VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
IV:
Giáo
Dân
40*
30.
Giáo
dân
trong
Giáo
Hội.
Sau
khi
xác
định
những
chức
vụ
của
các
phẩm
trật,
Thánh
Công
Ðồng
sẵn
lòng
đề
cập
đến
bậc
sống
của
những
Kitô
hữu
được
gọi
là
giáo
dân.
Mặc
dầu
tất
cả
những
gì
nói
về
Dân
Thiên
Chúa
đều
có
liên
quan
đến
giáo
dân,
tu
sĩ
cũng
như
giáo
sĩ,
nhưng
có
một
số
điều
đặc
biệt
thuộc
về
giáo
dân
nam
nữ,
vì
địa
vị
và
sứ
mệnh
của
họ;
những
điều
mà
hoàn
cảnh
đặc
biệt
của
thời
đại
chúng
ta
đòi
hỏi
phải
tìm
hiểu
nền
tảng
chung
cách
thấu
đáo
hơn.
Thực
thế,
các
chủ
chăn
của
Dân
Thánh
ấy
biết
rõ
giáo
dân
giúp
ích
rất
nhiều
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Các
Ngài
biết
rằng
Chúa
Kitô
không
đặt
các
Ngài
lên
để
một
mình
lãnh
lấy
tất
cả
sứ
vụ
cứu
độ
của
Giáo
Hội
đối
với
thế
giới;
nhưng
nhiệm
vụ
cao
cả
của
các
Ngài
là
chăn
dắt
tín
hữu
và
nhận
biết
các
phận
sự
và
đoàn
sủng
nơi
họ,
để
mọi
người
cùng
góp
phần
vào
công
cuộc
chung,
tùy
theo
cách
thức
của
mình.
Vì
thế,
mọi
người
"phải
lấy
bác
ái
mà
thực
hành
chân
lý,
nhờ
mọi
sự
hãy
lớn
lên
trong
Ðấng
làm
đầu
là
Chúa
Kitô;
nhờ
Người,
toàn
thân
thể
được
phối
hợp
và
kết
tụ
bằng
sự
liên
lạc
tương
trợ
nhau,
tùy
theo
công
dụng
khả
năng
từng
phần
tử,
khiến
thân
thể
được
tiến
triển
hầu
xây
dựng
trong
đức
ái"
(x.
Eph
4,15-16).
31.
Bản
tính
và
sứ
mạng
giáo
dân.
Danh
hiệu
giáo
dân
ở
đây
được
hiểu
là
tất
cả
những
Kitô
hữu
không
thuộc
hàng
giáo
sĩ
và
bậc
tu
trì
được
Giáo
Hội
công
nhận;
nghĩa
là
những
Kitô
hữu
đã
được
tháp
nhập
vào
Thân
Thể
Chúa
Kitô
nhờ
phép
Thánh
Tẩy,
đã
trở
nên
Dân
Thiên
Chúa,
và
tham
dự
vào
chức
vụ
tư
tế,
tiên
tri
và
vương
giả
của
Chúa
Kitô
theo
cách
thức
của
họ;
họ
là
những
người
đang
thực
hiện
sứ
mệnh
của
toàn
dân
Kitô
giáo
trong
Giáo
Hội
và
trên
trần
gian
theo
phận
vụ
riêng
của
mình.
Tính
cách
trần
thế
là
tính
cách
riêng
biệt
và
đặc
thù
của
giáo
dân.
Thực
vậy
các
phần
tử
trong
hàng
giáo
sĩ
dù
đôi
khi
có
thể
lo
những
việc
trần
thế,
hoặc
hơn
nữa,
hành
nghề
giữa
đời,
nhưng
vì
ơn
kêu
gọi
đặc
biệt,
sứ
mệnh
chính
yếu
và
rõ
rệt
của
họ
vẫn
là
sứ
vụ
thánh.
Phần
các
tu
sĩ,
do
bậc
sống
của
họ,
làm
chứng
cách
hùng
hồn
và
cao
quí
rằng
người
ta
không
thể
cải
tạo
thế
giới
và
cung
hiến
nó
cho
Thiên
Chúa
được,
nếu
không
có
tinh
thần
các
mối
phúc
thật.
Vì
ơn
gọi
riêng,
giáo
dân
có
bổn
phận
tìm
kiếm
nước
Thiên
Chúa
bằng
cách
làm
các
việc
trần
thế
và
xếp
đặt
chúng
theo
ý
Thiên
Chúa.
Họ
sống
giữa
trần
gian,
nghĩa
là
giữa
tất
cả
cũng
như
từng
công
việc
và
bổn
phận
của
trần
thế,
giữa
những
cảnh
sống
thường
ngày
trong
gia
đình
và
ngoài
xã
hội;
tất
cả
những
điều
đó
như
dệt
thành
cuộc
sống
của
họ.
Ðó
là
nơi
Thiên
Chúa
gọi
họ,
để
dưới
sự
hướng
dẫn
của
tinh
thần
Phúc
Âm,
như
men
từ
bên
trong,
họ
thánh
hóa
thế
giới
bằng
việc
thi
hành
những
nhiệm
vụ
của
mình;
và
như
thế,
với
lòng
tin
cậy
mến
sáng
ngời,
và
nhất
là
với
bằng
chứng
đời
sống,
họ
tỏ
lộ
Chúa
Kitô
cho
kẻ
khác,
vì
thế,
họ
có
nhiệm
vụ
đặc
biệt
soi
sáng
và
xếp
đặt
những
thực
tại
trần
gian
có
liên
hệ
mật
thiết
với
họ,
để
chúng
không
ngừng
phát
triển
và
bành
trướng
theo
Thánh
Ý
Chúa
Kitô,
hầu
ca
tụng
Ðấng
Tạo
Hóa
và
Ðấng
Cứu
Ðộ.
41*
32.
Ðịa
vị
giáo
dân
trong
lòng
Dân
Thiên
Chúa.
Giáo
Hội
do
Chúa
thiết
lập
được
tổ
chức
và
điều
khiển
theo
nhiều
thể
thức
khác
biệt
rất
lạ
lùng.
"Vì
như
trong
một
thân
thể,
chúng
ta
có
nhiều
chi
thể,
nhưng
mọi
chi
thể
không
có
cùng
một
nhiệm
vụ;
cũng
vậy,
chúng
ta
tuy
nhiều
người
song
là
một
thân
thể
trong
Chúa
Kitô,
nên
mỗi
người
chúng
ta
là
chi
thể
lẫn
nhau"
(Rm
12,4-5).
Thế
nên
chỉ
có
một
Dân
Thiên
Chúa
được
Ngài
tuyển
chọn:
"chỉ
có
một
Thiên
Chúa,
một
đức
tin,
một
Thánh
Tẩy"
(Eph
4,5),
cùng
chung
một
phẩm
giá
của
những
chi
thể
vì
đã
được
tái
sinh
trong
Chúa
Kitô,
cùng
một
ân
huệ
được
làm
con
cái,
một
ơn
gọi
trở
nên
trọn
lành,
một
ơn
cứu
độ
và
một
niềm
hy
vọng
duy
nhất
và
một
đức
ái
không
phân
chia.
Vì
thế,
trong
Chúa
Kitô
và
trong
Giáo
Hội,
không
còn
có
sự
hơn
kém
vì
nguồn
gốc
hay
dân
tộc,
vì
địa
vị
xã
hội
hoặc
vì
nam
nữ,
bởi
lẽ
"không
còn
là
người
Do
Thái
hoặc
Hy
Lạp,
nô
lệ
hay
tự
do,
nam
hay
nữ,
vì
anh
em
hết
thảy
đều
là
một
trong
Chúa
Giêsu
Kitô"
(Gal
3,38,
bản
Hy
Lạp;
x.
Col
3,11).
Vì
thế,
tuy
trong
Giáo
Hội,
tất
cả
không
cùng
đi
một
đường,
nhưng
tất
cả
vẫn
cùng
được
mời
gọi
nên
thánh,
và
đồng
thừa
hưởng
đức
tin
trong
sự
công
chính
của
Thiên
Chúa
(x.
2P
1,1).
Mặc
dù
theo
ý
Chúa
Kitô,
có
những
người
được
chọn
làm
tiến
sĩ,
làm
người
phân
phát
các
nhiệm
tích
hay
chủ
chăn
lo
cho
kẻ
khác,
nhưng
giữa
tất
cả
mọi
người
vẫn
có
sự
bình
đẳng
thực
sự,
bình
đẳng
về
phương
diện
phẩm
giá
và
hoạt
động
chung
của
mọi
tín
hữu
để
xây
dựng
thân
thể
Chúa
Kitô.
Thực
vậy,
nếu
Chúa
phân
biệt
những
thừa
tác
viên
có
chức
thánh
với
các
thành
phần
khác
của
Dân
Thiên
Chúa
thì
sự
phân
chia
này
vẫn
hàm
chứa
một
sự
hiệp
nhất,
vì
chủ
chăn
và
các
tín
hữu
khác
liên
kết
với
nhau
do
những
mối
dây
liên
hệ
chung.
Các
chủ
chăn
trong
Giáo
Hội
noi
gương
Chúa
phải
phục
vụ
lẫn
nhau
và
phục
vụ
các
tín
hữu
khác;
phần
các
tín
hữu
phải
sẵn
lòng
hợp
tác
với
các
chủ
chăn
và
những
người
giảng
dạy.
Như
thế,
tuy
khác
biệt
nhau,
nhưng
tất
cả
đều
làm
chứng
sự
duy
nhất
kỳ
diệu
trong
Thân
Thể
Chúa
Kitô.
Thực
vậy,
chính
sự
khác
biệt
về
ân
huệ,
chức
vụ
và
hoạt
động
lại
là
mối
dây
kết
hợp
con
cái
Thiên
Chúa
làm
một,
vì
"mọi
sự
ấy
là
công
trình
của
cùng
một
Thánh
Thần
duy
nhất"
(1Cor
12,11).
Vì
thế,
nhờ
lòng
ưu
ái
của
Thiên
Chúa,
giáo
dân
được
làm
em
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
đến
không
phải
để
được
phục
vụ,
nhưng
để
phục
vụ,
dù
Người
là
Chúa
tể
muôn
loài
(x.
Mt
20,28).
Cũng
vậy,
họ
làm
em
những
người
đã
lãnh
nhận
chức
vụ
thánh,
những
kẻ
đang
lấy
quyền
Chúa
Kitô
mà
giảng
dạy,
thánh
hóa
và
cai
quản
để
chăn
dắt
gia
đình
Chúa,
hầu
mọi
người
chu
toàn
giới
luật
mới
là
luật
bác
ái.
Thánh
Augustinô
đã
dùng
những
lời
tuyệt
diệu
này
để
nói
lên
điều
đó:
"Làm
Giám
Mục
cho
anh
em,
tôi
rất
sợ;
là
tín
hữu
với
anh
em,
tôi
rất
an
tâm.
Giám
Mục
là
một
chức
vụ,
tín
hữu
là
một
ân
phúc.
Giám
Mục
là
một
danh
hiệu
nguy
hiểm,
tín
hữu
là
danh
hiệu
đem
ơn
cứu
độ"
1.
42*
33.
Tông
đồ
giáo
dân.
Giáo
hữu
được
qui
tụ
trong
Dân
Thiên
Chúa
và
cấu
tạo
thành
Thân
Thể
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
dưới
quyền
của
một
Ðầu
duy
nhất;
dù
họ
là
ai,
họ
vẫn
được
kêu
gọi
dùng
hết
sức
lực
đã
lãnh
nhận
do
lòng
từ
ái
của
Ðấng
Tạo
Hóa
và
do
ân
huệ
Ðấng
Cứu
Thế
để
như
những
chi
thể
sống
động,
phát
triển
và
thánh
hóa
Giáo
Hội
không
ngừng.
Vì
thế,
giáo
dân
làm
tông
đồ
là
thông
phần
vào
chính
sứ
mệnh
cứu
độ
của
Giáo
Hội;
nhờ
lãnh
nhận
phép
Thánh
Tẩy
và
Thêm
Sức,
mỗi
tín
hữu
đều
được
Chúa
đề
cử
làm
tông
đồ;
đàng
khác
các
bí
tích,
nhất
là
bí
tích
Thánh
Thể,
thông
ban
và
nuôi
dưỡng
trong
họ
đức
ái
đối
với
Thiên
Chúa
và
đối
với
loài
người,
nhân
đức
này
là
linh
hồn
của
mọi
hoạt
động
tông
đồ.
Nhưng
giáo
dân
được
đặc
biệt
kêu
mời
làm
cho
Giáo
Hội
hiện
diện
và
hoạt
động
nơi
và
trong
những
hoàn
cảnh
mà
nếu
không
có
họ,
thì
Giáo
Hội
sẽ
không
trở
thành
muối
của
thế
gian
2.
Như
thế,
vì
những
ân
huệ
đã
lãnh
nhận,
mọi
giáo
dân
vừa
là
chứng
nhân
vừa
là
dụng
cụ
sống
động
cho
chính
sứ
mệnh
Giáo
Hội,
"tùy
theo
độ
lượng
ân
sủng
Chúa
Kitô
ban
cho"
(Eph
4,7).
Ngoài
việc
tông
đồ
này,
một
việc
có
liên
quan
đến
mọi
Kitô
hữu
không
trừ
ai,
giáo
dân
có
thể
còn
được
mời
gọi
góp
phần
trực
tiếp
hơn
và
bằng
nhiều
cách
vào
công
cuộc
tông
đồ
của
hàng
giáo
phẩm
3,
giống
như
những
tín
hữu
nam
nữ
đã
chịu
vất
vả
vì
Chúa
Kitô
để
giúp
đỡ
Tông
đồ
Phaolô
rao
giảng
Phúc
Âm
(x.
Ph
4,3;
Rm
16,3tt).
Ðàng
khác,
họ
có
những
khả
năng
mà
Hàng
Giáo
Phẩm
có
thể
dùng
vào
một
số
phận
vụ
thuộc
hàng
giáo
sĩ
có
mục
đích
thiêng
liêng.
Bởi
vậy,
nhiệm
vụ
cao
cả
của
mọi
giáo
dân
là
làm
cho
ý
định
cứu
độ
của
Thiên
Chúa
ngày
càng
lan
tới
tất
cả
mọi
người
ở
mọi
nơi
và
mọi
thời
đại.
Vì
thế,
khắp
nơi
phải
mở
đường
cho
họ
tích
cực
tham
gia
vào
công
cuộc
cứu
độ
của
Giáo
Hội,
tùy
sức
lực
họ
và
tùy
nhu
cầu
của
thời
đại.
43*
34.
Nhiệm
vụ
tư
tế
và
phụng
tự.
44*
Chúa
Giêsu
Kitô,
Linh
Mục
thượng
phẩm
và
vĩnh
cửu,
vì
cũng
muốn
giáo
dân
tiếp
tục
công
việc
chứng
tá
và
việc
phục
vụ
của
mình,
nên
đã
nhờ
Thánh
Thần
ban
cho
họ
sự
sống,
và
không
ngừng
thôi
thúc
họ
thực
hành
những
điều
thiện
hảo.
Thực
vậy,
những
kẻ
mà
Người
đã
cho
tham
dự
mật
thiết
vào
sự
sống
và
sứ
mệnh
Người,
Người
cũng
cho
họ
dự
phần
vào
chức
vụ
tư
tế,
để
họ
thực
hành
việc
phụng
thờ
thiêng
liêng
hầu
tôn
vinh
Thiên
Chúa
và
cứu
rồi
loài
người.
Bởi
thế,
vì
giáo
dân
đã
được
hiến
dâng
cho
Chúa
Kitô
và
được
Thánh
Thần
xức
dầu,
nên
họ
được
mời
gọi
và
được
ban
ơn
cách
lạ
lùng
để
Thánh
Thần
sinh
hoa
trái
nơi
họ
ngày
càng
phong
phú
hơn.
Thực
vậy,
mọi
hoạt
động,
kinh
nguyện
và
công
cuộc
tông
đồ,
đời
sống
hôn
nhân
và
gia
đình,
công
ăn
việc
làm
thường
ngày,
việc
nghỉ
ngơi
thể
xác
và
tinh
thần,
nếu
họ
chu
toàn
trong
Thánh
Thần,
và
cả
đến
những
thử
thách
của
cuộc
sống,
nếu
họ
kiên
trì
đón
nhận,
thì
tất
cả
đều
trở
nên
của
lễ
thiêng
liêng
đẹp
lòng
Thiên
Chúa,
nhờ
Chúa
Giêsu
Kitô
(x.
1P
2,5),
vì
những
của
lễ
ấy
được
thành
kính
dâng
lên
Chúa
Cha
cùng
với
Mình
Thánh
Chúa
khi
cử
hành
lễ
tạ
ơn.
Như
thế,
giáo
dân
cung
hiến
thế
giới
này
cho
Thiên
Chúa
nhờ
biết
phụng
thờ
Ngài
bằng
hành
động
thánh
thiện
khắp
nơi.
45*
35.
Nhiệm
vụ
ngôn
sứ
và
chứng
nhân.
Chúa
Kitô,
vị
Tiên
Tri
cao
cả,
Ðấng
đã
dùng
chứng
tá
đời
sống
và
sức
mạnh
của
lời
nói
để
công
bố
Nước
Chúa
Cha;
Người
chu
toàn
chức
vụ
tiên
tri,
cho
đến
lúc
sự
vinh
hiển
của
Người
tỏ
ra
trọn
vẹn;
Người
chu
toàn
chức
vụ
đó
không
những
nhờ
hàng
giáo
phẩm,
là
những
người
nhân
danh
và
lấy
quyền
Người
mà
giảng
dạy
nhưng
cũng
nhờ
các
giáo
dân;
sở
dĩ
Người
đã
đặt
họ
làm
chứng
nhân,
đồng
thời
ban
cho
họ
cảm
thức
đức
tin
và
ơn
dùng
ngôn
từ
nữa
(x.
CvTđ
2,17-18;
Kh
19,10)
là
để
sức
mạnh
Phúc
Âm
sáng
ngời
trong
đời
sống
thường
ngày,
trong
gia
đình
và
ngoài
xã
hội.
Nếu
giáo
dân
vững
lòng
tin
cậy
mà
lợi
dụng
thời
gian
hiện
tại
(x.
Eph
5,16;
Col
4,5)
và
kiên
trì
trông
đợi
vinh
quang
một
ngày
kia
sẽ
đến
(x.
Rm
8,25),
họ
sẽ
tỏ
ra
là
con
cái
của
lời
giao
ước;
nhưng
niềm
hy
vọng
đó,
họ
không
nên
giấu
kín
trong
lòng,
trái
lại
họ
phải
diễn
tả
nó
qua
những
cơ
cấu
của
cuộc
sống
trần
gian,
bằng
cách
hoán
cải
không
ngừng
và
chiến
đấu
chống
lại
"bá
chủ
của
thế
gian
tăm
tối
này
và
bọn
tà
thần"
(Eph
6,12).
Như
những
bí
tích
của
luật
mới,
là
của
ăn
nuôi
dưỡng
đời
sống
và
hoạt
động
tông
đồ
của
tín
hữu,
tiên
báo
trời
mới
và
đất
mới
thế
nào
(x.
Kh
21,1),
thì
giáo
dân
cũng
mạnh
mẽ
loan
báo
lòng
tin
vào
điều
mình
trông
đợi
như
thế
(x.
Dth
11,1),
nếu
họ
không
ngần
ngại
nối
kết
đời
sống
đức
tin
với
việc
tuyên
xưng
đức
tin
làm
một.
Công
cuộc
rao
giảng
Phúc
Âm
đó,
nghĩa
là
sự
loan
báo
Chúa
Kitô
bằng
đời
sống,
chứng
tá
và
lời
nói,
mang
một
sắc
thái
và
hiệu
quả
đặc
biệt
vì
được
thể
hiện
trong
những
hoàn
cảnh
chung
của
trần
gian.
Có
một
bậc
sống
rất
giá
trị
để
thể
hiện
nhiệm
vụ
đó,
bậc
sống
được
một
bí
tích
đặc
biệt
thánh
hóa,
đó
là
đời
sống
hôn
nhân
và
gia
đình.
Gia
đình
là
môi
trường
hoạt
động
và
trường
học
tuyệt
diệu
cho
việc
tông
đồ
giáo
dân.
Từ
gia
đình,
Kitô
giáo
thấm
nhập
vào
tất
cả
các
tổ
chức
cuộc
sống
và
dần
dần
biến
đổi
các
tổ
chức
ấy;
nơi
gia
đình,
vợ
chồng
tìm
thấy
ơn
gọi
riêng
của
mình
là
làm
chứng
cho
nhau
và
cho
con
cái
lòng
tin
và
tình
yêu
Chúa
Kitô.
Gia
đình
Kitô
giáo
lớn
tiếng
loan
truyền
sức
mạnh
của
nước
Thiên
Chúa
và
niềm
cậy
trông
vào
một
đời
sống
hạnh
phúc.
Như
thế
bằng
gương
lành
và
chứng
tá,
gia
đình
Kitô
giáo
làm
cho
thế
gian
nhận
biết
tội
lỗi
mình,
đồng
thời
sáng
soi
những
kẻ
đang
kiếm
tìm
chân
lý.
Vì
thế,
giáo
dân
có
thể
và
phải
có
một
hoạt
động
cao
quí
là
truyền
bá
Phúc
Âm
cho
thế
giới,
cả
lúc
họ
bận
tâm
lo
lắng
những
việc
trần
thế.
Dù
khi
thiếu
thừa
tác
viên
có
chức
thánh
hoặc
khi
các
ngài
bị
ngăn
trở
vì
bách
hại,
có
những
giáo
dân
thay
thế
các
ngài
thi
hành
một
vài
phận
vụ
thánh
tùy
khả
năng
của
họ;
dù
có
một
số
giáo
dân
đã
dốc
toàn
lực
vào
việc
tông
đồ,
tất
cả
vẫn
phải
cộng
tác
vào
việc
mở
mang
và
phát
triển
Nước
Chúa
Kitô
trên
trần
gian.
Vì
vậy
giáo
dân
phải
khéo
léo
tìm
hiểu
sâu
xa
hơn
chân
lý
Chúa
mạc
khải,
và
tha
thiết
nài
xin
Thiên
Chúa
ban
ơn
khôn
ngoan
cho
mình.
46*
36.
Ðịa
vị
vương
giả.
Chúa
Kitô
đã
vâng
lời
cho
đến
chết,
và
vì
thế
Người
được
Chúa
Cha
tôn
vinh
(x.
Ph
2,8-9),
và
đã
vào
trong
vinh
quang
nước
Người.
Mọi
vật
đều
suy
phục
Người,
cho
đến
khi
Người
cùng
với
mọi
tạo
vật
suy
phục
Chúa
Cha,
để
Thiên
Chúa
nên
tất
cả
mọi
sự
(x.
1Cor
15,27-28).
Người
cũng
thông
ban
cho
các
môn
đệ
quyền
bính
đó
để
họ
được
hưởng
sự
tự
do
vương
giả,
và
chiến
thắng
ách
thống
trị
của
tội
lỗi
nơi
họ,
bằng
một
đời
sống
từ
bỏ
và
thánh
thiện
(x.
Rm
6,12),
hơn
nữa
để,
khi
phụng
sự
Chúa
Kitô
nơi
tha
nhân,
họ
khiêm
nhường
và
kiên
nhẫn
dẫn
đưa
anh
em
mình
đến
cùng
Ðức
Vua,
Ðấng
mà
phụng
sự
Người
là
thống
trị.
Thực
thế,
Chúa
cũng
muốn
nhờ
cả
giáo
dân
để
mở
rộng
nước
Người,
nước
của
chân
lý
và
sự
sống,
của
ân
sủng
và
thánh
thiện,
của
công
lý,
tình
yêu
và
hòa
bình
4;
trong
nước
này,
chính
tạo
vật
cũng
được
hưởng
tự
do
rạng
ngời
của
con
cái
Thiên
Chúa
(x.
Rm
8,21).
Lời
Chúa
hứa
thật
trọng
đại
và
lệnh
Người
truyền
cho
các
môn
đệ
thật
lớn
lao:
"Thực
vậy,
tất
cả
mọi
sự
đều
thuộc
về
anh
em,
còn
anh
em
thuộc
về
Chúa
Kitô
và
Chúa
Kitô
thuộc
về
Thiên
Chúa"
(1Cor
3,23).
Vì
thế,
tín
hữu
phải
nhận
biết
bản
tính
sâu
xa
của
tạo
vật,
giá
trị
của
chúng,
và
cùng
đích
của
chúng
là
ca
tụng
Thiên
Chúa;
đồng
thời
phải
giúp
nhau
sống
đời
thánh
thiện,
nhờ
những
việc
trần
thế,
để
thế
gian
thấm
nhuần
tinh
thần
Chúa
Kitô
và
đạt
đến
cùng
đích
một
cách
hữu
hiệu
hơn
trong
công
lý,
bác
ái
và
hòa
bình.
Giáo
dân
giữ
lấy
vai
trò
chính
yếu
trong
khi
chu
toàn
nhiệm
vụ
phổ
quát
đó.
Nhờ
khả
năng
chuyên
môn
trong
những
việc
trần
thế,
nhờ
các
hoạt
động
của
họ,
những
hoạt
động
được
ân
sủng
Chúa
Kitô
nâng
lên
bậc
siêu
nhiên,
giáo
dân
hãy
đem
toàn
lực
hợp
tác
để
nhờ
lao
công
con
người,
kỹ
thuật
và
văn
hóa
nhân
loại
khai
thác
những
của
cải
được
tạo
dựng
hầu
mưu
ích
cho
mọi
người
và
phân
chia
cân
xứng
hơn
giữa
họ
theo
ý
định
của
Ðấng
Tạo
Hóa
và
sự
soi
sáng
của
Ngôi
Lời
Ngài;
và
tùy
cách
thức
riêng
của
chúng,
chúng
giúp
phát
triển
toàn
diện
sự
tự
do
của
con
người
và
sự
tự
do
của
Kitô
hữu.
Như
thế,
nhờ
các
phần
tử
của
Giáo
Hội,
Chúa
Kitô
sẽ
đem
ánh
sáng
cứu
độ
của
Người
chiếu
soi
toàn
thể
nhân
loại
mỗi
ngày
một
hơn.
Ðàng
khác,
khi
các
thể
chế
và
cảnh
sống
của
thế
giới
gây
nên
dịp
tội,
giáo
dân
phải
góp
sức
làm
cho
các
thể
chế
và
cảnh
sống
đó
trở
nên
lành
mạnh,
để
chúng
phù
hợp
với
các
tiêu
chuẩn
của
đức
công
bình,
và
giúp
phát
huy
việc
luyện
tập
các
nhân
đức
hơn
là
ngăn
trở
chúng.
Hành
động
như
thế,
giáo
dân
sẽ
làm
cho
những
giá
trị
luân
lý
thấm
nhập
vào
văn
hóa
và
các
công
trình
của
loài
người.
Và
nhờ
vậy,
cánh
đồng
thế
giới
mới
được
chuẩn
bị
kỹ
càng
hơn
để
đón
nhận
hạt
giống
Lời
Thiên
Chúa,
và
nhiều
cửa
được
mở
rộng
thêm
hơn
cho
Giáo
Hội
để
sứ
điệp
hòa
bình
thấm
nhập
vào
thế
gian.
Chính
công
cuộc
cứu
độ
đòi
hỏi
tín
hữu
phải
lưu
tâm
phân
biệt
đâu
là
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
của
họ
với
tư
cách
một
phần
tử
của
Giáo
Hội,
đâu
là
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
với
tư
cách
một
phần
tử
trong
xã
hội
loài
người.
Họ
phải
cố
gắng
hòa
hợp
cả
hai
loại
nghĩa
vụ
và
bổn
phận
đó
với
nhau,
và
hãy
nhớ
rằng
trong
mọi
lãnh
vực
trần
thế,
lương
tâm
Kitô
giáo
phải
luôn
hướng
dẫn
họ,
vì
không
một
hoạt
động
nào
của
con
người,
dù
thuộc
phạm
vi
trần
thế,
có
thể
vượt
khỏi
quyền
thống
trị
của
Thiên
Chúa.
Vì
thế,
trong
thời
đại
chúng
ta,
hơn
bao
giờ
hết,
người
tín
hữu
cũng
phải
làm
sáng
tỏ
sự
phân
biệt
và
hòa
hợp
các
nghĩa
vụ
và
bổn
phận
này
trong
phương
thức
hành
động
của
họ,
để
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
có
thể
đáp
ứng
những
hoàn
cảnh
đặc
biệt
của
thế
giới
ngày
nay
cách
trọn
vẹn
hơn.
Thực
vậy,
nếu
phải
công
nhận
rằng
xã
hội
trần
gian,
vì
lo
lắng
việc
trần
thế
cách
hợp
pháp
nên
có
quyền
điều
hành
theo
những
qui
tắc
riêng
biệt,
thì
cũng
phải
loại
bỏ
cách
chính
đáng
tà
thuyến
chủ
trương
xây
dựng
xã
hội
bất
cần
đạo
lý,
và
chủ
trương
chống
lại
hay
hủy
diệt
tự
do
tín
ngưỡng
của
người
công
dân
5.
47*
37.
Tương
quan
với
hàng
giáo
phẩm.
Như
mọi
Kitô
hữu
khác,
giáo
dân
cũng
có
quyền
được
các
chủ
chăn
có
chức
thánh
ban
phát
dồi
dào
ơn
trợ
lực
chứa
đựng
trong
kho
tàng
thiêng
liêng
của
Giáo
Hội,
đặc
biệt
là
Lời
Thiên
Chúa
và
các
bí
tích
6.
Như
con
cái
Thiên
Chúa
và
như
anh
em
trong
Chúa
Kitô,
họ
cũng
sẽ
trình
bày
với
các
vị
ấy
những
nhu
cầu
và
khát
vọng
của
mình
một
cách
tự
do
và
tín
cẩn.
Nhờ
sự
hiểu
biết,
khả
năng
chuyên
môn
và
uy
tín
của
họ,
họ
có
thể
và
đôi
khi
còn
có
bổn
phận
phải
bày
tỏ
cảm
nghĩ
mình
về
những
việc
liên
quan
đến
lợi
ích
của
Giáo
Hội
7.
Họ
nên
thực
hiện
điều
đó,
nếu
cần,
nhờ
vào
các
cơ
quan
đã
được
Giáo
Hội
thiết
lập
nhằm
mục
đích
ấy;
và
họ
hãy
luôn
chân
thành,
can
đảm
và
khôn
ngoan,
kính
trọng
và
yêu
mến
những
người
thay
mặt
Chúa
Kitô
vì
nhiệm
vụ
thánh
của
các
ngài.
Như
mọi
tín
hữu
khác,
với
tinh
thần
vâng
lời
của
người
Kitô
hữu,
giáo
dân
cũng
hãy
mau
mắn
chấp
nhận
những
điều
mà
các
chủ
chăn
có
nhiệm
vụ
thánh
đại
diện
Chúa
Kitô,
đã
quyết
định
với
tư
cách
những
thầy
dạy
và
những
nhà
lãnh
đạo
trong
Giáo
Hội;
làm
như
thế,
họ
đã
theo
gương
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
vâng
lời
cho
đến
chết,
để
mở
đường
hạnh
phúc
của
sự
tự
do
con
cái
Thiên
Chúa
cho
tất
cả
mọi
người.
Giáo
dân
đừng
quên
dùng
lời
cầu
nguyện
phó
dâng
cho
Thiên
Chúa
các
vị
lãnh
đạo
của
mình,
để
các
ngài
hoan
hỷ
mà
không
than
vãn
thi
hành
nhiệm
vụ
chăm
sóc
linh
hồn
chúng
ta,
nhiệm
vụ
mà
các
ngài
sẽ
phải
trả
lẽ
(x.
Dth
13,17).
Phần
các
chủ
chăn
có
chức
thánh,
các
ngài
phải
nhìn
nhận
và
nâng
cao
phẩm
giá
và
trách
nhiệm
của
giáo
dân
trong
Giáo
Hội,
các
ngài
nên
sẵn
sàng
chấp
nhận
những
ý
kiến
khôn
ngoan
của
họ,
tin
cẩn
giao
phó
cho
họ
những
công
tác
để
họ
phục
vụ
Giáo
Hội,
cho
họ
tự
do
và
quyền
hạn
để
hành
động;
hơn
nữa,
các
ngài
cũng
nên
khuyến
khích
họ
tự
đảm
lấy
trách
nhiệm.
Với
tình
cha
con,
các
ngài
hãy
cẩn
thận
xem
xét,
trong
Chúa
Kitô,
những
kế
hoạch,
thỉnh
cầu
và
khát
vọng
của
họ
8.
Ðàng
khác,
các
chủ
chăn
phải
nhìn
nhận
và
tôn
trọng
sự
tự
do
chính
đáng
của
mọi
người
trong
lãnh
vực
trần
thế.
Họ
hy
vọng
rằng,
sự
liên
lạc
mật
thiết
giữa
giáo
dân
và
chủ
chăn
sẽ
đem
lại
rất
nhiều
lợi
ích
cho
Giáo
Hội:
thực
vậy,
nhờ
sự
liên
lạc
đó,
giáo
dân
ý
thức
trách
nhiệm
mình
một
cách
vững
vàng
hơn;
lòng
hăng
say
của
họ
được
phát
triển,
và
họ
góp
sức
dễ
dàng
hơn
vào
công
việc
của
các
chủ
chăn.
Phần
các
chủ
chăn,
nhờ
sự
trợ
lực
kinh
nghiệm
của
giáo
dân,
các
ngài
có
thể
phán
đoán
minh
bạch
và
đúng
đắn
hơn
về
những
vấn
đề
thiêng
liêng
cũng
như
trần
thế;
như
vậy,
toàn
thể
Giáo
Hội
được
vững
mạnh
nhờ
tất
cả
mọi
chi
thể,
sẽ
chu
toàn
hữu
hiệu
hơn
sứ
mệnh
mình
đối
với
sự
sống
của
thế
gian.
48*
38.
Giáo
dân,
linh
hồn
của
thế
giới.
Trước
mặt
nhân
loại,
mỗi
giáo
dân
phải
là
chứng
nhân
của
sự
phục
sinh
và
sự
sống
của
Chúa
Giêsu,
đồng
thời
là
dấu
hiệu
của
Thiên
Chúa
hằng
sống.
Tất
cả
và
mỗi
người
góp
phần
nuôi
dưỡng
thế
giới
bằng
những
hoa
trái
thiêng
liêng
(x.
Gal
5,22)
và
truyền
bá
cho
thế
gian
tinh
thần
của
những
người
nghèo
khó,
hiền
lành
và
hiếu
hòa,
những
người
mà
Phúc
Âm
Chúa
đã
tuyên
bố
là
có
phúc
(x.
Mt
5,3-9).
Tóm
lại,
"người
Kitô
hữu
hãy
làm
cho
thế
giới
sống
như
linh
hồn
làm
cho
thân
xác
sống"
9.
49*
Chú
Thích:
40*
Vị
trí
và
cơ
cấu
của
chương
này
cho
ta
thấy
tầm
quan
trọng
của
nó.
Lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử,
Công
Ðồng
bàn
nguyên
một
chương
đặc
biệt
về
giáo
dân,
và
ở
đây
mới
chỉ
nhằm
tới
nền
tảng
thần
học
về
cơ
cấu
Giáo
Hội
dưới
khía
cạnh
ơn
gọi
của
giáo
dân.
Những
khía
cạnh
thực
tiễn
như
về
những
hình
thức
tổ
chức
chẳng
hạn,
sẽ
được
đề
cập
trong
sắc
lệnh
đặc
biệt
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân.
Và
những
vấn
đề
trọng
đại
nói
lên
mối
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
các
giá
trị
trần
thế,
sẽ
được
nghiên
cứu
tỉ
mỉ
trong
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
Trong
Thế
Giới
Ngày
Nay.
Từ
những
cuộc
tranh
luận
trong
Công
Ðồng
và
từ
chính
những
nghị
định,
chúng
ta
có
thể
kết
luận
rằng,
giáo
dân
không
chỉ
được
định
nghĩa
một
cách
đơn
giản
như
không
phải
là
giáo
sĩ,
nhưng
trước
hết
phải
được
công
nhận
là
thuộc
về
Dân
Chúa.
Do
đó,
chúng
ta
sẽ
nghiên
cứu
chương
này
dựa
trên
chương
II,
bởi
vì
những
đặc
điểm
của
giáo
dân
mô
tả
ở
đây,
có
liên
quan
phần
lớn
tới
phần
tử
Dân
Chúa.
(Xem
tiếp
các
chú
thích
41*
-
49*).
(Trở
lại
đầu
trang)
41*
Công
Ðồng
bắt
đầu
bằng
số
31
để
trả
lời
cho
câu
hỏi
đã
được
đặt
ra:
giáo
dân
là
gì
trong
viễn
tượng
một
khoa
thần
học
về
Giáo
Hội?
Công
Ðồng
đưa
ra
ánh
sáng
những
yếu
tố
tích
cực
biểu
thị
đặc
tính
của
giáo
dân,
và
yếu
tố
chính
là
tính
cách
trần
thế,
nghĩa
là
người
đảm
nhận
qui
hướng
về
Thiên
Chúa
những
sự
việc
trần
thế
mà
họ
dấn
thân.
Vậy
những
đặc
điểm
của
một
giáo
dân
là:
-
Sống
giữa
mọi
người
và
trong
xã
hội
nhờ
dây
liên
lạc
gia
đình
và
nghề
nghiệp.
-
Thánh
hóa
trần
gian
như
men
bột
qua
việc
minh
chứng
bằng
đời
sống
trong
khi
thi
hành
nhiệm
vụ
riêng
biệt
trong
nghề
nghiệp
của
mình.
-
Trách
vụ
làm
cho
những
thực
tại
trần
thế
biết
ca
tụng
Ðấng
Sáng
Tạo
và
Cứu
Thế,
những
thực
tại
mà
họ
được
nối
kết
chặt
chẽ
như
Chúa
Kitô
muốn.
Ðó
là
tình
trạng
tạo
nên
một
giáo
dân,
khiến
họ
có
thể
là
chứng
nhân
tông
đồ
đích
thực
giữa
trần
gian.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
T.
Augustinô,
Serm.
340
:
PL
38,
1483.
(Trở
lại
đầu
trang)
42*
Số
32
trình
bày
ý
tưởng
giáo
dân
là
phần
tử
Dân
Chúa
có
địa
vị
là
con
cái
Chúa,
được
mời
gọi
nên
thánh
và
lãnh
nhận
ơn
Chúa.
Về
vấn
đề
này
Công
Ðồng
quả
quyết
hai
điểm:
-
Phép
Thánh
Tẩy
ban
cho
mọi
người
lãnh
nhận
sự
bình
đẳng
căn
bản.
-
Mọi
người
phải
liên
kết
với
nhau:
mục
tử
không
những
là
thủ
lãnh
nhưng
còn
là
người
phục
vụ
Dân
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno,
15-5-1931
:
AAS
23
(1931),
trg
212t.
Piô
XII,
diễn
từ
De
quelle
consolation,
14-10-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
790t.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Piô
XII,
diễn
từ
Six
ans
se
sont
écoulés,
5-10-1957
:
AAS
49
(1957),
trg
927.
(Trở
lại
đầu
trang)
43*
Số
33:
Tiếp
theo
đó,
Công
Ðồng
tuyên
bố
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
tham
dự
vào
sứ
mệnh
cứu
rỗi
của
Giáo
Hội
vì
đặt
nền
tảng
trong
phép
Thánh
Tẩy
và
phép
Thêm
Sức.
Tính
cách
đặc
biệt
của
tông
đồ
giáo
dân
là
làm
cho
Giáo
Hội
hiên
diện
và
hoạt
động
trong
mọi
hoàn
cảnh
của
thế
giới.
Vả
lại,
giáo
dân
vẫn
có
thể
cộng
tác
chặt
chẽ
với
hàng
giáo
phẩm
trong
việc
tông
đồ
của
giáo
sĩ
đích
danh.
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
sẽ
lặp
lại
và
quảng
diễn
ý
tưởng
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
44*
Trong
các
số
34-36,
căn
cứ
vào
ba
tước
hiệu
căn
bản
của
Chúa
Kitô,
Công
Ðồng
muốn
chứng
minh
cách
thức
đặc
biệt
mà
giáo
dân,
với
tước
hiệu
là
phần
tử
Dân
Chúa,
được
tham
dự
vào
các
nhiệm
vụ
khác
nhau
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
45*
Số
34:
Tư
tế.
Tham
dự
vào
chức
tư
tế
cộng
đồng.
Ðoạn
này
lặp
lại
các
số
10
và
11
về
chức
tư
tế
cộng
đồng
của
người
đã
chịu
phép
Thánh
Tẩy
và
được
thực
thi
trong
việc
phụng
tự:
chức
tư
tế
đó
diễn
tả
và
thánh
hóa
đời
sống
thường
nhật
của
giáo
dân
và
nhờ
đó
mà
giáo
dân
thánh
hóa
thế
gian.
(Trở
lại
đầu
trang)
46*
Số
35:
Tiên
Tri.
Tham
dự
vào
sứ
mệnh
tiên
tri
của
Chúa
Kitô:
giáo
dân
minh
chứng
đức
tin
và
đức
ái
trong
thế
giới
nghề
nghiệp
và
kỹ
thuật,
trong
những
điều
kiện
thông
thường
mà
họ
sinh
sống;
đặc
biệt
làm
chứng
trong
tổ
ấm
và
gia
đình
công
giáo,
nơi
đã
được
bí
tích
Hôn
Nhân
thánh
hóa
và
thánh
hiến.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Sách
lễ
Roma,
trích
kinh
Tiền
Tụng
lễ
Kitô
Vua.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Immortale
Dei,
1-11-1885
:
ASS
18
(1885),
trg
166tt.
N.t.,
Tđ.
Sapientiae
christianae,
10-1-1890
:
ASS
22
(1888-90),
trg
397tt.
Piô
XII,
diễn
từ
Alla
vostra
filiae,
23-3-1958:
AAS
50
(1958),
trg
220:
"tính
cách
thế
tục
hợp
pháp
và
lành
mạnh
của
quốc
gia".
(Trở
lại
đầu
trang)
47*
Số
36:
Vương
giả.
Tham
dự
vào
chức
vị
vương
giả
của
Chúa
Kitô:
ở
đây
bàn
về
sự
kiện
giáo
dân
thánh
hóa
thế
gian,
vì
họ
đem
sở
trường
tham
gia
vào
công
cuộc
tìm
kiếm
và
xây
dựng
trần
thế:
vai
trò
đó
làm
họ
thích
hợp
với
việc
tán
trợ
công
cuộc
chuẩn
bị
cho
Phúc
Âm
(x.
số
16)
qua
những
giá
trị
nhân
bản.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Giáo
luật
kh.
682.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
XII,
diễn
từ
De
quelle
consolation,
n.v.t.,
trg
789:
"Trong
những
trận
chiến
dứt
khoát,
đôi
khi
những
kẻ
ở
tiền
tuyến
lại
có
những
sáng
kiến
tốt
đẹp
nhất...".
n.t.,
diễn
từ
L'importance
de
la
presse
cathol.,
17-2-1950:
AAS
42
(1950),
trg
256.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
1Th
5,19
và
1Gio
4,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
48*
Số
37
đưa
ra
nguyên
tắc
tốt
đẹp
giữa
giáo
dân
và
hàng
giáo
phẩm.
Giáo
dân
phải
theo
tinh
thần
Kitô
giáo
mà
trọng
kính
tuân
phục
giáo
phẩm,
và
giáo
phẩm
cũng
phải
biết
thẳng
thắn
tiếp
nhận
giáo
dân,
biết
lấy
tinh
thần
kính
trọng
và
bác
ái
mà
lắng
nghe
họ,
biết
thừa
nhận
và
đề
cao
địa
vị
và
trách
nhiệm
của
họ
trong
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
cũng
phải
tôn
trọng
sự
tự
do
chính
đáng
của
họ
trong
nước
trần
gian.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Epist.
ad
Diognetum,
6
:x.b.
Funk
I,
trg
400.
-
Xem
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
in
Mt
bài
giảng
46
(47),
2:
PG
58,
478,
về
men
trong
bột.
(Trở
lại
đầu
trang)
49*
Ðể
kết
luận,
số
38
quả
quyết
mỗi
giáo
dân
tùy
theo
cảnh
huống
của
mình
phải
là
chứng
nhân
của
Phục
Sinh
và
là
dấu
hiệu
của
Thiên
Chúa
hằng
sống.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II