Hội
cũng
là
trinh
nữ
đã
giữ
gìn
toàn
vẹn
và
tinh
tuyền
lòng
trung
nghĩa
đã
hiến
cho
Phu
Quân;
và
noi
gương
Mẹ
Chúa
mình,
nhờ
thần
lực
của
Thánh
Thần,
Giáo
Hội
bảo
tồn
cho
tinh
tuyền
một
đức
tin
toàn
vẹn,
một
đức
cậy
bền
vững
và
một
đức
mến
chân
thành
20.
85*
65.
Giáo
Hội
phải
bắt
chước
nhân
đức
của
Mẹ
Maria.
Tuy
nhiên,
Giáo
Hội,
qua
con
người
của
Ðức
Nữ
Trinh,
đã
đạt
tới
sự
toàn
thiện
làm
cho
mình
nên
thanh
sạch
và
vẹn
tuyền
(x.
Eph
5,27),
nhưng
Kitô
hữu
vẫn
còn
phải
cố
gắng
chiến
thắng
tội
lỗi
để
tiến
trên
đường
thánh
thiện.
Vì
thế,
họ
ngước
mắt
nhìn
lên
Ðức
Maria
là
một
mẫu
gương
nhân
đức
sáng
ngời
cho
toàn
thể
cộng
đoàn
những
người
được
chọn.
Nhờ
thành
kính
tưởng
nhớ
Ðức
Maria
và
chiêm
ngưỡng
Ngài
dưới
ánh
sáng
của
Ngôi
Lời
nhập
thể,
Giáo
Hội
cung
kính
tiến
sâu
hơn
vào
mầu
nhiệm
cao
thẳm,
tức
là
mầu
nhiệm
nhập
thể,
và
nên
giống
Phu
Quân
mình
ngày
một
hơn.
Thực
vậy,
Ðức
Maria
đã
mật
thiết
gắn
liền
với
lịch
sử
cứu
rỗi,
và
có
thể
nói
là
Ngài
đã
qui
tụ
và
phản
chiếu
nơi
mình
những
đòi
hỏi
cao
cả
nhất
của
đức
tin,
và
khi
các
tín
hữu
nghe
rao
giảng
về
Ngài
và
tôn
sùng
Ngài,
họ
được
Ngài
mời
gọi
đến
kết
hiệp
với
hy
lễ
của
Con
Ngài
và
yêu
mến
Chúa
Cha.
Phần
Giáo
Hội
càng
tìm
kiếm
vinh
quang
Chúa
Kitô
càng
nên
giống
Khuôn
Mẫu
cao
cả
của
mình,
nhờ
luôn
tiến
tới
trong
đức
tin,
đức
cậy,
đức
mến,
và
tìm
kiếm
cùng
vâng
theo
thánh
ý
Thiên
Chúa
trong
mọi
sự.
Do
đó,
trong
công
cuộc
tông
đồ,
Giáo
Hội
có
lý
để
nhìn
lên
Ðấng
đã
sinh
Chúa
Kitô
là
người
được
thụ
thai
bởi
phép
Chúa
Thánh
Thần
và
được
Ðức
Nữ
Trinh
sinh
ra
để,
nhờ
Giáo
Hội,
cũng
sinh
ra
và
lớn
lên
trong
lòng
các
tín
hữu.
Ðời
sống
của
Ðức
Nữ
Trinh
là
một
gương
sáng
của
tình
mẫu
tử
thắm
thiết.
Tình
mẫu
tử
ấy
phải
là
động
lực
của
tất
cả
những
ai
cộng
tác
vào
sứ
mệnh
tông
đồ
của
Giáo
Hội
để
tái
sinh
nhân
loại.
86*
IV.
Việc
Tôn
Kính
Ðức
Nữ
Trinh
Trong
Giáo
Hội
87*
66.
Bản
tính
và
nền
tảng
của
việc
tôn
kính
Ðức
Mẹ.
Nhờ
hồng
ân
Thiên
Chúa,
Ðức
Maria
được
tôn
vinh,
sau
Chúa
Con,
vượt
trên
hết
các
thiên
thần
và
loài
người,
vì
Ngài
là
Mẹ
rất
thánh
của
Thiên
Chúa
và
đã
tham
dự
vào
các
mầu
nhiệm
của
Chúa
Kitô;
do
đó
Ngài
đáng
được
Giáo
Hội
tôn
vinh
và
đặc
biệt
sùng
kính.
Thực
vậy,
từ
những
thời
rất
xa
xưa,
Ðức
Nữ
Trinh
đã
được
tôn
kính
dưới
tước
hiệu
"Mẹ
Thiên
Chúa",
và
các
tín
hữu
đã
khẩn
cầu
cùng
ẩn
náu
dưới
sự
che
chở
của
Ngài
trong
mọi
cơn
gian
nan
khốn
khó
21.
Nhất
là
từ
công
đồng
Ephêsô,
Dân
Thiên
Chúa
đã
gia
tăng
lòng
tôn
kính
Ðức
Maria
cách
lạ
lùng:
họ
sùng
kính
mến
yêu,
cầu
khẩn
và
noi
gương
đúng
như
lời
Ngài
đã
tiên
báo:
"Muôn
đời
sẽ
khen
tôi
có
phúc,
vì
Ðấng
toàn
năng
đã
làm
cho
tôi
những
việc
trọng
đại"
(Lc
1,48-49).
Sự
tôn
kính
ấy,
như
vẫn
luôn
có
trong
Giáo
Hội,
tuy
hoàn
toàn
đặc
biệt,
nhưng
tự
bản
chất
vẫn
khác
biệt
với
sự
thờ
phượng
dâng
lên
Ngôi
Lời
nhập
thể
và
lên
Chúa
Cha
và
Chúa
Thánh
Thần;
việc
tôn
kính
Ðức
Maria
khuyến
khích
thêm
việc
thờ
phượng
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi.
Giáo
Hội
đã
chấp
nhận
nhiều
hình
thức
tôn
sùng
Mẹ
Thiên
Chúa,
trong
giới
hạn
của
giáo
lý
lành
mạnh
và
chính
thống,
tùy
theo
hoàn
cảnh,
thời
gian
và
nơi
chốn,
hợp
với
tính
khí
cùng
tinh
thần
của
tín
hữu;
những
hình
thức
ấy,
qua
việc
tôn
vinh
Mẹ,
cũng
làm
cho
tín
hữu
nhận
biết
đúng
đắn,
yêu
mến,
làm
vinh
danh,
và
tuân
giữ
giới
răn
Chúa
Con,
vì
Người
mà
muôn
vật
được
tạo
thành
(x.
Col
1,15-16)
và
nơi
Người,
Chúa
Cha
hằng
hữu
"muốn
có
đầy
đủ
mọi
sự"
(Col
1,19).
88*
67.
Chiều
hướng
mục
vụ.
Thánh
Công
Ðồng
cố
ý
dạy
giáo
lý
công
giáo
ấy,
đồng
thời
Giáo
Hội
cũng
khuyến
khích
hết
mọi
con
cái
hãy
nhiệt
tâm
phát
huy
lòng
sùng
kính
Ðức
Nữ
Trinh,
nhất
là
trong
phụng
vụ,
hãy
coi
trọng
những
việc
thực
hành
và
việc
đạo
đức
nhằm
suy
tôn
ngài
và
đã
được
quyền
Giáo
Huấn
Giáo
Hội
cổ
võ
qua
các
thế
kỷ,
cũng
như
hãy
kính
cẩn
tuân
giữ
những
quyết
định
của
các
thời
đại
trước
liên
quan
đến
việc
tôn
kính
ảnh
tượng
Chúa
Kitô,
Ðức
Nữ
Trinh
và
các
Thánh
22.
Công
Ðồng
cũng
hết
lòng
khuyến
khích
các
nhà
thần
học
và
những
người
rao
giảng
lời
Chúa,
khi
xét
đến
phẩm
chức
phi
thường
của
Mẹ
Thiên
Chúa,
hãy
cẩn
thận
tránh
mọi
tư
tưởng
phóng
đại
sai
lầm
cũng
như
mọi
tư
tưởng
hẹp
hòi
quá
đáng
23.
Nhờ
học
hỏi
Thánh
Kinh,
các
Thánh
Giáo
Phụ,
các
tiến
sĩ
và
học
hỏi
các
phụng
vụ
trong
Giáo
Hội,
dưới
sự
hướng
dẫn
của
quyền
Giáo
Huấn,
họ
hãy
làm
sáng
tỏ
đúng
mức
những
chức
vụ
và
đặc
ân
của
Ðức
Trinh
Nữ;
những
chức
vụ
và
đặc
ân
này
luôn
qui
hướng
về
Chúa
Kitô,
nguồn
mạch
toàn
thể
chân
lý,
thánh
thiện
và
đạo
đức.
Họ
phải
cẩn
thận
tránh
xa
mọi
lời
nói
hay
việc
làm
có
thể
làm
cho
các
anh
em
ly
khai
hay
bất
cứ
ai
khác
hiểu
sai
giáo
lý
đích
thực
của
Giáo
Hội.
Phần
các
tín
hữu,
hãy
nhớ
rằng,
lòng
tôn
sùng
chân
chính
không
hệ
tại
tình
cảm
chóng
qua
và
vô
bổ,
cũng
không
hệ
tại
một
sự
dễ
tin
phù
phiếm,
nhưng
phát
sinh
từ
một
đức
tin
chân
thật.
Ðức
tin
dẫn
chúng
ta
đến
chỗ
nhìn
nhận
địa
vị
cao
cả
của
Mẹ
Thiên
Chúa,
và
thúc
đẩy
chúng
ta
lấy
tình
con
thảo
yêu
mến
và
noi
gương
các
nhân
đức
của
Mẹ
chúng
ta.
89*
V.
Ðức
Maria,
Dấu
Chỉ
Lòng
Cậy
Trông
Vững
Vàng
Và
Niềm
An
Ủi
Cho
Dân
Chúa
Ðang
Lữ
Hành
90*
68.
Ðức
Maria,
dấu
chỉ
của
Dân
Thiên
Chúa.
Ngày
nay
Mẹ
Chúa
Giêsu
đã
được
vinh
hiển
hồn
xác
trên
trời,
là
hình
ảnh
và
khởi
thủy
của
Giáo
Hội
sẽ
hoàn
thành
đời
sau;
cũng
thế,
dưới
đất
này,
cho
tới
ngày
Chúa
đến
(x.
2P
3,10),
Ngài
chiếu
sáng
như
dấu
chỉ
lòng
cậy
trông
vững
vàng
và
niềm
an
ủi
cho
dân
Chúa
đang
lữ
hành.
91*
69.
Ðức
Maria
chuyển
cầu
cho
sự
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Thánh
Công
Ðồng
rất
vui
mừng
và
được
an
ủi
khi
thấy
ngay
giữa
các
anh
em
ly
khai
không
thiếu
những
người
dâng
lên
Mẹ
Chúa
Cứu
Thế
vinh
dự
Ngài
đáng
được,
nhất
là
các
anh
em
Ðông
Phương,
những
người
nhiệt
thành
và
hết
lòng
sùng
kính
Mẹ
Thiên
Chúa
trọn
đời
đồng
trinh
24.
Tất
cả
mọi
Kitô
hữu
hãy
thiết
tha
khẩn
nguyện
Mẹ
Thiên
Chúa
cũng
là
Mẹ
loài
người,
để
như
Ngài
đã
trợ
giúp
Giáo
Hội
sơ
khai
bằng
lời
cầu
nguyện
của
mình,
thì
ngày
nay
được
tôn
vinh
vượt
trên
các
Thần
Thánh
trên
trời,
Ngài
cũng
cầu
bầu
cùng
Con
Ngài
trong
sự
hiệp
thông
toàn
thể
các
Thánh
cho
tới
khi
mọi
gia
đình
dân
tộc
hoặc
đã
mang
danh
hiệu
Kitô
hữu,
hoặc
chưa
biết
Ðấng
Cứu
Chuộc
mình,
đều
hân
hoan
đoàn
tụ
trong
an
bình
và
hòa
thuận,
hợp
thành
một
dân
Thiên
Chúa
duy
nhất,
hầu
vinh
danh
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa
rất
thánh
và
không
phân
chia.
92*.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Hiến
Chế
tín
lý
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và,
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
21
tháng
11
năm
1964.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
67*
Ðây
là
một
trong
những
chương
được
tranh
luận
nhiều
nhất.
Việc
khai
sinh
ra
nó
cũng
gây
nhiều
sôi
nổi.
Trong
số
những
lược
đồ
được
đệ
trình,
có
một
lược
đồ
về
Ðức
Maria.
Vì
những
lý
do
có
tính
cách
hoặc
thần
học
hoặc
mục
vụ
hoặc
hiệp
nhất,
một
vài
Nghị
Phụ
muốn
cho
lược
đồ
về
Ðức
Maria
xen
vào
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội.
Ngày
29-10-1963,
các
Nghị
Phụ
đứng
trước
một
câu
hỏi
như
sau:
"Các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
có
muốn
lược
đồ
về
Ðức
Trinh
Nữ
Mẹ
Giáo
Hội
đổi
thành
chương
cuối
cùng
của
lược
đồ
về
Giáo
Hội
chăng?"
Trước
khi
bỏ
phiếu,
có
hai
bản
phúc
trình
chính
thức
về
vấn
đề
này:
Hồng
Y
Konig,
người
muốn
cho
xen
vào
hiến
chế,
và
Hồng
Y
Santos
muốn
làm
một
lược
đồ
riêng.
Cả
hai
dùng
những
luận
chứng
dồi
dào
và
vững
chắc
để
trình
bày
trước
các
Nghị
Phụ
và
sự
thích
hợp
của
quan
điểm
mình.
Kết
quả
cuộc
đầu
phiếu
thật
sát
nút:
với
2,193
Nghị
Phụ
có
mặt
thì
1,114
vị
bỏ
phiếu
thuận,
1,074
phiếu
chống.
Phiếu
thuận
chỉ
hơn
có
40
phiếu
và
Công
Ðồng
chấp
nhận
việc
xen
lược
đồ
vào
trong
Hiến
Chế.
Một
vấn
đề
thứ
hai
được
đặt
ra:
nếu
xen
thì
xen
vào
chỗ
nào?
Mẹ
Thiên
Chúa
liên
kết
khắng
khít
với
mầu
nhiệm
Giáo
Hội,
nhưng
muốn
giải
thích
sự
liên
kết
này,
cần
quan
niệm
vai
trò
của
Mẹ
Thiên
Chúa
trong
mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
Nhập
Thể.
Ðối
với
khía
cạnh
này,
giáo
lý
về
Ðức
Maria
vượt
quá
giáo
lý
về
Giáo
Hội.
Do
đó
chỉ
có
thể
đặt
vào
phần
cuối
Hiến
Chế.
Ðấy
là
lý
do
tại
sao
có
chương
VIII
và
vị
trí
của
nó
trong
Hiến
Chế.
Bố
cục
của
chương
này
như
sau:
trong
phần
nhập
đề
(các
số
52-54),
Công
Ðồng
xác
định
địa
vị
của
Ðức
Maria
trong
Giáo
Hội
và
những
nguyên
tắc
giáo
lý
làm
kim
chỉ
nam
cho
việc
trình
bày
về
Ðức
Maria.
Ðồng
thời
Công
Ðồng
cũng
cho
biết
chủ
đích
của
mình.
Phần
nhất
(các
số
55-59)
giải
thích
địa
vị
của
Mẹ
Thiên
Chúa
trong
mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
Nhập
Thể.
Phần
hai
(các
số
60-65)
trình
bày
địa
vị
đó
trong
viễn
tượng
Giáo
Hội,
nói
lên
những
liên
lạc
của
Ðức
Maria
với
Giáo
Hội.
Phần
ba
(các
số
66-67)
đề
cập
những
bổn
phận
Kitô
hữu
đối
với
Ðức
Maria.
Phần
kết
luận
vắn
tắt
(các
số
68-69)
trình
bày
Mẹ
Thiên
Chúa
như
dấu
hiệu
hy
vọng
và
sự
liên
quan
của
Ngài
với
việc
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
(Trở
lại
đầu
trang)
68*
Các
số
52-54:
Nhập
đề.
Các
số
này
thống
nhất
với
nhau
(trong
lần
soạn
thảo
đầu
chúng
ở
trong
cùng
một
số)
có
mục
đích
trình
bày
đối
tượng
của
chương
VIII.
Ý
tưởng
chính
rất
đơn
giản:
mạc
khải
đã
minh
nhiên
làm
nổi
bật
địa
vị
của
Mẹ
Thiên
Chúa,
trong
ý
định
cứu
rỗi
từ
đời
đời
của
Chúa,
trong
sự
thực
hiện
ý
định
ấy
do
Chúa
Giêsu
Kitô,
bởi
vì
có
sự
liên
tục
(chương
VII)
giữa
công
việc
dưới
đất
và
công
việc
trên
trời
của
Chúa
Kitô
và
ngày
nay
Ðức
Mẹ
cũng
vẫn
còn
giữ
nguyên
địa
vị
này
(số
52).
Maria
là
phần
tử
đặc
biệt
và
là
khuôn
mẫu
Giáo
Hội
(số
53).
Chủ
đích
của
Công
Ðồng
là:
trình
bày
vai
trò
của
Mẹ
Thiên
Chúa
trong
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
và
những
bổn
phận
của
Kitô
hữu
đối
với
Mẹ
(số
54).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Kinh
tin
kính
của
CÐ
Constantinopla:
Mansi
3,
566.
Xem
CÐ
Ephesô,
n.v.t.,
4,
1130
(và
n.v.t.,
2,
665
và
4,
1071).
Xem
CÐ
Calcedonia,
n.v.t.,
7,
111-116.
CÐ
Constantinopla
II
n.v.t.,
9,
375-396.
Sách
lễ
Roma,
kinh
tin
kính.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Sách
lễ
Roma,
lễ
qui.
(Trở
lại
đầu
trang)
69*
Số
52.
Việc
cứu
thế
được
thực
hiện
nhờ
Thiên
Chúa
đã
gửi
Con
Ngài
đến,
sinh
bởi
người
nữ.
Ðó
là
nền
tảng
của
cả
khoa
Thánh
Mẫu
học.
Ðức
Nữ
Ðồng
Trinh
Maria
liên
kết
mật
thiết
với
việc
Nhập
Thể
Cứu
Chuộc
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
T.
Augustinô,
De
S.
Virginitate,
6 :
PL
40,
399.
(Trở
lại
đầu
trang)
70*
Số
53.
Số
này
đặt
Mẹ
Chúa
Kitô
Cứu
Thế
trong
tương
quan
với
Giáo
Hội.
Ðầu
tiên
là
quả
quyết
Ðức
Maria
đã
tự
ý
chấp
nhận
lời
thiên
thần
báo
tin
sẽ
sinh
Ðấng
Cứu
Thế.
Câu
chuyện
báo
tin
được
đặt
nổi
bật.
Sau
đó
Công
Ðồng
nghiên
cứu
sâu
xa
những
mối
liên
hệ
giữa
Maria
và
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa
trong
viễn
tượng
Giáo
Hội
theo
một
đề
tài
quen
thuộc
với
Hiến
Chế
như
đề
tài
Giáo
Hội
từ
mầu
nhiệm
Ba
Ngôi.
Vì
trách
vụ
được
Chúa
trao
phó
nên
Mẹ
được
cứu
chuộc
kỳ
diệu
hơn,
do
công
nghiệp
Con
Mẹ,
Ðấng
mà
Mẹ
đã
kết
hiệp
mật
thiết
và
bền
chặt.
Trong
chiều
hướng
ấy,
Công
Ðồng
không
ngần
ngại
liên
tiếp
trình
bày
Ðức
Trinh
Nữ
như
là
Mẹ
của
Con
Thiên
Chúa,
là
ái
nữ
của
Chúa
Cha,
là
cung
thánh
của
Chúa
Thánh
Thần.
Cả
ba
danh
hiệu
hoàn
toàn
theo
truyền
thống.
Nhưng
tâm
điểm
của
số
này
ở
chỗ
Công
Ðồng
quả
quyết
rằng
Maria
vừa
có
các
danh
hiệu
đó,
nhưng
đồng
thời,
vì
thuộc
dòng
dõi
Adam,
Mẹ
cũng
liên
kết
với
tất
cả
mọi
người,
và
Mẹ
đã
cộng
tác
vào
công
việc
cứu
thế.
Do
đó,
Mẹ
Chúa
Kitô
vẫn
là
phần
tử
Giáo
Hội,
dù
là
phần
tử
tuyệt
hảo
và
đặc
biệt,
một
trật
cũng
là
khuôn
mẫu
của
Giáo
Hội.
Bởi
vậy
Giáo
Hội
tôn
kính
Mẹ
như
Mẹ
thật
với
tình
con
thảo.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Phaolô
VI,
Diễn
văn
trong
Công
Ðồng,
ngày
4-12-1963
:
AAS
56
(1964),
trg
37.
(Trở
lại
đầu
trang)
71*
Số
54.
Công
Ðồng
giải
thích
vắn
tắt
về
vai
trò
Ðức
Maria
trong
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
và
về
các
bổn
phận
của
tín
hữu
đối
với
Mẹ.
Công
Ðồng
tự
giới
hạn
trong
viễn
tượng
này
chứ
không
nhằm
trình
bày
đầy
đủ
giáo
lý
về
Ðức
Maria,
cũng
không
nhằm
giải
quyết
các
vấn
đề
mà
các
nhà
thần
học
tranh
luận.
(Trở
lại
đầu
trang)
72*
Các
số
55-59:
Phần
I -
Ðịa
vị
và
vai
trò
của
Ðức
Maria
trong
nhiệm
cuộc
cứu
rỗi.
Bố
cục
phần
này
rất
rõ
ràng,
vì
dựa
theo
các
dữ
kiện
lịch
sử
mạc
khải
về
Mẹ
Thiên
Chúa
trong
Thánh
Kinh,
bắt
đầu
từ
Cựu
Ước
tới
thời
kỳ
Giáo
Hội,
qua
sự
kiện
truyền
tin,
tới
cuộc
đời
thơ
ấu
và
công
khai
của
Chúa
Giêsu.
Cứ
như
bản
phúc
trình
chính
thức
đã
nói,
đây
là
phần
chính
yếu
nhất
trong
Chương
VIII.
(Trở
lại
đầu
trang)
73*
Số
55:
Trong
Cựu
Ước.
Thứ
tự
của
số
này
theo
sát
lịch
sử
cứu
rỗi
như
thấy
trong
Cựu
Ước,
để
chúng
ta
thấy
rằng
người
phụ
nữ
làm
Mẹ
Chúa
Kitô
trong
Phúc
Âm
cũng
là
Mẹ
Thiên
Chúa
mà
chúng
ta
nhận
biết
qua
thần
học
và
qua
việc
tôn
kính
nơi
các
dân
Kitô
giáo.
Như
thế
là
Công
Ðồng
cho
biết
sự
tiến
triển
của
mạc
khải
về
Ðức
Maria
và
không
ngần
ngại
chấp
thuận
phương
pháp
lịch
sử
cứu
rỗi,
một
phương
pháp
mà
một
số
người
chuyên
về
Thánh
Mẫu
học
không
mấy
tin
tưởng.
Không
muốn
gây
ra
cuộc
bút
chiến,
nên
Công
Ðồng
chỉ
nhằm
trình
bày
một
"bản
tiểu
sử"
về
người
Phụ
Nữ,
dựa
trên
toàn
thể
chứng
từ
được
linh
ứng
của
Mạc
Khải
trọn
vẹn
và
trên
chứng
từ
của
đời
sống
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T.
Germanô,
Const.
Hom.
in
Annunt.
Deiparae:
PG
98,
328
A;
In
Dorm.
2:
357
Anatasiô
thành
Antiokia,
Serm.
2
de
Annunt.
2:
PG
89,
1377
AB:
Serm.
3,
2 :
1388
C.
T.
Anrê
Cret.,
Can.
in
B.V.
Nat.
4 :
PG
97,
1321
B;
in
B.V.
Nat.
1:
812
A;
Hom.
in
dorm.
1:
1068
C.
T.
Sophroniô,
Or.
2
in
Annunt.
18:
PG
87
(3),
3237
BD.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
22,
4:
PG
7,
959
A;
Harvey
2,
123.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
T.
Ireneô,
n.v.t.,
Harvey,
2,
124.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
T.
Epiphaniô,
Haer.
78,
18
:
PG
42,
728
CD-729
AB.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
T.
Hieronimô,
Epist.
22,
21:
PL
22,
408.
Xem
T.
Augustinô,
Serm.
51,
2,
3 :
PL
38,
335;
Serm.
232,
2:
1108.
T.
Cyrillô
Jerusalem.
Catech.,
12,
15:
PG
33,
741,
AB.
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Ps.
44,
7:
PG
55,
193.
T.
Gio
Damascenô,
Hom.
2
in
dorm.
BMV.
3:
PG
96,
728.
(Trở
lại
đầu
trang)
74*
Số
56:
Truyền
tin.
Công
Ðồng
theo
vết
các
Giáo
Phụ,
coi
câu
chuyện
truyền
tin
rất
quan
trọng,
vì
nhìn
thấy
ở
đó
thái
độ
căn
bản
của
mọi
Kitô
hữu.
Giáo
Hội
thuở
đầu
đã
bày
tỏ
lòng
tin
của
họ
vào
thái
độ
chấp
nhận
này
của
Ðức
Maria,
vì
là
kết
quả
của
đức
tin
và
tình
yêu
của
Mẹ.
"Chấp
nhận"
không
những
là
tiếng
nói
then
chốt
trong
cả
câu
chuyện
nhưng
đồng
thời
còn
là
tiếng
nói
lược
tóm
tất
cả
viễn
ảnh
đời
sống
của
Kitô
hữu:
ưng
thuận
khi
Chúa
đến
và
để
ý
định
cứu
rỗi
hoàn
tất
trong
ta,
vừa
biết
quảng
đại
phục
vụ
cho
công
cuộc
cứu
thế;
cũng
như
Ðứa
Maria,
chúng
ta
tích
cực
cộng
tác
mà
không
tự
mãn,
và
qua
việc
chấp
nhận
ấy,
ân
sủng
đem
lại
sự
sống:
trong
Chúa
Kitô,
Ðức
Maria
đã
ban
cho
thế
giới
Nguồn
Sống
đổi
mới
mọi
sự.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CÐ
Lateranô,
năm
649,
đ.
th.
3:
Mansi
10,
1151.
T.
Leô
Cả,
Epist.
ad
Flav.:
PL
54.
759.
CÐ
Calcedonia:
Mansi
7,
462.
T.
Ambrosiô,
De
inst.
Virg.:
PL
16,
320.
(Trở
lại
đầu
trang)
75*
Số
57:
Ðức
Maria
và
cuộc
đời
thơ
ấu
Chúa
Giêsu.
Câu
đầu
tiên
của
số
này
nêu
lên
ý
tưởng
chỉ
dẫn:
Ðức
Maria
liên
kết
với
Chúa
Con
trong
công
cuộc
cứu
thế
từ
lúc
thụ
thai
Chúa
Giêsu
mà
vẫn
đồng
trinh
cho
tới
mầu
nhiệm
cuộc
tử
nạn
của
Chúa.
Công
Ðồng
trình
bày
chân
lý
này
rõ
ràng
hơn
bao
giờ
hết.
Chủ
đề
trở
lại
ba
lần:
lần
Ðức
Maria
đi
thăm
bà
Elizabeth,
lần
sinh
Chúa
ở
Bêlem
và
lần
dâng
Chúa
trong
đền
thờ.
Câu
chuyện
tìm
thấy
Chúa
trong
đền
thờ
giúp
chúng
ta
hiểu
rõ
hơn
về
sự
liên
kết
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
247-248.
(Trở
lại
đầu
trang)
76*
Số
58:
Ðức
Maria
và
cuộc
đời
công
khai
của
Chúa
Giêsu.
Một
cách
vắn
tắt,
Công
Ðồng
đóng
khung
hoạt
động
của
Ðức
Maria
trong
cuộc
đời
công
khai
của
Chúa,
vì
theo
thánh
Gioan,
lúc
khởi
đầu
và
kết
thúc
sứ
vụ
công
khai
đều
có
sự
hiện
diện
của
Ðức
Maria.
Trong
hai
lúc
này
Ðức
Maria
mới
chỉ
được
gọi
là
"Bà".
Ðó
là
lúc
ở
tiệc
cưới
Cana
và
khi
đứng
dưới
chân
Thánh
Giá.
Hai
lời
Chúa
nói
xem
ra
như
hất
hủi
Ðức
Maria.
Việc
can
thiệp
của
Ðức
Maria
có
nhiều
ý
nghĩa,
nhưng
lại
nằm
trong
văn
mạch
mới
đầu
có
thể
coi
là
kỳ
lạ.
Ý
tưởng
chính
là:
Nước
Thiên
Chúa
vượt
quá
mọi
mối
liên
hệ
xác
thịt
và
hoàn
toàn
ở
trên
sự
tính
toán
của
con
người.
Câu
chính
trong
số
này
trình
bày
một
ý
tưởng
ít
quen
thuộc
hơn:
Ðức
Maria
cũng
tiến
tới
trong
cuộc
hành
trình
Ðức
Tin
qua
đau
khổ
và
u
tối.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Piô
IX,
sắc
chỉ
Ineffabilis,
8-12-1854
:
văn
kiện
của
Ðức
Piô
IX,
1,
I,
trg
616;
Dz
1641
(2803).
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Piô
XII,
Tông
hiến
Munificentissimus,
1-11-1950:
AAS
42
(1950);
Dz
2333
(3903).
Xem
T.
Gio
Damascenô,
Enc.
in
dorm.
Dei
Genitricis,
bài
giảng
2
và
3:
PG
96,
721-761.
nhất
là
cột
728B.
T.
Germanô
Constantinopla,
In
S.
Dei
gen.
Dorm.
bài
giảng
1:
PG
98
(6);
340-348;
bài
giảng
3:
cột
361.
T.
Modestô
Jerusalem,
In
dorm.
SS.
Deiparae:
PG
86
(2)
3277-3312.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Ad
caeli
Reginam,
11-10-1954:
AAS
46
(1954),
trg
633-636;
Dz
3913tt.
Xem
T.
Anrê
Gret.,
Hom.
3
in
dorm.
SS.
Deiparae:
PG
97,
1089-1109.
T.
Gioan
Damascenô,
De
fide
orth.,
IV,
14:
PG
94,
1153-1161.
(Trở
lại
đầu
trang)
77*
Số
59:
Ðức
Maria
sau
khi
Chúa
lên
trời.
Có
hai
vấn
đề
nói
ở
đây:
1)
Lời
cầu
nguyện
của
Ðức
Maria
trước
lễ
Hiện
Xuống
cùng
với
các
Tông
Ðồ,
các
phụ
nữ
và
các
anh
em
Chúa.
Ðức
Maria
ở
giữa
dân
chúng
chứ
không
ở
trong
số
những
người
điều
khiển
cộng
đoàn.
Mẹ
tham
dự
vào
kinh
nguyện
chung.
Mẹ
thuộc
thành
phần
Giáo
Hội
cầu
nguyện
đang
chuẩn
bị
thi
hành
sứ
mệnh
của
mình,
và
Mẹ
cầu
nguyện
với
tước
hiệu
duy
nhất
là
Mẹ
Chúa
Giêsu
(CvTđ
1,14).
2)
Công
Ðồng
tái
xác
nhận
hai
tín
điều
đã
được
Giáo
Hội
tuyên
bố
khi
lập
lại
những
lời
của
các
câu
định
tín
liên
hệ.
Hai
tín
điều
này
có
liên
quan
mật
thiết
với
nhau.
Ðức
Maria
được
suy
tôn
làm
Nữ
Vương
của
vũ
trụ,
để
trở
nên
giống
với
Con
Mẹ
là
Chúa
các
Chúa
một
cách
hoàn
toàn
hợn,
và
được
suy
tôn
là
Ðấng
chiến
thắng
tội
lỗi
và
sự
chết.
(Trở
lại
đầu
trang)
78*
Các
số
60-65:
Phần
II
-
Sự
liên
lạc
giữa
Mẹ
Thiên
Chúa
và
Giáo
Hội.
Phần
này
trực
tiếp
bàn
về
sự
liên
lạc
giữa
Ðức
Maria
và
Giáo
Hội.
Trước
hết,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
tới
sự
đồng
công
cứu
chuộc
của
Ðức
Maria
do
sự
tự
ý
chấp
thuận
việc
Nhập
Thể
của
Con
Thiên
Chúa,
do
việc
dâng
hy
tế
trên
Thánh
giá
và
do
việc
cầu
bầu
liên
lỉ
trên
trời.
Trong
văn
mạch
này,
giữa
những
tước
hiệu
khác
nhau
Công
Ðồng
đề
cập
đến
tước
hiệu
Ðấng
Trung
Gian.
Một
số
người
trong
Ủy
ban
thần
học
chưa
nhìn
thấy
rõ
tước
hiệu
này
nên
Công
Ðồng
giải
thích
cho
biết
tước
hiệu
này
vẫn
không
làm
lu
mờ
sự
tuyệt
hảo
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất
là
Chúa
Kitô
(các
số
60-62).
Sau
đó
(trong
các
số
63-64)
Công
Ðồng
giải
thích
lý
do
khiến
Ðức
Maria,
là
Trinh
Nữ
và
là
Mẹ,
lại
là
hình
bóng
của
Giáo
Hội.
Giáo
lý
này
có
tầm
quan
trọng
đặc
biệt,
vì
Công
Ðồng
rất
lưu
tâm
đến
những
khía
cạnh
trổi
vượt
của
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Sau
cùng
(số
65),
Ðức
Maria
được
coi
như
gương
mẫu
các
nhân
đức.
(Trở
lại
đầu
trang)
79*
Các
số
60-62:
Ðức
Maria
trong
công
trình
cứu
chuộc.
(Trở
lại
đầu
trang)
80*
Số
60:
Những
nguyên
tắc
giáo
lý.
Số
này
tóm
lược
các
nguyên
tắc
giáo
lý
và
chỉ
dẫn
cho
biết
giáo
lý
trình
bày
trong
những
số
kế
tiếp
phải
được
hiểu
theo
những
nguyên
tắc
này.
Mọi
nỗ
lực
và
hành
động
của
Ðức
Maria
đều
do
vị
Trung
Gian
duy
nhất
là
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
muốn
cho
Ðức
Maria
cộng
tác
vào
công
trình
cứu
chuộc.
Sự
trung
gian
của
Ðức
Maria
biểu
lộ
rõ
rệt
hơn
và
còn
giúp
cho
sự
trung
gian
của
Chúa
Kitô
nữa.
Chỉ
vì
ý
muốn
hoàn
toàn
nhưng
không
của
Thiên
Chúa
nhân
từ
và
quyền
năng,
Ðấng
Cứu
Thế
đã
thông
truyền
ảnh
hưởng
cứu
rỗi
cho
các
chi
thể
và
đặc
biệt
cho
Mẹ
Người,
là
Ðấng
ngay
từ
đầu
đã
cộng
tác
với
Người
và
với
công
việc
Người.
Ðó
chính
là
nguyên
tắc
của
kế
hoạch
cứu
rỗi
hay
nguyên
tắc
ban
phát
đời
sống
thần
linh.
Giáo
Hội
sẽ
trở
nên
bí
tích
để
ban
phát
đời
sống
đó.
Còn
Ðức
Maria,
là
chi
thể
trổi
vượt
đầu
tiên,
sẽ
là
khuôn
mẫu
cho
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
81*
Số
61:
Trong
cuộc
đời
trần
gian.
Số
này
nói
rất
vắn
tắt
đến
trọng
tâm
việc
cộng
tác
của
Ðức
Maria.
Là
mẹ
Thiên
Chúa,
là
tôi
tớ
khiêm
hạ
của
Chúa,
Mẹ
là
cộng
sự
viên
quảng
đại
của
Ðấng
Cứu
Thế
và
là
Mẹ
chúng
ta
trên
bình
diện
ân
sủng.
Bản
văn
theo
sát
với
sự
thể
hiện
của
nhiệm
vụ
này.
Nhờ
hoàn
toàn
sẵn
sàng
tuân
theo
ý
Chúa,
Ðức
Trinh
Nữ
đã
mang
thai
Chúa
Giêsu,
Ðấng
sẽ
xóa
hết
tội
lỗi
Dân
Người.
Ðức
Maria
đã
sinh
con
và
đã
nuôi
nấng.
Mẹ
đã
dâng
Con
cho
Chúa
Cha
trong
Ðền
Thánh,
đã
đau
khổ
với
cái
chết
của
Con
trên
Thánh
Giá.
Mẹ
đã
cụ
thể
hóa
việc
cộng
tác
tuyệt
đối
duy
nhất
này
trong
sự
tuân
phục
vô
điều
kiện,
sự
tuân
phục
thấm
nhuần
đức
tin,
đức
cậy
và
đức
mến
hăng
nồng.
Sự
trung
thành
của
Mẹ
trong
việc
chấp
thuận
chương
trình
cứu
rỗi
là
then
chốt
cho
việc
quảng
diễn
các
ý
tưởng
khác
(x.
các
số
53,
56,
63
và
64).
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Kleutgen,
ch.
IV
bản
đã
sửa:
De
Mysterio
Verbi
incarnati:
Mansi
53,
290.
Xem
T.
Anrê
Gret.
In
nat.
Mariae,
bài
giảng
4:
PG
97,
865A.
T.
Germanô
Constantinopla,
In
annunt.,
Deiparae:
PG
98,
321
BC;
In
dorm.
Deiparae
III,
361D.
T.
Gio
Damascenô,
In
dorm.
BV.
Mariae,
bài
giảng
1,
8 :
PG
90,
712BC-713A.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Adjutricem
populi,
5-9-1895:
ASS
28
(1895-96),
trg
229.
T.
Piô
X,
Tđ.
Ad
diem
illum,
2-2-1904,
văn
kiện
I,
trg
154;
Dz
1978a
(3370).
Piô
XI,
Tđ.
Miserentissimus,
8-5-1928:
AAS
20
(1929),
trg
178.
Piô
XII,
sứ
điệp
truyền
thanh,
13-5-1946:
AAS
38
(1946),
trg
266.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
T.
Ambrosiô,
Epist.
63
:
PL
16,
1218.
(Trở
lại
đầu
trang)
82*
Số
62:
Trên
trời.
Là
Mẹ
ban
ân
sủng,
ở
trên
trời
Ðức
Maria
tiếp
tục
một
địa
vị
khác
trong
công
trình
cứu
rỗi.
Tình
mẫu
tử
của
Mẹ
tiếp
tục
hoạt
động.
Chắc
chắn
Mẹ
không
ban
phát
ân
sủng
riêng,
nhưng
là
ân
sủng
Chúa
Kitô,
vì
không
có
ân
sủng
nào
khác.
Sứ
mệnh
của
Ðức
Maria
là
liên
kết
Chúa
Kitô
với
những
phần
tử
làm
thành
Giáo
Hội.
Ðó
là
ý
nghĩa
của
tiếng
Maria,
Mẹ
đầy
ơn.
Mẹ
thực
hiện
sứ
mệnh
qua
việc
bầu
cử
cho
nhân
loại.
Do
đó,
mà
Giáo
Hội
gọi
Mẹ
bằng
các
danh
hiệu:
Ðấng
Bảo
Vệ,
Ðấng
Phù
Trợ,
Ðức
Mẹ
Hằng
Cứu
Giúp,
Ðấng
Trung
Gian.
Các
nhà
thần
học
tranh
luận
về
ý
nghĩa
gán
cho
các
tước
hiệu
ấy,
nhất
là
tước
hiệu
sau
cùng.
Công
Ðồng
không
muốn
giải
quyết
cuộc
tranh
luận,
nhưng
chỉ
quả
quyết
một
thực
tại
hoàn
toàn
được
toàn
thể
Giáo
Hội
chấp
nhận,
mà
không
bận
tâm
đến
những
điều
xác
định
rõ
rệt
có
tính
cách
kỹ
thuật.
Công
Ðồng
cũng
nói
thêm
là
tước
hiệu
này
không
làm
mất
cũng
không
thêm
thắt
gì
vào
địa
vị
và
hành
động
của
Chúa
Kitô,
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất,
vì
không
tạo
vật
nào
có
thể
đóng
vai
trò
trên
cùng
một
bình
diện
như
Chúa
Cứu
Thế.
(Trở
lại
đầu
trang)
83*
Các
số
63-64:
Ðức
Maria
là
mẫu
mực
Giáo
Hội.
Tính
cách
song
đối
giữa
Ðức
Maria
và
Giáo
Hội
đưa
ra
một
chủ
đề
hoàn
toàn
mới
mẻ
trong
khoa
thần
học
hiện
thời.
Quả
thực
được
liên
kết
với
Con
mình
trong
công
trình
cứu
chuộc,
Ðức
Trinh
Nữ
Maria
đã
vượt
trên
mọi
người
khác
và
trở
nên
mẫu
mực
Giáo
Hội.
Ðó
chính
là
một
phần
tử
trong
nhóm
đang
hình
thành,
gây
ảnh
hưởng
trên
người
khác,
lôi
cuốn
và
làm
gương
cho
họ.
Ở
đây
Công
Ðồng
khai
triển
vắn
tắt
chủ
đề
này
về
Ðức
Maria
là
hình
bóng
Giáo
Hội,
không
phải
hình
bóng
hay
mẫu
mực
theo
nghĩa
thiết
lập
phẩm
trật
hay
bí
tích,
nhưng
như
người
cổ
xúy
đời
sống
thiêng
liêng
trong
đó
sự
đồng
trinh
nẩy
nở
thành
tình
mẫu
tử.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
T.
Ambrosiô,
Expos.
Lc
II.
7;
PL
15,
1555.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Phêrô
Dam.
Giả,
Serm.
63:
PL
144,
861
AB.
Godefridus
a
S.
Victore,
in
nat.
BM.,
Ms.
Paris,
Mazarine,
1002,
tờ
109c.
Gerhohus
Reich.,
De
gloria
et
honore
Filii
hominis,
10
:
PL
194,
1105
AB.
(Trở
lại
đầu
trang)
84*
Số
63:
Ðức
Maria
là
mẫu
mực
Giáo
Hội,
như
một
Trinh
Nữ
và
một
người
Mẹ.
Trước
hết
là
đức
đồng
trinh,
nhưng
hiểu
theo
chiều
hướng
thiêng
liêng.
Nó
hệ
tại
đức
tin
và
đức
cậy
nhờ
đó
Ðức
Maria
đã
sinh
Con
Chúa
do
quyền
phép
Chúa
Thánh
Thần
mà
không
có
sự
liên
lạc
xác
thịt
nào
với
người
nam,
và
như
vậy
đã
trở
thành
người
Mẹ.
Ðức
Maria
đã
thụ
thai
Ngôi
Lời
trong
tâm
hồn
trước
khi
thụ
thai
trong
lòng.
Ðức
đồng
trinh
tương
quan
với
sự
chấp
thuận
bất
khả
khuyết
của
đức
tin.
Ðức
Maria
đi
trước
Giáo
Hội
ở
điểm
này;
chính
do
Mẹ
mà
Chúa
Kitô
được
sinh
ra,
Ðấng
sẽ
làm
cho
Giáo
Hội
thành
thân
thể
của
Người.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Ambrosiô,
Expos.
Lc.II,7
và
X,24-25;
PL
15,
1555
và
1810.
T.
Augustinô,
In
Jo
Tr.
13,12:
PL
35,
1499.
Xem
Serm.
191,
2,3:
PL
38,
1010;
v.v...
Cũng
xem
chân
phước
Beda,
In
Lc.
Expos.
I,
ch.
2 :
PL
92,
330.
Isaac
de
Stella,
Serm.
51:
PL
194,
1863A.
(Trở
lại
đầu
trang)
85*
Số
64:
Giáo
Hội
là
Mẹ
và
là
Trinh
Nữ.
Hình
thức
song
đối
đã
nói
trên
kết
thúc
ở
đây:
tính
cách
làm
Mẹ
đồng
trinh
của
Ðức
Maria
chính
là
bí
tích,
dấu
hiệu
hoặc
hình
ảnh
của
Giáo
Hội
đồng
trinh,
cũng
thụ
thai
và
sinh
dưỡng
các
con
cái
mình.
Tính
cách
làm
mẹ
của
Giáo
Hội,
noi
theo
Ðức
Maria,
là
việc
đón
nhận
Lời
Chúa
trong
tâm
hồn.
Ðón
nhận
có
nghĩa
là
thực
hành.
Như
thế
Giáo
Hội
trở
thành
mẹ
của
một
cuộc
sống
bất
tử,
nhờ
Thần
Khí
của
việc
sáng
tạo
mới.
Sự
đồng
trinh
của
Giáo
Hội
-
là
điều
kiện
để
sinh
nhiều
con
cái
-
hệ
tại
việc
trung
thành
thực
thi
các
nhân
đức
đối
thần,
theo
gương
Ðức
Maria
và
nhờ
sức
mạnh
Chúa
Thánh
Thần.
(Trở
lại
đầu
trang)
86*
Số
65:
Giáo
Hội
và
việc
noi
theo
các
nhân
đức
của
Ðức
Maria.
Ở
đây,
Công
Ðồng
trình
bày
Ðức
Maria
như
gương
mẫu
các
nhân
đức
mà
Giáo
Hội
phải
noi
theo.
Việc
kính
nhớ
Mẹ
Thiên
Chúa
làm
cho
tín
hữu
thâm
hiểu
mầu
nhiệm
Nhập
Thể
hơn
vì
có
nhiều
khía
cạnh
của
mầu
nhiệm
này
biểu
hiện
nơi
Mẹ
Thiên
Chúa.
Ngay
từ
thời
xa
xưa,
Giáo
Hội
đã
cầu
khẩn
với
Ðức
Maria,
nhờ
thế
mà
Giáo
Hội
tiến
tới
trên
con
đường
đức
tin
và
trên
đường
sứ
mệnh
tông
đồ,
trở
nên
giống
với
mẫu
mực
của
mình
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
87*
Các
số
66-67:
Phần
III
-
Việc
tôn
kính
Ðức
Trinh
Nữ
trong
Giáo
Hội.
Phần
này
trực
tiếp
nói
đến
sự
áp
dụng
giáo
lý
vào
công
việc
giảng
thuyết
và
tôn
kính.
Mối
bận
tâm
mục
vụ
của
Công
Ðồng
được
biểu
lộ
rõ
rệt.
Công
Ðồng
muốn
rằng,
trong
Giáo
Hội,
việc
tôn
kính
và
sùng
mộ
Ðức
Maria
phải
chừng
mực
và
chính
đáng;
không
trễ
nải
vì
những
ngờ
vực
vô
ích
hay
sợ
sệt;
không
quá
khai
thác
những
tình
cảm,
tưởng
tượng
hoặc
những
điều
thần
học
còn
mơ
hồ.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Sách
Nhật
Tụng
Roma,
xướng
khúc
"Sub
tuum..."
ở
kinh
chiều
I
của
Tiểu
tụng
Ðức
Mẹ.
(Trở
lại
đầu
trang)
88*
Số
66:
Bản
tính
và
nền
tảng
việc
tôn
kính
Ðức
Trinh
Nữ.
Nền
tảng
việc
tôn
kính
Ðức
Maria
là
do
việc
Mẹ
Thiên
Chúa
được
gắn
liền
với
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
của
Chúa
Kitô.
Vì
Ðức
Maria
được
dự
phần
vào
mầu
nhiệm
này
hơn
bất
cứ
ai
khác,
nên
Giáo
Hội
đặc
biệt
tôn
kính
Mẹ.
Việc
tôn
kính
-
bản
chất
của
việc
sùng
mộ
-
được
gọi
là
đặc
biệt
(so
sánh
với
việc
tôn
kính
các
Thánh),
nhưng
xét
theo
yếu
tính
thì
hoàn
toàn
khác
biệt
với
việc
tôn
thờ
chỉ
dành
riêng
cho
một
mình
Thiên
Chúa.
Tiêu
chuẩn
của
việc
tôn
kính
là
phải
phù
hợp
với
giáo
lý
chính
thống.
Việc
tôn
kính
chỉ
có
bảo
đảm
khi
trung
thành
với
ơn
linh
ứng
riêng
và
phải
hoàn
toàn
hướng
về
Con
duy
nhất
mà
trong
Người,
Chúa
Cha
tác
thành
mọi
sự.
Việc
sùng
mộ
sẽ
trở
nên
ảo
tưởng
nếu
không
đưa
đến
việc
tuân
giữ
các
giới
răn
Chúa.
Giả
thiết
như
thế
rồi,
cũng
còn
phải
lưu
ý
đến
những
hình
thức
tôn
kính
khác
nhau
nhưng
vẫn
hợp
pháp,
do
hoàn
cảnh
thời
gian
và
nơi
chốn
tạo
ra,
hay
do
những
tâm
tình
khác
nhau
của
mỗi
dân
tộc.
Vậy
phải
thận
trọng
nhưng
đừng
có
đầu
óc
thiển
cận.
Việc
tôn
kính
với
cùng
một
hình
thức
như
nhau
sẽ
trở
nên
nghèo
nàn;
phải
để
quyền
cho
công
giáo
tính.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
CÐ
Nicea
II,
năm
787:
Mansi
13,
378-379
;
Dz
302
(600-601).
CÐ
Trentô,
khóa
25:
Mansi
33,
171-172.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Piô
XII,
sứ
điệp
truyền
thanh,
24-10-1954:
AAS
46
(1954),
trg
679.
Tđ.
Ad
caeli
Reginam,
11-10-1954:
AAS
(1954),
trg
637.
(Trở
lại
đầu
trang)
89*
Số
67:
Tinh
thần
giảng
thuyết
và
tôn
kính
Ðức
Trinh
Nữ.
Sau
cùng,
Công
Ðồng
ban
bố
một
vài
qui
tắc
mục
vụ
cho
việc
giảng
thuyết
và
tôn
kính
Ðức
Maria.
Công
Ðồng
giới
thiệu
đặc
biệt
việc
tôn
kính
có
tính
cách
phụng
vụ,
nhưng
cũng
không
quên
những
hình
thức,
những
việc
thực
hành
đạo
đức
không
đi
ngược
với
những
nguyên
tắc
đã
đề
ra.
Việc
tôn
kính
theo
phụng
vụ
được
chú
trọng
hơn
là
vì
có
sự
chỉ
dẫn
trực
tiếp
của
Giáo
Hội.
Những
hình
thức
tôn
sùng
cũng
như
Công
Ðồng
cổ
võ,
dù
không
bàn
đến
chi
tiết.
Những
tiêu
chuẩn
để
giảng
thuyết
rất
đơn
giản:
đừng
tán
tụng
thái
quá,
không
hẹp
hòi
thiển
cận,
hoàn
toàn
tuân
theo
chỉ
thị
của
Giáo
Hội,
biết
dựa
vào
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
Như
vậy
Công
Ðồng
muốn
ngay
cả
việc
giảng
thuyết
về
Ðức
Mẹ
cũng
phải
qui
về
Chúa
Kitô.
Kết
luận
của
số
này
là
vài
lời
khuyên
tổng
quát
về
việc
sùng
mộ
đích
thực
nhằm
gửi
tới
Dân
Chúa
(không
chỉ
bằng
tình
cảm
nhất
thời,
không
phải
niềm
tin
viễn
vông,
nhưng
là
sự
thực
hành
sâu
xa
của
một
đức
tin
chính
thực,
lấy
tình
yêu
hàm
chứa
lòng
biết
ơn
mà
tuyên
xưng
sự
cao
cả
của
Mẹ
Thiên
Chúa,
và
đức
tin
đó
còn
làm
cho
chúng
ta
biết
quảng
đại
noi
theo
sự
hiệp
nhất
giữa
Mẹ
với
Thiên
Chúa).
(Trở
lại
đầu
trang)
90*
Các
số
68-69:
Kết
luận.
Hai
vấn
đề
được
đặt
ra
ở
Ðức
Maria
như
dấu
hiệu
cậy
trông
và
như
dấu
hiệu
hiệp
nhất.
(Trở
lại
đầu
trang)
91*
Số
68:
Ðức
Maria
như
dấu
hiệu
cậy
trông.
Số
này
bàn
đến
một
ý
tưởng
quan
trọng:
ý
nghĩa
địa
vị
được
tôn
vinh
của
Mẹ
Chúa
Giêsu
đối
với
toàn
thể
Giáo
Hội.
Ðức
Maria
là
hình
ảnh
cánh
chung
của
Giáo
Hội.
Mẹ
là
dấu
hiệu
cậy
trông.
Mẹ
cũng
đã
phải
chịu
thử
thách
nên
do
kinh
nghiệm
riêng
mà
biết
được
gánh
nặng
của
chúng
ta.
Tình
thương
Mẹ
dành
cho
chúng
ta
sẽ
khuyến
khích
chúng
ta
cố
gắng
không
ngừng.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Ecclesiam
Dei,
12-11-1923:
AAS
15
(1923),
trg
581.
Piô
XII,
Tđ.
Fulgen
corona,
8-9-1953:
AAS
45
(1953),
trg
590-591.
(Trở
lại
đầu
trang)
92*
Số
69:
Ðức
Maria
và
sự
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Ðây
là
một
điểm
tế
nhị.
Nhiều
người
nghĩ
dường
như
Ðức
Maria
là
một
trở
ngại
trên
con
đường
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Công
Ðồng
đã
đề
cập
vấn
đề
theo
khía
cạnh
tích
cực:
Công
Ðồng
nhận
định
một
sự
kiện
không
ai
chối
cãi:
trong
số
những
anh
em
ly
khai,
cũng
có
người
kêu
cầu
đến
Trinh
Nữ
hèn
mọn
thành
Nazareth.
Như
vậy
vẫn
còn
hy
vọng.
Công
Ðồng
muốn
mọi
Kitô
hữu
cầu
xin
Ðức
Maria
cho
việc
hiệp
nhất,
vì
Mẹ
bầu
cử
cho
mọi
người
tuyên
xưng
Con
Mẹ
là
Ðấng
Cứu
Thế,
và
cho
cả
những
ai
chưa
biết
Mẹ.
Mẹ
vẫn
luôn
giữ
vai
trò
làm
mẹ.
Như
thế
sẽ
có
ánh
sáng
làm
rạng
ngời
vinh
quang
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa.
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
khởi
đầu
và
kết
thúc
bằng
mầu
nhiệm
Một
Chúa
Ba
Ngôi.
Từ
Thiên
Chúa,
do
tình
yêu
mà
có
mọi
sự,
và
trong
tình
yêu
mọi
sự
qui
về
Ngài.
Hiến
Chế
này
là
một
lời
tuyên
xưng
đức
tin
không
lay
chuyển
và
sẽ
không
chịu
sự
hao
mòn
của
thời
gian.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II