VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
VI:
Tu
Sĩ
55*
43.
Những
lời
khuyên
Phúc
Âm
trong
Giáo
Hội.
Những
lời
khuyên
Phúc
Âm
về
đức
khiết
tịnh
để
hiến
mình
cho
Thiên
Chúa,
về
đức
nghèo
khó
và
vâng
lời,
đều
đặt
nền
tảng
trên
lời
nói
cùng
gương
lành
của
Chúa,
đã
được
các
Tông
Ðồ
và
các
Giáo
Phụ,
các
tiến
sĩ
và
các
chủ
chăn
Giáo
Hội
khuyên
giữ.
Các
lời
khuyên
ấy
là
ân
huệ
thần
linh
mà
Giáo
Hội
đã
nhận
lãnh
bởi
Chúa
mình
và
luôn
gìn
giữ
nhờ
ơn
Người.
Theo
sự
hướng
dẫn
của
Thánh
Thần,
chính
giáo
quyền
ân
cần
giải
thích
các
lời
khuyên
của
Phúc
Âm,
hướng
dẫn
cách
thực
hành,
cùng
thiết
lập
những
lối
sống
cố
định
dựa
trên
những
lời
khuyên
ấy.
Do
đó,
như
một
cây
đâm
chồi
nẩy
lộc
um
tùm
và
kỳ
diệu
từ
hạt
giống
Chúa
gieo
vãi
trong
cánh
đồng
của
Người,
thì
cũng
có
nhiều
lối
sống
khác
nhau:
đơn
độc
hay
cộng
đồng,
và
dòng
tu
khác
nhau
mà
phần
sản
nghiệp
dồi
dào
đem
lại
lợi
ích
cho
các
chi
thể
của
dòng
cũng
như
toàn
Thân
Thể
Chúa
Kitô
1.
Thực
vậy,
các
dòng
ấy
mang
lại
cho
các
chi
thể
những
trợ
lực
bền
bỉ
trong
một
đời
sống
vững
vàng
hơn,
một
học
thuyết
vững
chắc
giúp
đạt
đến
trọn
lành,
một
mối
hiệp
thông
huynh
đệ
trong
đạo
binh
Chúa
Kitô,
và
một
sự
tự
do
được
đức
vâng
lời
củng
cố;
thế
nên,
họ
có
thể
an
tâm
chu
toàn
và
trung
thành
gìn
giữ
lời
khấn
cùng
hoan
hỷ
tiến
bước
trên
con
đường
đức
ái
2.
Xét
theo
thể
chế
của
Giáo
Hội
do
Chúa
thiết
lập
và
có
phẩm
trật,
thì
bậc
sống
tu
trì
không
ở
giữa
bậc
giáo
sĩ
và
giáo
dân;
thực
vậy
Thiên
Chúa
kêu
gọi
một
số
Kitô
hữu
ở
cả
hai
bậc
giáo
sĩ
và
giáo
dân
đến
hưởng
lấy
ân
huệ
đặc
biệt
trong
đời
sống
Giáo
Hội,
và
mỗi
người
một
cách
góp
phần
vào
sứ
mệnh
cứu
độ
của
Giáo
Hội
3.
56*
44.
Bản
tính
và
tầm
quan
trọng
của
bậc
tu
trì.
Người
Kitô
hữu
tự
buộc
mình
tuân
giữ
ba
lời
khuyên
của
Phúc
Âm
qua
lời
khấn
hay
qua
những
ràng
buộc
thánh
khác
tương
tự
như
lời
khấn
dòng;
nhờ
đó
họ
hiến
thân
hoàn
toàn
cho
Thiên
Chúa
chí
ái,
để
phụng
sự
và
làm
vinh
danh
Ngài
với
một
danh
hiệu
mới
mẻ
và
đặc
biệt.
Nhờ
phép
Thánh
Tẩy,
họ
đã
chết
cho
tội
lỗi
và
được
cung
hiến
cho
Thiên
Chúa;
nhưng
để
có
thể
thâu
lượm
dồi
dào
ơn
ích
của
bí
tích
ấy,
người
Kitô
hữu
muốn
nhờ
việc
khấn
giữ
ba
lời
khuyên
của
Phúc
Âm
trong
Giáo
Hội,
thoát
ly
khỏi
những
ngăn
trở
có
thể
làm
họ
không
nhiệt
tâm
yêu
mến
và
tôn
thờ
Thiên
Chúa
cách
hoàn
hảo;
và
họ
tận
hiến
để
phụng
sự
Thiên
Chúa
cách
thân
tình
hơn
4.
Việc
cung
hiến
đó
càng
trở
nên
hoàn
hảo
hơn
khi
việc
Chúa
Kitô
hiệp
nhất
với
Giáo
Hội,
hiền
thê
của
Người,
bằng
mối
dây
bất
khả
phân
ly
càng
được
phản
ảnh
trong
những
mối
dây
ràng
buộc
chắc
chắn
và
vững
bền
hơn.
Những
lời
khuyên
của
Phúc
Âm
đưa
đến
đức
ái
5,
và
nhờ
đức
ái,
những
lời
khuyên
ấy
kết
hiệp
các
tu
sĩ
cách
đặc
biệt
với
Giáo
Hội
và
với
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Bởi
đó,
đời
sống
thiêng
liêng
của
họ
cũng
phải
mưu
cầu
lợi
ích
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Do
đó,
mỗi
người
tùy
sức
và
ơn
gọi
của
mình,
bằng
kinh
nguyện
hay
bằng
hành
động
tích
cực,
có
bổn
phận
làm
cho
Nước
Chúa
Kitô
ăn
rễ
sâu
và
vững
mạnh
trong
các
tâm
hồn
và
bành
trướng
trên
khắp
vũ
trụ.
Vì
thế,
Giáo
Hội
duy
trì
và
nâng
đỡ
đặc
tính
riêng
biệt
của
các
tu
hội.
Việc
khấn
giữ
các
lời
khuyên
của
Phúc
Âm
thực
là
một
dấu
chỉ
có
thể
và
phải
lôi
cuốn
hữu
hiệu
tất
cả
mọi
chi
thể
của
Giáo
Hội
đến
việc
can
đảm
chu
toàn
ơn
gọi
làm
Kitô
hữu.
Thực
vậy,
dân
Thiên
Chúa
không
đặt
thành
trì
vĩnh
viễn
ở
đời
này,
nhưng
đi
tìm
một
thành
trì
mai
sau.
Bậc
tu
trì
giải
thoát
người
tu
sĩ
bớt
những
lo
lắng
trần
tục,
cùng
tỏ
lộ
cách
hoàn
hảo
hơn
cho
mọi
tín
hữu
thấy
của
cải
trên
trời
đã
có
ngay
dưới
trần
gian
này,
và
làm
chứng
rằng
ơn
cứu
chuộc
của
Chúa
Kitô
đã
đem
lại
một
đời
sống
mới
và
vĩnh
cửu,
đồng
thời
tiên
báo
sự
phục
sinh
tương
lai
và
vinh
quang
của
Nước
Trời.
Hơn
nữa,
bậc
sống
tu
trì
bắt
chước
cách
chính
xác
hơn
và
thực
hiện
liên
tục
trong
Giáo
Hội
nếp
sống
mà
Con
Thiên
Chúa
đã
nhận
khi
Người
xuống
thế
để
thi
hành
thánh
ý
Chúa
Cha
và
cũng
là
nếp
sống
mà
Người
đã
đề
ra
cho
các
môn
đệ
theo
Người.
Sau
cùng,
bậc
sống
ấy
đặc
biệt
cho
ta
thấy
Nước
Thiên
Chúa
vượt
trên
mọi
sự
trần
thế
và
những
đòi
hỏi
của
Nước
ấy
cao
cả
biết
bao;
nó
cũng
cho
mọi
người
thấy
quyền
lực
cao
trọng
tuyệt
vời
của
Chúa
Kitô
Vua
và
quyền
năng
vô
cùng
của
Chúa
Thánh
Thần
đang
hoạt
động
cách
kỳ
diệu
trong
Giáo
Hội.
Vì
thế,
bậc
sống
được
thiết
lập
do
việc
tuyên
khấn
các
lời
khuyên
của
Phúc
Âm,
tuy
không
liên
quan
đến
cơ
cấu
phẩm
trật
của
Giáo
Hội,
nhưng
dĩ
nhiên
cũng
gắn
chặt
với
đời
sống
và
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội.
57*
45.
Quyền
bính
Giáo
Hội
và
bậc
tu
trì.
Vì
trong
Giáo
Hội,
giáo
phẩm
có
nhiệm
vụ
chăn
dắt
và
dẫn
đưa
Dân
Chúa
đến
những
đồng
cỏ
phì
nhiêu
(x.
Ez
34,14),
nên
có
nhiệm
vụ
dùng
các
luật
lệ
mà
hướng
dẫn
cách
khôn
ngoan
việc
thực
hành
những
lời
khuyên
của
Phúc
Âm,
vì
đó
là
phương
thế
đặc
biệt
để
cổ
võ
đức
ái
trọn
hảo
đối
với
Thiên
Chúa
và
tha
nhân
6.
Ngoan
ngoãn
vâng
theo
sự
thúc
đẩy
của
Chúa
Thánh
Thần,
giáo
phẩm
đón
nhận
những
luật
dòng
do
những
nam
nữ
sáng
lập
viên
lỗi
lạc
đề
nghị,
và
chính
thức
phê
chuẩn
sau
khi
tu
chỉnh.
Và
do
quyền
hành
của
mình,
giáo
phẩm
luôn
có
mặt
để
săn
sóc
và
bảo
trợ
những
dòng
tu
được
thiết
lập
khắp
nơi
nhằm
xây
dựng
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
để
các
dòng
tu
ấy
phát
triển
và
sinh
hoa
kết
quả
theo
tinh
thần
các
đấng
sáng
lập.
Ðàng
khác,
để
đáp
ứng
cách
hữu
hiệu
hơn
nhu
cầu
của
toàn
thể
đoàn
chiên
Chúa,
Ðức
Giáo
Hoàng,
vì
có
quyền
tối
thượng
trong
toàn
thể
Giáo
Hội
và
để
phục
vụ
ích
chung,
có
thể
tách
bất
kỳ
dòng
tu
hay
tu
sĩ
nào
khỏi
quyền
tài
thẩm
của
các
Ðấng
Bản
Quyền
và
chỉ
đặt
dưới
quyền
duy
nhất
của
ngài
7.
Cũng
thế,
có
thể
có
những
dòng
tu
và
những
tu
sĩ
được
để
lại
hoặc
giao
phó
cho
thẩm
quyền
riêng
của
các
Giáo
Chủ.
Khi
chu
toàn
phận
vụ
đối
với
Giáo
Hội
qua
cách
sống
đặc
biệt
của
mình,
các
tu
sĩ
phải
kính
trọng
và
vâng
lời
các
Giám
Mục
theo
giáo
luật,
vì
phải
tôn
trọng
quyền
mục
vụ
của
các
ngài
trong
Giáo
Hội
địa
phương
và
vì
cần
phải
có
sự
đồng
tâm
nhất
trí
trong
việc
tông
đồ
8.
Giáo
Hội
không
chỉ
phê
chuẩn
việc
khấn
dòng
để
đưa
đời
tu
lên
địa
vị
bậc
sống
theo
giáo
luật,
nhưng
qua
việc
cử
hành
phụng
vụ,
Giáo
Hội
còn
trình
bày
việc
khấn
dòng
ấy
như
một
bậc
sống
cung
hiến
cho
Thiên
Chúa.
Với
quyền
hành
Chúa
ban,
chính
Giáo
Hội
nhận
lời
tuyên
khấn
của
các
tu
sĩ;
qua
lời
kinh
công
cộng,
Giáo
Hội
xin
Chúa
ban
ân
sủng
và
trợ
giúp
họ,
phó
thác
họ
cho
Thiên
Chúa,
chúc
lành
thiêng
liêng
cho
họ,
và
kết
hợp
sự
tận
hiến
của
họ
vào
hy
lễ
tạ
ơn.
58*
46.
Sự
cao
cả
củaviệc
tận
hiến.
Các
tu
sĩ
phải
đem
hết
tâm
lực
làm
cho
Giáo
Hội,
qua
con
người
của
họ,
thực
sự
biểu
dương
Chúa
Kitô
ngày
một
hoàn
hảo
hơn
cho
các
tín
hữu
cũng
như
các
lương
dân:
biểu
dương
Chúa
Kitô
đang
cầu
nguyện
trên
núi,
hoặc
đang
loan
báo
Nước
Thiên
Chúa
cho
dân
chúng,
hoặc
chữa
lành
những
kẻ
đau
yếu
tàn
tật,
hay
hoán
cải
các
tội
nhân
trở
lại
đời
sống
phong
phú,
hoặc
đang
chúc
phúc
cho
trẻ
em,
ban
ơn
lành
cho
mọi
người,
và
trong
mọi
sự
luôn
vâng
phục
thánh
ý
Chúa
Cha,
Ðấng
đã
sai
Người
đến
9.
Sau
cùng,
mọi
tu
sĩ
nên
biết
rằng
việc
khấn
giữ
các
lời
khuyên
Phúc
Âm,
tuy
bao
gồm
sự
từ
bỏ
những
của
cải
mà
dĩ
nhiên
phải
được
quí
trọng,
sẽ
không
làm
ngăn
trở
việc
phát
triển
đích
thực
nhân
vị,
trái
lại
do
bản
chất
của
nó
còn
có
lợi
cho
con
người.
Thực
vậy,
các
lời
khuyên
Phúc
Âm,
mà
các
tu
sĩ
đã
tình
nguyện
chấp
nhận
theo
ơn
gọi
riêng
của
mình,
góp
phần
không
ít
vào
việc
thanh
luyện
tâm
hồn
và
phát
huy
tự
do
thiêng
liêng,
và
không
ngừng
khích
lệ
sống
bác
ái
nhiệt
thành,
nhất
là
có
sức
làm
cho
người
Kitô
hữu
ngày
càng
nên
giống
đời
sống
trinh
khiết
và
khó
nghèo
mà
Chúa
Kitô
đã
chọn
và
Ðức
Trinh
Nữ
Maria,
Mẹ
Người,
đã
sống,
như
gương
lành
của
bao
đấng
sáng
lập
dòng
đã
chứng
tỏ.
Không
ai
được
nghĩ
rằng,
vì
tận
hiến
như
thế,
các
tu
sĩ
trở
nên
xa
lạ
với
mọi
người
và
vô
dụng
đối
với
xã
hội
trần
thế.
Vì
dù
đôi
khi
không
trực
tiếp
phụ
giúp
người
đồng
thời
với
mình
nhưng
tu
sĩ
lại
hiện
diện
cùng
họ
cách
sâu
xa
hơn
trong
lòng
Chúa
Kitô
và
cộng
tác
một
cách
thiêng
liêng
với
họ,
để
việc
xây
dựng
xã
hội
trần
thế
luôn
đặt
nền
móng
nơi
Chúa
và
luôn
hướng
về
Người
hầu
những
người
xây
dựng
xã
hội
trần
thế
sẽ
không
luống
công
10.
Vì
thế,
Thánh
Công
Ðồng
công
nhận
và
khen
ngợi
nam
nữ
tu
sĩ
sống
trong
tu
viện,
trường
học,
bệnh
viện
hoặc
trong
các
xứ
truyền
giáo,
đang
trang
điểm
Hiền
Thê
Chúa
Kitô
bằng
tấm
lòng
khiêm
hạ
và
kiên
trung
trong
sự
tận
hiến
và
quảng
đại
phục
vụ
mọi
người
dưới
muôn
vàn
hình
thức.
59*
47.
Khuyến
khích
sự
kiên
tâm
và
thăng
tiến.
Vậy
mỗi
tu
sĩ
được
gọi
để
tuyên
khấn,
hãy
chuyên
tâm
sống
bền
đỗ
trong
ơn
thiên
triệu
Chúa
đã
gọi
mình
và
hãy
mãi
mãi
tiến
bộ
để
làm
cho
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội
thêm
phong
phú
hơn
và
sự
vinh
hiển
của
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
duy
nhất
và
bất
phân
thêm
cao
cả
hơn.
Trong
và
nhờ
Chúa
Kitô,
Chúa
Ba
Ngôi
là
nguồn
mạch
và
nguyên
ủy
mọi
sự
thánh
thiện.
60*
Chú
Thích:
55*
Việc
chuẩn
bị
chủ
đề
để
soạn
thảo
cho
chương
này
khá
sôi
nổi.
Trong
lược
đồ
đầu
tiên,
tất
cả
chương
VI
đề
cập
đến
tu
sĩ.
Khi
lược
đồ
được
làm
lại
và
đưa
lên
để
Công
Ðồng
nghị
trình
trong
kỳ
họp
thứ
hai,
chương
nói
về
tu
sĩ
lại
được
xen
vào
chương
V
bàn
chung
về
lời
kêu
gọi
nên
thánh
trong
Giáo
Hội.
Làm
thế
cũng
gây
nên
nhiều
bất
tiện.
Như
vậy,
chúng
ta
thấy
có
hai
khuynh
hướng:
khuynh
hướng
thứ
nhất
đòi
soạn
thảo
một
chương
đặc
biệt
về
tu
sĩ,
khuynh
hướng
thứ
hai
cương
quyết
cứ
để
xen
chung
vào
chủ
đề
về
lời
kêu
gọi
nên
thánh.
Sau
nhiều
cuộc
bàn
cãi,
việc
phân
tách
hai
chương
được
chấp
thuận,
như
chúng
ta
thấy
trong
bản
văn
chung
quyết.
Vị
trí
của
chương
này
trong
toàn
thể
Hiến
Chế
là
do
những
quan
sát
thực
tiễn.
Ðặt
nó
liền
sau
chương
nói
về
lời
kêu
gọi
nên
thánh
là
để
bày
tỏ
giá
trị
và
tầm
quan
trọng
của
đời
tận
hiến
cho
Giáo
Hội
để
thánh
hoá
và
minh
chứng.
Kết
cấu
của
chương
này
đơn
giản:
sau
khi
mô
tả
nguồn
gốc
và
sự
tiến
triển
của
các
hình
thức
đời
sống
tu
trì
(số
43),
Công
Ðồng
phân
tích
bản
tính
đời
sống
tu
trì
(số
44),
và
sau
đó
xét
đến
vai
trò
của
quyền
bính
Giáo
Hội
đối
với
tu
sĩ
(số
45)
và
nhiệm
vụ
của
đời
sống
tu
trì
trong
việc
phát
triển
nhân
phẩm
của
chính
tu
sĩ,
hoặc
trong
đời
sống
Giáo
Hội
(số
46);
sau
cùng
là
đôi
lời
khuyên
nhủ
vắn
tắt
kết
thúc
cho
chương
này
(số
47).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Rosweydô,
Vitae
Patrum,
Antwerpiae,
1628.
Apophteymata
Patrum
:
PG
65.
Palladiô,
Hist.
Lausiaca:
PG
34,
995tt;
x.
b.
C.
Butler,
Cambridge
1898
(1904).
Piô
XI,
Tông
hiến
Umbratilem,
8-7-1924
:
AAS
16
(1924),
trg
386-387.
Piô
XII,
diễn
từ
Nous
sommes
heureux,
11-4-1958:
AAS
50
(1958),
trg
283.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Phaolô
VI,
diễn
từ
Magno
gaudio,
23-5-1964
:
AAS
56
(1964),
trg
566.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Giáo
luật,
kh.
487
và
488,
4.
Piô
XII,
diễn
từ
Annus
sacer.,
8-12-1950:
AAS
43
(1951),
trg
27t.
Piô
XII,
Tông
hiến
Provida
Mater,
2-2-1947:
AAS
39
(1947),
trg
120tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
56*
Số
43:
Nhập
đề.
Công
Ðồng
mô
tả
nguồn
gốc
và
sự
tiến
triển
của
các
hình
thức
tu
trì,
một
trật
cũng
bày
tỏ
thánh
ý
Chúa
và
vai
trò
của
quyền
bính
Giáo
Hội.
Ðời
sống
tu
trì
là
một
hồng
ân
Chúa
Cha
ban
cho
Giáo
Hội,
Giáo
Hội
phải
trung
thành
gìn
giữ
và
hướng
dẫn.
Do
lời
giảng
dạy
và
gương
mẫu
của
Người,
Chúa
Kitô
là
nền
tảng
các
lời
khuyên
Phúc
Âm.
Công
Ðồng
còn
minh
định
thêm
rằng
đời
sống
tu
trì
không
nằm
trong
hệ
thống
cơ
cấu
phẩm
trật
(giáo
sĩ
-
giáo
dân),
nhưng
trong
hệ
thống
cơ
cấu
đoàn
sủng.
Dầu
các
lời
khuyên
là
do
Chúa
ban,
và
đời
sống
tu
trì
thực
hành
những
lời
khuyên
đó
là
thuộc
phạm
vi
đoàn
sủng,
Giáo
Hội
cũng
phải
thiết
lập
một
hình
thức
định
chế
để
thực
hành
đời
sống
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Phaolô
VI,
n.v.t.,
trg
567.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.,
II-II,
q.
184,a.
3
và
q.
188,
a.2.
T.
Bonaventura,
Opusc.
XI,
Apologia
Pauperum,
ch.
3,3:
x.b.
Opera,
Quaraechi,
bộ
8,
1898,
trg
245a.
(Trở
lại
đầu
trang)
57*
Số
44:
Bản
tính
của
đời
sống
tu
trì.
Trước
hết
Công
Ðồng
thừa
nhận
trong
đời
sống
đó
có
một
sự
thánh
hiến
cho
Thiên
Chúa
để
hoàn
bị
sự
thánh
hiến
của
bí
tích
Thánh
Tẩy.
Do
lời
khấn
hay
việc
dấn
thân
tương
tự
mà
có
việc
dâng
hiến,
nhờ
đó
đời
sống
của
tu
sĩ
và
cả
thế
giới
được
thần
hóa
nhiều
hơn
(x.
số
31).
Sự
thánh
hiến
này
hoàn
tất
trong
tình
yêu
trọn
vẹn
nhất:
tình
yêu
ưu
tiên
dành
cho
Thiên
Chúa
trong
Chúa
Kitô.
Ðời
sống
tu
trì
chính
yếu
cũng
là
phục
vụ
Giáo
Hội,
để
làm
cho
việc
tông
đồ
được
bành
trướng.
Nhưng
vì
là
một
sự
thánh
hiến
nội
tâm,
nên
việc
phục
vụ
trước
hết
là
cộng
tác
vào
việc
mở
mang
nước
Chúa
bằng
thái
độ
nhiệt
thành,
bằng
kinh
nguyện
và
cũng
có
thể
bằng
hoạt
động.
Bởi
thế,
việc
phục
vụ
này
không
chỉ
là
một
hình
thức
tông
đồ
bên
ngoài.
Giá
trị
dấu
hiệu
của
việc
tuyên
xưng
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
phát
xuất
từ
sự
thánh
hiến
nội
tâm
này:
dấu
hiệu
cánh
chung
của
đời
sau
và
của
hạnh
phúc
trên
Trời,
giá
trị
của
sự
cao
trọng
Nước
Chúa.
Ðể
kết
luận,
Công
Ðồng
tuyên
bố
đời
sống
tu
trì
không
thể
tách
lìa
khỏi
đời
sống
và
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội.
Như
vậy
chúng
ta
hiểu
rằng,
một
đàng
Giáo
Hội
cần
được
sự
đóng
góp
của
đời
sống
tu
trì
nên
phải
cổ
võ
đến
mức
tối
đa
cho
đời
sống
ấy,
đàng
khác
đời
sống
ấy
nói
lên
sức
mạnh
của
Giáo
Hội.
Cứ
theo
những
điểm
vừa
nói
thì
đời
sống
tu
trì
là
một
thực
tại
sống
động
trong
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Vat.
I,
lược
đồ
De
Ecclesia
Christi,
ch.
XV,
và
chú
giải
48:
Mansi
51,
549t
và
619t.
Leô
XIII,
thu
Au
milieu
des
consolations,
23-12-1900:
ASS
33
(1900-01),
trg
361.
Piô
XII,
Tông
hiến
Provida
Mater,
n.v.t.,
trg
114t.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Leô
XIII,
Hiến
chế
Romanos
Pontifices,
8-5-1881:
ASS
13
(1880-81),
trg
483.
Piô
XII,
diễn
từ
Annus
Sacer,
8-12-1950
:
AAS
43
(1951),
trg
28t.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Piô
XII,
n.v.t.,
trg
28.
Piô
XII,
Tông
hiến
Sedes
sapientiae,
31-5-1956:
AAS
48
(1956),
trg
355.
Phaolô
VI,
diễn
từ
Magno
gaudio,
3-5-1964:
AAS
56
(1964),
trg
570-571.
(Trở
lại
đầu
trang)
58*
Số
45:
Giáo
Hội
và
đời
sống
tu
trì.
Vai
trò
quyền
bính
Giáo
Hội
nằm
trong
những
điều
quy
định
tổng
quát:
lập
luật
để
làm
qui
tắc
hướng
dẫn
việc
thực
hành
các
lời
khuyên,
chuẩn
y
các
điều
lệ,
lưu
ý
đến
sự
trung
thành
và
tăng
triển
các
hội
dòng.
Sau
đó
Công
Ðồng
đề
cập
đến
những
người
nắm
giữ
quyền
bính
này:
Ðức
Giáo
Hoàng
là
Vị
mà
các
hội
dòng
miễn
trừ
phải
tùy
thuộc;
các
Giáo
Chủ,
các
Giám
Mục
là
những
người
mà
mọi
tu
sĩ
phải
kính
trọng
và
tuân
phục.
Sự
quả
quyết
Giáo
Hội
góp
phần
trong
phương
diện
phụng
vụ
và
thiêng
liêng
vào
việc
tuyên
khấn
cũng
nói
lên
rằng
những
mối
tương
quan
với
quyền
bính
không
chỉ
có
tính
cách
pháp
lý.
Theo
Hiến
Chế,
sự
đóng
góp
vào
phụng
vụ
mặc
ba
hình
thức:
Giáo
Hội
dùng
quyền
bính
chấp
nhận
các
lời
khấn,
dùng
lời
kinh
công
cộng
xin
Chúa
ban
ơn,
kết
hợp
sự
tận
hiến
của
người
tuyên
thệ
vào
hy
lễ
tạ
ơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
241t.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Piô
XII,
diễn
từ
Annus
Sacer,
n.v.t.,
trg
30.
Diễn
từ
Sous
la
maternelle
protection,
9-12-1957:
AAS
50
(1958),
trg
39t.
(Trở
lại
đầu
trang)
59*
Số
46
:
Vai
trò
của
đời
sống
tu
trì.
Sau
khi
khuyên
nhủ
tu
sĩ
biết
minh
chứng
Chúa
Kitô
trong
các
hoạt
động,
Công
Ðồng
nhắc
nhở
cho
họ
biết
đời
sống
tu
trì
làm
phát
triển
nhân
cách
con
người
vì
là
một
sự
tự
hiến,
phát
xuất
từ
hành
động
tự
do
của
ý
chí
đi
theo
chiều
hướng
của
ơn
gọi
cá
nhân;
đời
sống
ấy
còn
định
hướng
nhân
phẩm
theo
như
điều
mà
chương
trình
của
Chúa
muốn
dung
hợp,
và
như
vậy
làm
cho
nhân
phẩm
được
nẩy
nở
hoàn
toàn.
Công
Ðồng
đề
cập
ba
khía
cạnh
của
việc
nẩy
nở
đó:
tự
do
thiêng
liêng
trong
tâm
hồn
trong
sạch
hoàn
toàn,
bác
ái
hăng
say
nhờ
đó
mà
nhân
phẩm
con
người
được
phát
triển
đích
thực,
dung
hợp
với
lối
sống
mà
chính
Chúa
Kitô
đã
theo,
lối
sống
mà
Mẹ
Maria
là
gương
mẫu
hoàn
hảo.
Công
Ðồng
cũng
nhắc
lại
rằng
đờisống
tu
trì
còn
cộng
tác
một
cách
thiêng
liêng
vào
công
cuộc
kiến
tạo
trần
gian.
Sự
hiện
diện
tinh
thần
của
tu
sĩ
còn
đích
thực
hơn
cả
sự
hiện
diện
hữu
hình
bên
ngoài.
Cố
nhiên
Công
Ðồng
không
nói
tu
sĩ
hiện
diện
nơi
người
khác
nhưng
hiện
diện
trong
trái
tim
Chúa
Kitô.
Do
sự
kiện
cộng
tác
thiêng
liêng
vào
công
cuộc
kiến
tạo
trần
gian,
tu
sĩ
trở
nên
hữu
ích
cho
xã
hội
và
cộng
tác
vào
việc
tái
tạo
một
thế
giới
xây
dựng
trên
Chúa
Kitô.
Sau
cùng
Công
Ðồng
tuyên
bố
công
nhận
và
khen
ngợi
lối
sống
của
tu
sĩ.
(Trở
lại
đầu
trang)
60*
Số
47
:
Kết
luận.
Trong
câu
kết
luận
vắn
tắt,
Công
Ðồng
khuyên
nhủ
tu
sĩ
kiên
trì
và
thăng
tiến
trong
ơn
gọi
để
Giáo
Hội
được
thánh
thiện
và
để
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II