VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
V
Lời
Kêu
Gọi
Mọi
Người
Nên
Thánh
Trong
Giáo
Hội
50*
39.
Sự
thánh
thiện
trong
Giáo
Hội.
Chúng
tôi
tin
Giáo
Hội,
một
mầu
nhiệm
được
Thánh
Công
Ðồng
trình
bày,
có
tính
cách
thánh
thiện,
bất
khả
khuyết.
Thực
vậy,
Chúa
Kitô
Con
Thiên
Chúa,
Ðấng
cùng
với
Chúa
Cha
và
Chúa
Thánh
Thần,
được
ca
tụng
là
"Ðấng
thánh
duy
nhất"
1,
đã
yêu
dấu
Giáo
Hội
như
hiền
thê
mình
và
đã
hiến
thân
để
thánh
hóa
Giáo
Hội
(x.
Eph
5,25-26).
Người
kết
hiệp
với
Giáo
Hội
như
thân
thể
Người
và
ban
cho
dư
đầy
ơn
Thánh
Thần
để
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa.
Vì
thế,
tất
cả
mọi
người
trong
Giáo
Hội
-
hoặc
thuộc
hàng
giáo
phẩm,
hoặc
được
hàng
giáo
phẩm
dìu
dắt
-
đều
được
kêu
gọi
nên
Thánh,
như
lời
Thánh
Tông
Ðồ
dạy:
"Vì
Thiên
Chúa
muốn
anh
em
được
thánh
hóa"
(1Th
4,3;
x.
Eph
1,4);
sự
thánh
thiện
này
của
Giáo
Hội
luôn
được
biểu
lộ
và
phải
được
biểu
lộ
qua
những
hoa
trái
ân
sủng
mà
Thánh
Thần
đã
kết
sinh
nơi
các
tín
hữu;
sự
thánh
thiện
ấy
được
diễn
tả
dưới
nhiều
hình
thức
nơi
tất
cả
những
ai
đang
cố
đạt
tới
Ðức
Ái
trọn
hảo
trong
bậc
sống
của
mình
trong
khi
xây
dựng
kẻ
khác.
Ðặc
biệt
hơn,
sự
thánh
thiện
đó
tỏ
lộ
trong
việc
thực
hành
các
lời
khuyên,
quen
gọi
là
lời
khuyên
của
Phúc
Âm.
Nhờ
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
nhiều
Kitô
hữu
thực
hành
các
lời
khuyên
ấy
với
tư
cách
cá
nhân
hoặc
trong
những
lối
sống
hay
bậc
sống
đã
được
GiáoHội
công
nhận;
việc
thực
hành
đó
mang
lại
và
phải
mang
lại
cho
thế
giới
một
bằng
chứng
và
một
mẫu
gương
rạng
ngời
về
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội.
51*
40.
Mọi
người
được
kêu
gọi
sống
thánh
thiện.
Chúa
Giêsu,
thầy
dạy
và
mẫu
mực
thần
linh
của
mọi
sự
trọn
lành,
đã
giảng
dạy
cho
tất
cả
và
cho
mỗi
một
môn
đệ,
bất
luận
thuộc
cảnh
vực
nào,
một
đời
sống
thánh
thiện
mà
chính
Người
vừa
là
Ðấng
ban
phát
vừa
là
Ðấng
hoàn
tất:
"Vậy
các
con
hãy
trở
nên
trọn
lành
như
Cha
các
con
ở
trên
trời"
(Mt
5,48)
2.
Bởi
vậy,
Người
đã
sai
Thánh
Thần
đến
với
mọi
người,
để
từ
bên
trong
Ngài
thôi
thúc
họ
yêu
mến
Thiên
Chúa
hết
lòng,
hết
linh
hồn,
hết
trí
khôn
cùng
hết
sức
họ
(x.
Mc
12,30),
và
yêu
thương
nhau
như
Chúa
Kitô
yêu
thương
họ
(x.
Gio
13,34;
15,12).
Ðược
Thiên
Chúa
kêu
gọi
và
được
công
chính
hóa
trong
Chúa
Giêsu,
không
phải
vì
công
lao
riêng,
nhưng
vì
ý
định
và
ân
phúc
của
Ngài,
các
môn
đệ
Chúa
Kitô,
nhờ
lãnh
nhận
phép
Thánh
Tẩy,
bí
tích
đức
tin,
đã
thực
sự
trở
nên
con
cái
Thiên
Chúa
và
được
thông
phần
vào
bản
tính
Ngài,
và
do
đó,
thực
sự
đã
trở
nên
thánh.
Cho
nên
với
ơn
Chúa
họ
phải
luôn
gìn
giữ
và
hoàn
thành
trong
đời
sống
sự
thánh
thiện
mà
họ
đã
lãnh
nhận.
Họ
được
Thánh
Tông
Ðồ
khuyên
sống
"xứng
đáng
như
những
vị
thánh"
(Eph
5,3)
và
mặc
lấy
"lòng
thương
xót,
nhân
hậu,
khiêm
nhường,
tiết
độ
và
nhẫn
nại
như
những
người
đã
được
Thiên
Chúa
chọn
lựa,
thánh
hóa
và
yêu
thương"
(Col
3,12),
và
dùng
hoa
trái
của
Thánh
Thần
để
thánh
hóa
mình
(x.
Gal
5,22;
Rom
6,22).
Nhưng
vì
chúng
ta
ai
cũng
có
nhiều
lầm
lỗi
(x.
Giac
3,2),
nên
chúng
ta
luôn
cần
đến
lòng
nhân
từ
của
Thiên
Chúa
và
hằng
ngày
phải
cầu
nguyện
"xin
Chúa
tha
nợ
chúng
tôi"
(Mt
6,12)
3.
Vì
thế,
mọi
người
đều
thấy
rõ
ràng
tất
cả
các
Kitô
hữu,
bất
cứ
theo
bậc
sống
hay
địa
vị
nào,
đều
được
kêu
gọi
tiến
đến
sự
viên
mãn
của
đời
sống
Kitô
giáo
và
đến
sự
trọn
lành
của
Ðức
Ái
4.
Ngay
trong
xã
hội
trần
thế
sự
thánh
thiện
này
cũng
giúp
người
ta
sống
nhân
đạo
hơn.
Ðể
đạt
được
sự
trọn
lành
đó,
tín
hữu
phải
xử
dụng
những
sức
lực
mà
Chúa
Kitô
đã
ban
nhiều
ít
tùy
ý
Người
để
trở
nên
giống
Người
khi
theo
vết
chân
Người,
và
khi
thực
hành
thánh
ý
Chúa
Cha
trong
tất
cả
mọi
sự,
họ
sẽ
hết
lòng
tìm
vinh
danh
Chúa
và
phục
vụ
tha
nhân.
Như
thế,
sự
thánh
thiện
của
Dân
Thiên
Chúa
sẽ
sinh
hoa
trái
dồi
dào,
như
lịch
sử
Giáo
Hội
đã
từng
minh
chứng
rõ
ràng
qua
đời
sống
của
bao
vị
thánh.
52*
41.
Nhiều
hình
thức
thực
hành
sự
thánh
thiện
duy
nhất.
Những
người
được
Thánh
Thần
Thiên
Chúa
hướng
dẫn,
nghe
theo
tiếng
gọi
của
Chúa
Cha,
thờ
phượng
Ngài
trong
tinh
thần
và
chân
lý,
noi
gương
Chúa
Kitô
nghèo
khó,
khiêm
nhường
và
vác
thập
giá
để
xứng
đáng
dự
phần
vào
vinh
quang
của
Người;
tất
cả
những
người
ấy
đều
theo
đuổi
cùng
một
sự
thánh
thiện
tuy
lối
sống
và
nhiệm
vụ
của
họ
có
khác
nhau,
cho
nên
mỗi
người,
tùy
theo
ân
sủng
và
nhiệm
vụ
mình,
phải
nhất
quyết
tiến
bước
bằng
con
đường
đức
tin
sống
động,
đức
tin
khơi
động
đức
cậy
và
hoạt
động
nhờ
đức
ái.
Các
chủ
chăn
lo
cho
đoàn
chiên
Chúa
Kitô
phải
là
những
người
đầu
tiên
chu
toàn
thừa
tác
vụ
mình
cách
thánh
thiện
và
hăng
say,
khiêm
tốn
và
can
đảm,
noi
gương
vị
Linh
Mục
thượng
phẩm
và
vĩnh
cửu,
vị
Chủ
Chăn
và
Giám
Mục
chăm
sóc
linh
hồn
chúng
ta:
làm
như
thế,
các
ngài
sẽ
tìm
thấy
nơi
thừa
tác
vụ
mình
một
phương
thế
tuyệt
diệu
để
thánh
hóa.
Ðược
chọn
để
lãnh
nhận
trọn
vẹn
chức
linh
mục,
các
ngài
hưởng
nhờ
ơn
bí
tích
để
thi
hành
nhiệm
vụ
bác
ái
cao
cả
của
vị
chủ
chăn
5,
trong
lời
cầu
nguyện,
bằng
việc
hy
sinh,
giảng
dạy
và
bằng
mọi
hình
thức
chăm
sóc
và
phục
vụ
khác
thuộc
bổn
phận
của
Giám
Mục;
các
ngài
đừng
ngại
hy
sinh
mạng
sống
vì
con
chiên
và
trở
nên
mẫu
mực
cho
đoàn
chiên
(x.
1P
5,3);
sau
cùng,
các
ngài
làm
cho
Giáo
Hội
ngày
càng
thánh
thiện
hơn
bằng
gương
lành
của
các
ngài.
Các
linh
mục
kết
thành
vòng
hoa
thiêng
liêng
của
hàng
Giám
Mục
6
và
thông
phần
vào
ân
sủng
thuộc
chức
vụ
Giám
Mục,
nhờ
Chúa
Kitô,
Ðấng
Trung
Gian
vĩnh
cửu
duy
nhất;
cũng
như
hàng
Giám
Mục,
các
linh
mục
phải
gia
tăng
tình
yêu
Thiên
Chúa
và
tha
nhân
bằng
việc
thi
hành
nhiệm
vụ
hàng
ngày;
các
ngài
phải
gìn
giữ
mối
dây
liên
lạc
giữa
hàng
linh
mục,
phải
được
dư
đầy
của
cải
thiêng
liêng,
phải
là
những
chứng
nhân
sống
động
của
Thiên
Chúa
trước
mặt
mọi
người
7,
và
thi
đua
với
những
vị
linh
mục
mà
qua
các
thế
hệ,
đã
để
lại
những
chứng
tá
thánh
thiện
sáng
ngời
trong
những
việc
phục
vụ
thường
khiêm
tốn
và
kín
đáo.
Các
vị
linh
mục
ấy
được
ca
tụng
trong
Giáo
Hội
Chúa.
Linh
mục
có
bổn
phận
dâng
kinh
nguyện
và
lễ
vật
cho
dân
ngài
và
toàn
thể
Dân
Thiên
Chúa,
các
ngài
phải
ý
thức
điều
các
ngài
làm
và
sống
xứng
đáng
hợp
với
những
điều
các
ngài
cử
hành
8.
Các
linh
mục
phải
vượt
qua
những
lo
lắng
tông
đồ,
những
nguy
hiểm
và
thử
thách
mà
không
để
chúng
trở
thành
những
chướng
ngại,
hầu
tiến
xa
hơn
trên
đường
thánh
thiện
nhờ
biết
nuôi
dưỡng
và
củng
cố
hoạt
động
của
mình
bằng
việc
chiêm
niệm
dồi
dào.
Như
thế,
các
ngài
sẽ
mang
lại
niềm
hoan
hỷ
cho
toàn
thể
Giáo
Hội
Chúa.
Tất
cả
các
linh
mục,
nhất
là
những
vị
đặc
biệt
thụ
phong
để
thành
linh
mục
giáo
phận,
hãy
nhớ
rằng
việc
trung
thành
kết
hợp
và
quảng
đại
cộng
tác
với
Giám
Mục
là
phương
tiện
rất
tốt
để
thánh
hóa
chính
mình.
Dự
phần
cách
đặc
biệt
vào
sứ
mệnh
và
ân
sủng
của
chức
linh
mục
thượng
phẩm,
còn
có
những
thừa
tác
viên
ở
bậc
thấp
hơn,
trước
hết
là
những
vị
Phó
Tế;
các
Phó
Tế
khi
phục
vụ
các
nhiệm
tích
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
9,
phải
giữ
mình
tinh
sạch
khỏi
mọi
nết
xấu,
làm
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
và
mưu
cầu
lợi
ích
cho
nhân
loại
(x.
1Tm
3,8-10
và
12-13).
Những
giáo
sĩ
được
Chúa
kêu
gọi
để
thuộc
riêng
về
Chúa,
và
đang
sửa
soạn
để
lãnh
nhận
nhiệm
vụ
thừa
tác
viên,
dưới
sự
coi
sóc
của
vị
chủ
chăn,
các
vị
ấy
phải
để
lòng
trí
xứng
hợp
với
ơn
gọi
hết
sức
cao
cả
của
mình
bằng
cách
cầu
nguyện
liên
lỉ,
yêu
thương
nhiệt
thành,
chỉ
tưởng
đến
những
điều
chân
thật,
chính
đáng
và
lành
thánh,
và
chu
toàn
mọi
sự
để
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa.
Thêm
vào
số
người
đó,
còn
có
những
giáo
dân
được
Thiên
Chúa
chọn;
họ
được
Giám
Mục
gọi
để
dấn
thân
trọn
vẹn
vào
việc
tông
đồ,
và
họ
làm
việc
rất
hữu
hiệu
trong
cánh
đồng
của
Chúa
10.
Còn
bậc
vợ
chồng
và
cha
mẹ
Kitô
giáo,
khi
theo
đuổi
lối
sống
riêng
của
mình,
nhờ
ơn
Chúa,
họ
phải
suốt
đời
nâng
đỡ
và
trung
thành
yêu
thương
nhau;
đối
với
con
cái
mà
trong
yêu
thương
họ
đã
nhận
từ
Thiên
Chúa,
họ
phải
làm
cho
chúng
hấp
thụ
những
học
thuyết
Kitô
giáo
và
những
nhân
đức
của
Phúc
Âm.
Nhờ
đó
họ
nêu
gương
cho
mọi
người
về
mặt
tình
thương
bền
vững
và
quảng
đại,
xây
dựng
bác
ái
huynh
đệ,
làm
chứng
và
cộng
tác
vào
việc
sinh
sản
của
Giáo
Hội,
Mẹ
chúng
ta,
trở
nên
dấu
chỉ
và
thông
phần
vào
tình
yêu
Chúa
Kitô
đối
với
Hiền
Thê
Người:
bởi
yêu
thương,
Người
đã
hiến
mạng
sống
vì
Hiền
Thê
11.
Dưới
một
hình
thức
khác,
bậc
quả
phụ
và
độc
thân
cũng
nêu
lên
một
gương
tương
tự:
họ
có
thể
góp
phần
không
ít
vào
sự
thánh
thiện
và
hoạt
động
của
Giáo
Hội.
Còn
những
người
thường
làm
lụng
vất
vả,
công
việc
của
con
người
phải
là
phương
thế
để
đào
tạo
chính
mình,
trợ
giúp
đồng
loại,
thăng
tiến
toàn
thể
xã
hội
và
tạo
vật;
và
sau
cùng,
hân
hoan
trong
niềm
hy
vọng
và
kiên
nhẫn
chịu
đựng
lẫn
nhau,
với
đức
ái
sống
động,
họ
phải
noi
gương
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
làm
việc
tay
chân
và
không
ngừng
cùng
với
Chúa
Cha
đem
ơn
cứu
độ
cho
mọi
người;
và
nhờ
công
ăn
việc
làm,
họ
phải
tiến
xa
hơn
trên
đường
thánh
thiện,
một
sự
thánh
thiện
còn
có
tính
cách
tông
đồ.
Ước
gì
những
người
chịu
đau
khổ
vì
nghèo
đói,
tật
nguyền,
đau
yếu
và
những
thử
thách
khác,
hay
bị
bách
hại
vì
sự
công
chính
cũng
biết
kết
hợp
cách
đặc
biệt
với
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
chịu
đau
khổ
để
cứu
chuộc
thế
giới,
vì
trong
Phúc
Âm
Chúa
đã
tuyên
bố
họ
là
người
có
phúc,
và
vì
"Thiên
Chúa
của
mọi
ân
phúc,
Ðấng
đã
gọi
chúng
ta
đến
sự
vinh
hiển
muôn
đời
trong
Chúa
Giêsu
Kitô,
sau
khi
chúng
ta
chịu
đau
khổ
trong
một
thời
gian
ngắn,
chính
người
sẽ
làm
cho
chúng
ta
hoàn
hảo,
vững
chắc
và
mạnh
mẽ"
(1P
5,10).
Vì
thế,
trong
và
nhờ
những
trạng
huống,
chức
nghiệp
hay
hoàn
cảnh
của
cuộc
sống,
tất
cả
mọi
Kitô
hữu
ngày
càng
được
thánh
thiện
hơn,
nêᵠhọ
biết
tin
tưởng
lãnh
nhận
tất
cả
mọi
sự
từ
tay
Cha
trên
Trời
và
biết
cộng
tác
với
thánh
ý
Thiên
Chúa
bằng
cách
tỏ
lộ
cho
mọi
người
biết
tình
yêu
Thiên
Chúa
đối
với
thế
giới
trong
chính
việc
họ
phục
vụ
trần
thế.
53*
42.
Ðường
lối
và
phương
tiện
nên
thánh.
"Thiên
Chúa
là
tình
yêu,
ai
sống
trong
tình
yêu
là
sống
trong
Thiên
Chúa,
và
Thiên
Chúa
sống
trong
người
ấy"
(1Gio
4,16),
Thiên
Chúa
đã
đổ
tràn
đức
ái
Ngài
trong
tâm
hồn
chúng
ta,
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
Ngài
đã
ban
cho
chúng
ta
(x.
Rm
5,5);
cho
nên
ơn
huệ
thứ
nhất
và
cần
thiết
nhất
là
bác
ái.
Ðức
ái
làm
cho
chúng
ta
yêu
mến
Thiên
Chúa
trên
hết
mọi
sự
và
yêu
mến
tha
nhân
vì
Ngài.
Nhưng
để
đức
ái,
tựa
hạt
giống
tốt,
lớn
lên
trong
tâm
hồn
và
kết
sinh
hoa
trái,
mỗi
một
tín
hữu
phải
sẵn
lòng
lo
lắng
nghe
Lời
Chúa,
và
với
ơn
Ngài
thực
hành
thánh
ý
Ngài;
phải
năng
lãnh
nhận
các
bí
tích,
nhất
là
bí
tích
Thánh
Thể,
năng
tham
dự
vào
các
nghi
lễ
phụng
vụ,
chuyên
cần
cầu
nguyện,
từ
bỏ
mình,
nhiệt
thành
phục
vụ
anh
em
và
chuyên
cần
luyện
tập
các
nhân
đức.
Thực
thế,
đức
ái
là
mối
dây
liên
kết
của
sự
trọn
lành,
là
sự
viên
mãn
của
lề
luật
(x.
Col
3,14;
Rm
13,10),
nên
đức
ái
chi
phối
mọi
phương
thế
nên
thánh,
làm
cho
chúng
hình
thành
và
đạt
được
cùng
đích
12.
Vì
thế,
đức
ái
đối
với
Thiên
Chúa
và
tha
nhân
là
dấu
chỉ
người
môn
đệ
chân
chính
của
Chúa
Kitô.
Vì
Chúa
Giêsu,
Con
Thiên
Chúa,
đã
tỏ
tình
yêu
của
Người
bằng
cách
hy
sinh
mạng
sống
vì
chúng
ta,
nên
không
ai
có
tình
yêu
cao
cả
hơn
người
hy
sinh
mạng
sống
vì
Chúa
và
vì
anh
em
(x.
1Gio
3,16;
Gio
15,13).
Một
số
Kitô
hữu
ngay
từ
thời
sơ
khai
đã
được
gọi
và
sẽ
còn
được
gọi
mãi
để
làm
chứng
tình
yêu
ấy
cách
hùng
hồn
trước
mặt
mọi
người,
nhất
là
trước
mặt
những
kẻ
bách
hại
mình.
Khi
tử
đạo,
người
môn
đệ
đồng
hóa
với
Thầy
mình,
Ðấng
đã
tình
nguyện
chấp
nhận
cái
chết
để
cứu
độ
thế
giới,
và
người
môn
đệ
nên
giống
Người
trong
việc
đổ
máu;
Giáo
Hội
coi
việc
tử
đạo
đó
như
một
ân
huệ
lớn
lao
và
một
bằng
chứng
cao
cả
về
đức
ái.
Mặc
dầu
chỉ
một
số
ít
được
phúc
tử
đạo,
nhưng
tất
cả
mọi
người
phải
sẵn
sàng
tuyên
xưng
Chúa
Kitô
trước
mặt
mọi
người,
và
bước
theo
Người
trên
đường
thập
giá
giữa
những
cuộc
bách
hại
không
hề
thiếu
vắng
trong
Giáo
Hội.
Sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội
cũng
được
đặc
biệt
khích
lệ
bởi
nhiều
lời
khuyên
Chúa
đã
đề
ra
trong
Phúc
Âm
cho
môn
đệ
noi
theo
13.
Trong
những
lời
khuyên
ấy,
trước
hết
phải
kể
ân
huệ
cao
quí
mà
Chúa
Cha
ban
cho
một
số
người
(x.
Mt
19,11;
1Cor
7,7),
để
họ
tận
hiến
trọn
tình
yêu
không
chia
xẻ
cho
một
mình
Chúa
cách
dễ
dàng
hơn,
trong
bậc
đồng
trinh
hay
độc
thân
(x.
1Cor
7,32-34)
14.
Sự
tiết
dục
hoàn
toàn
vì
Nước
Trời
luôn
được
Giáo
Hội
đặc
biệt
quí
trọng
và
coi
như
dấu
chỉ
và
động
lực
của
đức
ái,
và
như
nguồn
mạch
đặc
biệt
sinh
nhiều
ơn
ích
thiêng
liêng
trong
thế
giới.
Giáo
Hội
cũng
nhớ
lời
khuyên
nhủ
của
Thánh
Tông
Ðồ
thúc
giục
các
tín
hữu
sống
bác
ái
và
khuyên
họ
phải
có
tâm
tình
như
Chúa
Giêsu
Kitô
"Ðấng
tự
diệt
mình,
nhận
lấy
hình
hài
tôi
tớ...,
và
vâng
lời
cho
đến
chết"
(Ph
2,7-8),
và
vì
chúng
ta,
"Người
đã
trở
nên
nghèo
nàn,
tuy
Người
vốn
giàu
sang"
(2Cor
8,9).
Việc
noi
theo
và
làm
chứng
đức
ái
cùng
sự
khiêm
hạ
của
Chúa
Kitô
cần
được
các
môn
đệ
thực
hiện
không
ngừng;
nên
Giáo
Hội
là
Mẹ
chúng
ta
vui
mừng
khi
thấy
trong
lòng
mình
có
nhiều
con
cái
nam
nữ
muốn
theo
sát
gương
Ðấng
Cứu
Thế
và
tỏ
lộ
rõ
ràng
hơn
sự
tự
diệt
của
Người.
Họ
chấp
nhận
nghèo
khó
trong
tự
do
của
con
cái
Thiên
Chúa
và
từ
bỏ
ý
riêng:
hơn
cả
mức
đòi
buộc
của
giới
luật,
họ
tự
nguyện
tùng
phục
một
con
người,
tùng
phục
vì
Chúa,
trong
những
gì
liên
hệ
tới
sự
trọn
lành,
hầu
nên
giống
Chúa
Kitô
vâng
lời
cách
hoàn
toàn
hơn
15.
Vì
thế,
mọi
Kitô
hữu
đều
được
kêu
mời
và
có
bổn
phận
nên
thánh
và
nên
trọn
lành
theo
bậc
sống
mình.
Bởi
vậy,
tất
cả
hãy
lưu
ý
điều
khiển
tâm
tình
mình
cho
đúng
đắn,
để
việc
xử
dụng
của
cải
trần
gian
và
lòng
quyến
luyến
sự
giàu
sang
nghịch
với
tinh
thần
khó
nghèo
của
Phúc
Âm,
không
cản
trở
họ
theo
đuổi
đức
ái
trọn
hảo,
như
lời
Thánh
Tông
Ðồ
cảnh
giác:
ai
xử
dụng
thế
gian
này,
xin
chớ
dừng
lại
đó,
vì
cuộc
diện
đời
này
sẽ
qua
đi
(x.
1Cor
7,31,
bản
Hy
lạp)
16.
54*
Chú
Thích:
50*
Trong
lược
đồ
trình
lên
Công
Ðồng
khi
khai
mạc
kỳ
họp
thứ
hai,
cả
hai
chương
V
và
VI
như
chúng
ta
thấy
hiện
nay
đều
nằm
chung
trong
một
chương.
Sự
phân
chia
hai
chương
đó
đặt
ra
hai
câu
hỏi:
1)
Soạn
một
chương
đặc
biệt
nói
về
tu
sĩ
phải
chăng
không
thích
hợp:
(x.
cuộc
tranh
luận
trong
chương
kế
tiếp).
2)
Phải
chăng
tốt
hơn
là
sắp
đặt
chương
V
này
của
lược
đồ
vào
trong
các
chương
I
và
II?
Bởi
vì
việc
nên
thánh
gắn
liền
với
đời
sống
và
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
nên
không
thể
bàn
riêng
được.
Như
vậy
đáng
lẽ
Hiến
Chế
được
kết
cấu
cân
xứng
và
mạch
lạc
hơn:
sau
những
chương
đề
cập
đến
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
và
Dân
Thiên
Chúa
(bao
gồm
cả
khía
cạnh
thánh
thiện
và
cánh
chung)
là
những
chương
nói
về
các
bậc
sống
khác
nhau
trong
Giáo
Hội:
giáo
phẩm,
giáo
dân
cách
tổng
quát,
tu
sĩ
và
những
người
có
gia
đình.
Kết
thúc
là
chương
về
Ðức
Mẹ.
Việc
sắp
xếp
như
vậy
không
thực
hiện
được
vì
thiếu
thời
giờ.
Chương
V
được
kết
cấu
như
sau:
Công
Ðồng
xác
định
sự
thánh
thiện
bản
thể
và
luân
lý
của
Giáo
Hội
(số
39),
rồi
kêu
gọi
mọi
phần
tử
trong
Giáo
Hội
phải
nên
thánh
và
hướng
về
sự
nên
thánh
(số
40).
Phải
nên
thánh
thực
sự
trong
bất
cứ
địa
vị,
điều
kiện
hay
nghề
nghiệp
nào
(số
41)
bởi
vì
mọi
phần
tử
trong
Giáo
Hội
đều
có
những
phương
tiện
tự
nhiên
và
siêu
nhiên
giúp
cho
họ
không
những
nên
thánh
mà
còn
có
được
sự
hoàn
hảo
trong
bậc
sống
riêng
của
mình
(số
42).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Sách
lễ
Roma,
Vinh
danh
Thiên
Chúa
trên
các
tầng
trời.
Xem
Lc
1,35;
Mc
1,24;
Lc
4,34;
Gio
6,69
(ho
hagios
tou
Theou);
CvTđ
3,14;
4,27
và
30;
Dth
7,26;
1Gio
2,20;
Kh
3,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
51*
Số
39:
Nhập
đề.
Ðiều
quả
quyết
chủ
yếu
của
số
này
là:
Giáo
Hội
thánh
thiện.
Những
ý
tưởng
khác
trong
số
này
đều
phụ
thuộc
vào
điều
quả
quyết
chủ
yếu
đó.
Giáo
Hội
thánh
thiện
vì
tham
dự
vào
sự
thánh
thiện
của
Chúa
Giêsu
Kitô.
Do
đó,
mới
có
lời
kêu
gọi
nên
thánh
trong
trật
tự
luân
lý,
vì
trong
trật
tự
đó
mà
Giáo
Hội
phải
thực
hiện
sự
thánh
thiện
bản
thể
Chúa
Kitô
ban
cho.
Sự
thánh
thiện
này
biểu
lộ
trong
những
hoa
trái
ân
sủng
nơi
mỗi
người,
dưới
nhiều
hình
thức,
và
đặc
biệt
trong
việc
thực
hành
các
lời
khuyên
Phúc
Âm
với
tính
cách
riêng
hoặc
chung.
Tóm
lại,
số
này
nhấn
mạnh
đến
khía
cạnh
bản
thể
và
luân
lý
của
sự
thánh
thiện
mà
Thiên
Chúa
ban
cho
Giáo
Hội
qua
Chúa
Kitô
và
trong
Chúa
Thánh
Thần;
và
chỉ
mới
trình
bày
nền
tảng
theo
lời
Thánh
Phaolô:
"Vì
Thiên
Chúa
muốn
anh
em
được
thánh
hóa".
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Origenê,
Comm.
Rom.
7,7
:
PG
14,
1122B
Macariô
Giả,
De
oratione,
11
:
PG
34,
861
AB.
T.
Tôma,
Summa
Theol.
II-II,
q.
184,
a.
3.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
T.
Augustinô,
Retract.
II,
18
:
PL
32,
637t.
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
29-6-1943
:
AAS
35
(1943),
trg
225.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
omnium,
26-1-1923
:
AAS
15
(1923),
trg
50
và
59-60.
n.t.
Tđ.
Casti
connubii,
31-12-1930
:
AAS
22
(1930),
trg
548.
Piô
XII,
Tông
hiến
Provida
Mater,
2-2-1947:
AAS
39
(1947),
trg
117.
Diễn
từ
Annus
sacer,
8-12-1950:
AAS
43
(1951),
trg
27-28.
Diễn
từ
Nel
darvi,
1-7-1956
:
AAS
48
(1956),
trg
574t.
(Trở
lại
đầu
trang)
52*
Số
40:
Mọi
người
đều
được
kêu
gọi
nên
thánh.
Số
này
xét
đến
sự
thánh
thiện
của
mỗi
Kitô
hữu
nằm
trong
văn
mạch
về
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
đưa
ra
những
yếu
tố
gắn
liền
với
lời
kêu
gọi
mỗi
người
nên
thánh.
Ðoạn
nhất
bày
tỏ
sự
thánh
thiện
của
mỗi
Kitô
hữu,
và
vì
Kitô
hữu
được
công
chính
hóa
nhờ
đức
tin
và
phép
Thánh
Tẩy,
tự
bản
thể
và
căn
nguyên
họ
trở
nên
thánh
thiện
trong
chân
lý,
nên
họ
có
nhiệm
vụ
phải
sống
xứng
hợp
với
điều
ấy.
Nền
tảng
thánh
thiện
vẫn
tồn
tại
sau
khi
phạm
tội.
Ðề
cập
đến
tội
lỗi
là
để
tránh
một
hình
thức
duy
tâm
nguy
hại
và
để
có
thể
lưu
ý
đến
thực
tại.
Ðoạn
hai
kêu
gọi
mọi
người
nên
thánh
hoàn
toàn.
Ðây
là
phần
kết
luận
cho
cả
số,
rút
ra
từ
nền
tảng
đã
đặt
định:
Kitô
hữu
không
chỉ
nên
thánh
mà
thôi,
nhưng
còn
phải
thực
hiện
sự
thánh
thiện
trong
đời
sống
cụ
thể.
Kitô
hữu
được
kêu
gọi
làm
việc
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Tôma,
Summa
Theol.
II-II,
q.
184,
a.
5
và
6;
De
Perfect.
Vitae
spir.,
ch.
18.
Originê,
In
Is.
bài
giảng
6,1
:
PG
13,
239.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Magn.
13,1
:
x.b.
Funk
I,
trg
241.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
T.
Piô
X,
huấn
từ
Haerent
animo,
4-8-1908:
AAS
41
(1908),
trg
560t.
Giáo
luật
kh.
124.
Piô
XI,
Tđ.
Ad
Catholici
sacerdoti
I,
20-12-1935
:
AAS
28
(1936),
trg
22.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Pontificale
Romanum,
lễ
truyền
chức
linh
mục,
lời
huấn
từ
đầu.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Trall.
2,3
:
x.b.
Funk
I,
trg
244.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Piô
XII,
diễn
từ
Sous
la
maternelle
protection,
9-12-1957
:
AAS
50
(1958),
trg
26.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Casti
connubi
I,
31-12-1930:
AAS
22
(1930),
trg
548.
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Ephes.
Bài
giảng
20,2
:
PG
62,136
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
53*
Số
41:
Thực
hành
sự
thánh
thiện.
Ðộng
lực
trong
đời
sống
Kitô
giáo
hướng
dẫn
mọi
tín
hữu
đến
đức
ái
hoàn
hảo.
Việc
đó
được
thực
hành
theo
nhiều
mức
độ,
cũng
như
tùy
theo
các
hồng
ân
và
trạng
huống
khác
nhau,
hoặc
trên
bình
diện
đời
sống
Kitô
giáo
nói
chung,
hoặc
mỗi
bậc
sống
nói
riêng.
Theo
văn
mạch
chúng
ta
thấy
rằng
nếu
sự
thánh
thiện
chỉ
là
một
xét
theo
bản
thể
của
nó,
nó
lại
có
nhiều
cấp
độ,
vì
sự
tự
do
cộng
tác
vào
ân
sủng
khác
nhau,
vì
các
bậc
sống
khác
nhau
và
cuối
cùng
vì
ân
sủng
được
trao
ban
theo
nhiều
cách
thức
và
mỗi
người
có
hồng
ân
riêng
biệt
của
mình.
Phần
còn
lại
là
một
lời
khuyên
nhủ
đặc
biệt,
có
tính
cách
mục
vụ,
nhằm
gởi
đến
những
hạng
người
và
những
bậc
sống
khác
nhau
trong
Giáo
Hội
(giám
mục,
linh
mục,
giáo
sĩ,
giáo
dân,
vợ
chồng,
công
nhân,
người
chuyên
nghiệp
nói
chung),
để
họ
sống
và
có
thể
thăng
tiến
trên
đường
thánh
thiện,
phù
hợp
với
địa
vị
và
điều
kiện
riêng
của
họ.
Như
vậy
là
đi
từ
lời
kêu
gọi
nên
thánh
tới
nhiệm
vụ
phải
tự
thánh
hóa
trong
địa
vị
và
điều
kiện
riêng
của
mình.
Và
đó
là
nhiệm
vụ
của
mỗi
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
T.
Augustinô,
Enchir.
121,
32
:
PL
40,
288.
T.
Tôma,
Summa
Theol.
II-II,
q.
184,
a.1.
Piô
XII,
huấn
từ
Menti
nostrae,
23-9-1950
:
AAS
42
(1950),
trg
660.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Về
các
lời
khuyên
nói
chung,
xem
Origenê,
Comm.
Rom.
X,14:
PG
14,
1275B.
T.
Augustinô,
De
S.
Virginitate,
15,15
:
PL
40,403.
T.
Tôma,
Summa
Theol.
I-II,
q.
100,
a.2,
C
đoạn
cuối;
II-II,
q.
44,
a.
4,3.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Về
sự
cao
vời
của
đức
khiết
tịnh
thánh
hiến,
xem
Tertullianô,
Exhort.
Cast.
10
:
PL
2,925C.
T.
Cyprianô,
Hab.
Virg.
3
và
22
:
PL
4,443B
và
461At.
T.
Athanasiô
(?),
De
Virg.
PG
28,252tt.
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
De
Virg.
:
PG
48,533tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Về
sự
khó
nghèo,
xem
Mt
5,3
và
19,21;
Mc
10,21;
Lc
18,22;
gương
vâng
lời
của
Chúa
Kitô
trong
Gio
4,34
và
6,38;
Ph
2,8-10;
Dth
10,5-7.
Các
Giáo
Phụ
và
các
Ðấng
sáng
lập
dòng
thường
đề
cập
rất
nhiều
đến
các
nhân
đức
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Về
sự
thực
hành
công
hiệu
những
lời
khuyên
mà
không
bắt
buộc
tất
cả
mọi
người,
xem
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Mt.
bài
giảng
7,7
:
PG
57,81t.
T.
Ambrosiô,
De
Viduis,
4,
23
:
PL
16,
241t.
(Trở
lại
đầu
trang)
54*
Số
42
:
Những
phương
tiện
thánh
hóa.
Số
này
trình
bày
động
lực
làm
cho
Kitô
hữu
thăng
tiến
trên
đường
thánh
thiện:
đó
là
đức
ái.
Cơ
cấu
của
số
này
như
sau:
đức
ái
là
linh
hồn
của
mọi
hành
động
thánh
thiện
(42a),
biểu
lộ
bằng
hành
động
cao
cả
là
tử
đạo
(42b),
trong
các
lời
khuyên
Phúc
Âm,
đặc
biệt
trong
sự
khiết
tịnh
vẹn
toàn
(42c),
trong
sự
khiêm
hạ,
tuân
phục
và
khó
nghèo
(42d).
Chính
nhờ
đức
ái
mà
chúng
ta
tránh
được
nguy
hiểm
(42e).
Ðức
ái
là
con
đường
chính
yếu
và
cần
thiết
để
nên
thánh.
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
tới
tính
cách
thiên
phú
của
nhân
đức
này
như
là
hồng
ân
Chúa
ban
và
tới
khía
cạnh
giới
luật
đòi
người
ta
phải
yêu
mến
Thiên
Chúa
và
tha
nhân
nhờ
thực
hành
các
nhân
đức
khác.
Công
Ðồng
còn
đề
cập
đến
các
bí
tích,
lời
kinh
nguyện,
sự
quên
mình,
sự
khổ
hạnh
và
việc
phục
vụ
huynh
đệ.
Như
thế
đức
ái
là
mầm
mống
các
nhân
đức
khác.
Từ
những
điều
đã
trình
bày
chúng
ta
có
thể
kết
luận
là
đức
ái
đòi
phải
thi
hành
mọi
giới
luật
Thiên
Chúa
(x.
1Gio
5,3;
Gio
14,21;
2Gio
6).
Bậc
sống
riêng
nào
của
mỗi
người
cũng
có
thể
thực
hành
những
lời
khuyên
Phúc
Âm.
Như
vậy
là
tránh
được
thiên
kiến
cho
rằng
các
tu
sĩ
chiếm
độc
quyền
việc
nên
thánh.
Số
42
làm
sáng
tỏ
động
lực
này
của
đức
ái
qua
sự
thực
hành
trong
mỗi
tình
trạng
cụ
thể.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II