VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
III
Tổ
Chức
Phẩm
Trật
Giáo
Hội
Và
Ðặc
Biệt
Về
Chức
Giám
Mục
23*
18.
Lời
mở
đầu.
Ðể
chăn
dắt
và
phát
triển
Dân
Thiên
Chúa
luôn
mãi,
Chúa
Kitô
đã
thiết
lập
các
chức
vụ
khác
nhau
trong
Giáo
Hội
hầu
mưu
ích
cho
toàn
thân.
Thực
vậy,
các
thừa
tác
viên
xử
dụng
quyền
bính
thiêng
liêng
mà
phục
vụ
anh
em
mình,
để
mọi
người
thuộc
Dân
Thiên
Chúa
và
đương
nhiên
hưởng
phẩm
giá
Kitô
hữu
sẽ
đạt
đến
phần
rỗi,
nhờ
nỗ
lực
tiến
tới
cùng
một
cứu
cánh
trong
tự
do
và
trật
tự.
Bước
theo
dấu
vết
của
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
Thánh
Công
Ðồng
này
cũng
giảng
dạy
và
tuyên
bố
rằng:
Chúa
Giêsu
Kitô,
Mục
Tử
vĩnh
cửu
đã
thiết
lập
Giáo
Hội
thánh
thiện
khi
sai
các
Tông
Ðồ
như
Chúa
Cha
đã
phái
Người
(Gio
20,21),
và
Người
đã
muốn
các
đấng
kế
vị,
tức
các
Giám
Mục,
làm
chủ
chăn
trong
Giáo
Hội
cho
đến
tận
thế.
Nhưng
để
Chức
Giám
Mục
được
duy
nhất
và
không
bị
phân
chia,
Chúa
đã
đặt
Thánh
Phêrô
làm
Thủ
Lãnh
các
Tông
Ðồ
khác,
và
trong
Ngài,
Chúa
đã
đặt
nguyên
lý
cùng
nền
tảng
vĩnh
cửu
và
hữu
hình
của
hiệp
nhất
đức
tin
và
hiệp
thông
1.
Thánh
Công
Ðồng
một
lần
nữa
nêu
lên
cho
mọi
tín
hữu
tin
vững
vàng
giáo
lý
về
sự
thiết
lập,
sự
trường
tồn,
về
quyền
lực
và
quan
niệm
của
quyền
tối
thượng
nơi
Giáo
Hoàng
Rôma
cùng
quyền
Giáo
Huấn
bất
khả
ngộ
của
Ngài.
Tiếp
tục
công
trình
đã
khởi
sự,
Thánh
Công
Ðồng
muốn
công
bố
và
giải
thích
cho
mọi
người
giáo
lý
về
các
Giám
Mục,
những
đấng
kế
vị
các
Tông
Ðồ
và
cùng
với
đấng
kế
vị
Thánh
Phêrô,
Ðại
Diện
Chúa
Kitô
2,
và
là
Thủ
Lãnh
của
toàn
thể
Giáo
Hội
hữu
hình
điều
khiển
gia
đình
Thiên
Chúa
hằng
sống.
24*
19.
Kêu
gọi
và
thiết
lập
nhóm
12
Tông
Ðồ.
25*
Chúa
Giêsu,
sau
khi
cầu
nguyện
lâu
giờ
cùng
Chúa
Cha,
đã
gọi
đến
với
mình
những
kẻ
Người
muốn
và
thiết
lập
mười
hai
người
để
chung
sống
với
Người,
cùng
sai
họ
đi
rao
giảng
Nước
Thiên
Chúa
(x.
Mc
3,13-19;
Mt
10,1-42);
Người
tổ
chức
(x.
Lc
6,13)
các
Tông
Ðồ
này
theo
cách
thức
một
cộng
đoàn,
nghĩa
là
một
nhóm
người
kiên
vững;
Người
chọn
Phêrô,
một
người
trong
số
họ,
làm
đầu
cộng
đoàn
ấy
(x.
Gio
21,15-17).
Người
sai
họ
đến
với
con
cái
Israel
trước
tiên,
rồi
đến
với
tất
cả
các
dân
nước
khác
(x.
Rm
1,16),
hầu,
nhờ
tham
dự
vào
quyền
bính
của
Người,
các
Tông
Ðồ
làm
cho
mọi
dân
tộc
nên
môn
đệ
Người
cùng
thánh
hóa
và
điều
khiển
họ
(x.
Mt
28,16-20;
Mc
16,15;
Lc
24,45-48;
Gio
20,21-23),
như
thế,
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Chúa,
các
Ngài
mở
mang
và
chăn
dắt
Giáo
Hội
bằng
việc
phục
vụ
mọi
ngày
cho
đến
tận
thế
(x.
Mt
28,20).
Ngày
Lễ
Hiện
Xuống,
các
ngài
được
hoàn
toàn
kiên
vững
trong
sứ
mệnh
này
(x.
CvTđ
2,1-36),
như
lời
Chúa
hứa:
"Các
con
sẽ
nhận
lấy
sức
mạnh
của
Thánh
Thần
ngự
xuống
trên
các
con,
và
các
con
sẽ
làm
chứng
về
Thầy
tại
Giêrusalem,
khắp
xứ
Giuđêa,
Samaria,
cho
đến
tận
cùng
trái
đất"
(CvTđ
1,8).
Khi
các
Tông
Ðồ
rao
giảng
Phúc
Âm
khắp
nơi
(x.
Mc
16,20)
và
có
nhiều
thính
giả
đón
nhận
nhờ
tác
động
của
Chúa
Thánh
Thần,
các
ngài
qui
tụ
họ
thành
Giáo
Hội
phổ
quát,
Giáo
Hội
này
đã
được
Chúa
thiết
lập
trên
các
Tông
Ðồ
và
xây
dựng
trên
Thánh
Phêrô,
thủ
lãnh
của
các
ngài;
và
Chúa
Giêsu
Kitô
là
viên
đá
góc
cao
cả
của
Giáo
Hội
ấy
(x.
Kh
21,14;
Mt
16,18;
Eph
2,20)
3.
26*
20.
Các
Giám
Mục,
kế
nghiệp
các
Tông
Ðồ.
Sứ
mệnh
thần
linh
được
Chúa
Kitô
trao
phó
cho
các
Tông
Ðồ
phải
tồn
tại
cho
đến
tận
thế
(x.
Mt
28,20),
bởi
lẽ
Phúc
Âm
mà
các
ngài
có
nhiệm
vụ
rao
truyền
là
nguyên
lý
ban
sự
sống
toàn
diện
cho
Giáo
Hội
qua
mọi
thời
đại.
Vì
thế,
các
Tông
Ðồ
đã
quan
tâm
đặt
người
kế
vị
trong
cái
xã
hội
có
phẩm
trật
này.
Thực
thế,
không
những
các
ngài
có
nhiều
phụ
tá
giúp
thi
hành
chức
vụ
4,
nhưng,
để
sứ
mệnh
phó
thác
cho
các
ngài
được
tiếp
tục
sau
khi
các
ngài
qua
đời,
các
Tông
Ðồ
còn
ủy
thác,
như
một
di
chúc,
cho
các
cộng
sự
viên
trực
tiếp
của
mình,
nhiệm
vụ
hoàn
tất
và
củng
cố
công
trình
các
ngài
đã
khởi
sự
5,
đồng
thời
căn
dặn
họ
coi
sóc
tất
cả
các
đoàn
chiên,
mà
Chúa
Thánh
Thần
đã
đặt
họ
chăn
dắt
Giáo
Hội
Chúa
(x.
CvTđ
20,28).
Bởi
vậy
các
ngài
đề
cử
những
người
như
thế,
rồi
ban
quyền
chức
cho
họ,
hầu
khi
các
ngài
qua
đời,
đã
có
những
người
xứng
đáng
nhận
lãnh
chức
vụ
của
các
ngài
6.
Giữa
những
chức
vụ
khác
nhau
được
thi
hành
trong
Giáo
Hội
từ
buổi
sơ
khai,
theo
chứng
tá
của
truyền
thống,
chức
vụ
chính
yếu
là
chức
vụ
của
những
vị
đã
được
bổ
nhiệm
lên
Giám
Mục;
nhờ
liên
tục
kế
vị
từ
buổi
ban
đầu,
7
các
ngài
vẫn
có
những
mầm
mống
hạt
giống
tông
đồ
8.
Như
thế,
theo
chứng
tá
của
Thánh
Irêneô,
truyền
thống
tông
đồ
được
biểu
hiện
trên
khắp
hoàn
cầu
9
và
được
bảo
tồn
10
nhờ
những
đấng
được
các
Tông
Ðồ
đặt
làm
Giám
Mục
và
các
vị
kế
nghiệp
các
ngài
cho
đến
ngày
nay.
Nhờ
thế,
các
Giám
mục
đã
nhận
lãnh
việc
phục
vụ
cộng
đoàn
với
sự
giúp
đỡ
của
các
linh
mục
và
phó
tế
11.
Thay
thế
Thiên
Chúa,
các
ngài
đứng
đầu
đàn
chiên
12
mà
các
ngài
là
chủ
chăn,
với
tư
cách
là
Thầy
dạy
giáo
thuyết,
tư
tế
lo
phụng
tự
thánh
và
thừa
tác
viên
lãnh
đạo
13,
cũng
như
chức
vụ
mà
Chúa
đã
trao
phó
riêng
cho
Thánh
Phêrô,
Tông
Ðồ
Cả,
và
phải
được
trao
lại
cho
các
đấng
kế
vị
Phêrô,
chức
vị
đó
luôn
tồn
tại,
cũng
thế,
chức
vụ
chăn
dắt
Giáo
Hội
của
các
Tông
Ðồ
phải
tồn
tại
và
được
thi
hành
liên
tục
do
thánh
chức
Giám
Mục
14.
Vì
thế,
Thánh
Công
Ðồng
dạy
rằng,
chính
Chúa
đã
lập
các
Giám
Mục
kế
vị
Tông
Ðồ
15
làm
mục
tử
Giáo
Hội.
Bởi
vậy,
ai
nghe
lời
các
ngài
là
nghe
lời
Chúa
Kitô,
còn
ai
khinh
dể
các
ngài
là
khinh
dể
Chúa
Kitô
và
Ðấng
đã
phái
Chúa
Kitô
đến
(x.
Lc
10,16)
16.
27*
21.
Chức
Giám
Mục
có
tính
cách
bí
tích.
Vậy,
qua
các
Giám
Mục
được
các
linh
mục
trợ
giúp,
Chúa
Giêsu
Kitô,
Linh
Mục
Thượng
Phẩm,
hiện
diện
giữa
các
tín
hữu.
Thực
vậy,
ngự
bên
hữu
Chúa
Cha,
Người
vẫn
hiện
diện
giữa
cộng
đoàn
các
linh
mục
của
Người
17,
nhưng
nhất
là
qua
sự
phục
vụ
quí
hóa
của
các
ngài,
Chúa
Kitô
rao
giảng
lời
Thiên
Chúa
cho
các
dân
nước
và
không
ngừng
ban
phát
các
bí
tích
cho
tín
hữu.
Nhờ
nhiệm
vụ
làm
cha
của
các
ngài
(x.
1Cor
4,15),
Chúa
tháp
nhập
vào
thân
thể
Người
những
chi
thể
mới
nhờ
sự
tái
sinh
siêu
nhiên.
Và
sau
cùng,
nhờ
sự
khôn
ngoan
thận
trọng
của
các
ngài,
Chúa
điều
khiển
và
hướng
dẫn
dân
tộc
của
Tân
Ước
trong
cuộc
lữ
hành
tiến
về
hạnh
phúc
muôn
đời.
"Các
mục
tử
này,
được
chọn
để
chăn
dắt
đoàn
chiên
Chúa,
là
thừa
tác
viên
của
Chúa
Kitô
và
ban
phát
các
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa
(x.
1Cor
4,1);
các
ngài
được
ủy
thác
việc
làm
chứng
Phúc
Âm
của
ân
sủng
Thiên
Chúa
(x.
Rm
15,16;
CvTđ
20,24)
và
việc
thi
hành
công
cuộc
của
Thánh
Thần
và
của
công
lý
trong
vinh
quang
(x.
2Cor
3,8-9).
Ðể
chu
toàn
nhiệm
vụ
cao
trọng
ấy,
các
Tông
Ðồ
được
Chúa
Kitô
đổ
tràn
Thánh
Thần
cách
đặc
biệt
(x.
CvTđ
1,8;
2,4;
Gio
20,22-23).
Và
các
ngài
thông
truyền
các
ơn
thiêng
ấy
cho
các
cộng
sự
viên
khi
đặt
tay
trên
họ
(x.
1Tm
4,14;
2Tm
1,6-7).
Và
qua
việc
tấn
phong
Giám
Mục,
ơn
thiêng
ấy
được
thông
truyền
cho
đến
chúng
tôi
18.
Thánh
Công
Ðồng
dạy
rằng,
khi
được
tấn
phong,
các
Giám
Mục
nhận
lãnh
sự
trọn
vẹn
của
bí
tích
Truyền
Chức
Thánh
mà
tập
tục
phụng
vụ
Giáo
Hội
và
các
Thánh
Giáo
Phụ
gọi
là
chức
linh
mục
tối
cao
và
nhận
lãnh
thực
tại
toàn
vẹn
của
thánh
vụ
19.
Việc
tấn
phong
Giám
Mục
trao
ban
nhiệm
vụ
thánh
hóa
cũng
như
nhiệm
vụ
giảng
dạy
và
cai
trị;
tuy
nhiên,
các
nhiệm
vụ
ấy,
do
bản
tính,
chỉ
có
thể
thực
thi
trong
sự
hiệp
thông
với
Thủ
Lãnh
và
các
phần
tử
của
Giám
Mục
Ðoàn.
Thực
vậy,
truyền
thống
được
diễn
tả
nhất
là
qua
các
nghi
thức
phụng
vụ
và
qua
thói
quen
của
Giáo
Hội
Ðông
Phương
cũng
như
Tây
Phương
cho
thấy
rõ
ràng
là
qua
sự
đặt
tay
và
qua
các
lời
tấn
phong,
ơn
Chúa
Thánh
Thần
được
thông
ban
20
và
ấn
dấu
thánh
được
in
21
trên
các
Giám
Mục,
nên
các
ngài
thi
hành
nhiệm
vụ
của
chính
Chúa
Kitô
là
Thầy,
Chủ
Chăn
và
Linh
Mục,
và
hoạt
động
nhân
danh
Người
22
một
cách
cao
quí
và
hữu
hình.
Các
Giám
Mục
có
phận
sự
nhận
vào
Giám
Mục
Ðoàn,
nhờ
bí
tích
Truyền
Chức
Thánh,
những
người
mới
được
tuyển
chọn.
28*
22.
Giám
Mục
Ðoàn
và
vị
Thủ
Lãnh.
29*
Thánh
Phêrô
và
các
Tông
Ðồ
khác
tạo
thành
một
cộng
đoàn
Tông
Ðồ
duy
nhất
theo
như
Chúa
đã
ấn
định;
tương
tự
như
thế,
Giáo
Hoàng
Roma,
Ðấng
kế
vị
Phêrô,
cùng
với
các
Giám
Mục
là
những
người
kế
vị
các
Tông
Ðồ
đều
liên
kết
với
nhau.
Ðặc
tính
và
bản
chất
cộng
đoàn
của
hàng
giám
mục
được
biểu
lộ
qua
luật
lệ
cổ
truyền:
theo
đó
Giám
Mục
trên
khắp
hoàn
cầu
thông
hiệp
với
nhau
và
với
Giám
Mục
Roma
bằng
mối
dây
hiệp
nhất,
bác
ái
và
bình
an
23
và
qua
sự
triệu
tập
các
Công
Ðồng
24
để
cùng
nhau
quyết
định
những
vấn
đề
quan
trọng
đặc
biệt
25
sau
khi
Nghị
Phụ
đã
cân
nhắc
kỹ
lưỡng
26.
Bản
chất
ấy
được
xác
nhận
bởi
việc
triệu
tập
các
Công
Ðồng
Chung
qua
bao
thời
đại.
Và
bản
chất
cộng
đoàn
ấy
cũng
được
một
tập
truyền
xa
xưa
công
nhận,
đó
là
việc
nhiều
Giám
Mục
được
mời
đến
tấn
phong
một
người
mới
được
chọn
lên
nhiệm
vụ
tối
cao
của
chức
linh
mục.
Người
lãnh
nhận
bí
tích
truyền
chức
và
hiệp
thông
giáo
phẩm
với
Thủ
Lãnh
cùng
các
phần
tử
trong
Cộng
Ðoàn
trở
thành
phần
tử
của
Giám
Mục
Ðoàn.
Nhưng
cộng
đoàn
giám
mục
hoặc
giám
mục
đoàn
chỉ
có
quyền
hành
khi
hiệp
với
Giáo
Hoàng
Roma,
đấng
kế
vị
thánh
Phêrô,
Thủ
Lãnh
của
cộng
đoàn
giám
mục;
nhưng
quyền
tối
thượng
trên
tất
cả
các
Chủ
Chăn
và
tín
hữu
của
Giáo
Hoàng
Roma
vẫn
luôn
luôn
được
bảo
toàn
trọn
vẹn.
Thực
vậy,
do
nhiệm
vụ
của
mình,
là
Ðại
Diện
Chúa
Kitô
và
Chủ
Chăn
của
toàn
thể
Giáo
Hội,
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
có
một
quyền
bính
trọn
vẹn,
tối
cao,
phổ
quát
trên
Giáo
Hội,
và
bao
giờ
Ngài
cũng
được
tự
do
thi
hành
quyền
bính
ấy,
Giám
Mục
Ðoàn
kế
vị
cộng
đoàn
Tông
Ðồ
trong
việc
giáo
huấn
và
chăn
dắt,
chính
trong
Giám
Mục
Ðoàn
mà
cộng
đoàn
Tông
Ðồ
được
trường
tồn.
Hiệp
nhất
với
Thủ
Lãnh,
tức
Giáo
Hoàng
Roma,
và
không
bao
giờ
tách
rời
khỏi
Thủ
Lãnh
ấy,
giám
mục
đoàn
cũng
có
quyền
bính
trọn
vẹn
và
tối
cao
trên
toàn
thể
Giáo
Hội
27,
nhưng
chỉ
có
thể
thi
hành
quyền
này
khi
có
sự
ưng
thuận
của
Giáo
Hoàng
Roma.
Chúa
đã
đặt
một
mình
Phêrô
làm
đá
nền,
trao
chìa
khóa
Giáo
Hội
cho
một
mình
Ngài
(x.
Mt
16,18-19),
cũng
đã
đặt
Ngài
là
Chủ
Chăn
của
toàn
thể
đàn
chiên
Chúa
(x.
Gio
21,15tt);
những
quyền
tháo
gỡ
cầm
buộc
của
Người
đã
ban
cho
Phêrô
(x.
Mt
16,19),
hẳn
cũng
đã
ban
cho
cả
cộng
đoàn
Tông
Ðồ
hiệp
nhất
với
Thủ
Lãnh
(x.
Mt
18,18;
28,16-20)
28.
Gồm
nhiều
phần
khác
nhau,
cộng
đoàn
giám
mục
diễn
tả
đặc
tính
đa
dạng
và
phổ
quát
của
Dân
Thiên
Chúa;
đồng
thời,
tụ
họp
dưới
quyền
thủ
lãnh
duy
nhất,
cộng
đoàn
giám
mục
diễn
tả
sự
hiệp
nhất
của
đàn
chiên
Chúa
Kitô.
Trong
cộng
đoàn
này,
các
Giám
Mục,
khi
trung
thành
tôn
trọng
quyền
tối
thượng
và
quyền
điều
khiển
của
vị
Thủ
Lãnh,
các
Ngài
thi
hành
quyền
bính
riêng
để
mưu
ích
cho
tín
hữu
mình
và
cho
toàn
thể
Giáo
Hội,
nhờ
có
Chúa
Thánh
Thần
không
ngừng
củng
cố
cơ
thể
và
sự
thuận
hòa
trong
cơ
thể
ấy.
Quyền
bính
tối
cao
của
giám
mục
đoàn
trên
toàn
thể
Giáo
Hội
được
thi
hành
cách
trọng
thể
trong
Công
Ðồng
Chung.
Nhưng
không
bao
giờ
có
Công
Ðồng
Chung
nếu
không
được
Ðấng
kế
vị
Thánh
Phêrô
phê
chuẩn
hay
ít
ra
chấp
nhận;
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma
có
đặc
quyền
triệu
tập,
chủ
tọa
và
phê
chuẩn
các
Công
Ðồng
này
29.
Hiệp
nhất
với
Giáo
Hoàng,
các
Giám
Mục
trên
khắp
thế
giới
còn
có
thể
thực
hành
quyền
cộng
đoàn
ấy,
khi
vị
Thủ
Lãnh
cộng
đoàn
mời
gọi
các
ngài
cùng
hành
động
cách
cộng
đoàn,
hay
ít
ra
khi
ngài
ưng
thuận
hoặc
tự
do
chấp
nhận
hành
động
hiệp
nhất
của
các
Giám
Mục
rải
rác
để
làm
cho
nó
trở
thành
một
hành
động
có
tính
cách
cộng
đoàn
thực
sự.
30*
23.
Mối
liên
lạc
giữa
các
Giám
Mục
trong
cộng
đoàn.
Sự
hiệp
nhất
của
Giám
Mục
Ðoàn
còn
được
biểu
lộ
qua
mối
tương
giao
giữa
mỗi
Giám
Mục
với
các
Giáo
Hội
địa
phương
và
Giáo
Hội
phổ
quát.
Ðức
Giáo
Hoàng
Roma,
Ðấng
kế
vị
Phêrô,
là
nguyên
lý
và
nền
tảng
hữu
hình,
vĩnh
cửu
30
của
sự
hiệp
nhất
giữa
các
Giám
Mục
cũng
như
giữa
các
tín
hữu.
Còn
mỗi
Giám
Mục
là
nguyên
lý
và
nền
tảng
hữu
hình
của
sự
hiệp
nhất
trong
Giáo
Hội
địa
phương
31.
Các
Giáo
Hội
này
được
thành
lập
theo
hình
ảnh
Giáo
Hội
phổ
quát:
chính
nhờ
và
trong
các
Giáo
Hội
ấy
mà
có
một
Giáo
Hội
công
giáo,
duy
nhất
32.
Vì
thế
mỗi
Giám
Mục
đại
diện
cho
Giáo
Hội
mình,
và
tất
cả
các
Giám
Mục
cùng
với
Giáo
Hoàng
đại
diện
cho
toàn
thể
Giáo
Hội
trong
mối
dây
bình
an,
yêu
thương
và
hiệp
nhất.
Mỗi
Giám
Mục
được
đặt
làm
Thủ
Lãnh
một
Giáo
Hội
địa
phương,
thực
hành
quyền
mục
vụ
trên
phần
Dân
Thiên
Chúa
được
trao
phó
cho
mình,
chứ
không
thực
hành
quyền
mục
vụ
trên
các
Giáo
Hội
địa
phương
khác,
hoặc
Giáo
Hội
phổ
quát.
Nhưng
với
tư
cách
là
phần
tử
giám
mục
đoàn,
và
là
người
kế
vị
hợp
pháp
các
Tông
Ðồ,
mỗi
Giám
Mục,
do
sự
thành
lập
và
giới
lệnh
của
Chúa
Kitô,
có
bổn
phận
33
ân
cần
săn
sóc
đến
toàn
thể
Giáo
Hội.
Sự
ân
cần
săn
sóc
đó,
cho
dầu
không
được
thể
hiện
bằng
một
hành
động
thuộc
quyền
tài
thẩm,
vẫn
mang
lại
rất
nhiều
lợi
ích
cho
Giáo
Hội
phổ
quát.
Thực
vậy,
tất
cả
các
Giám
Mục
có
nhiệm
vụ
phát
huy
và
bảo
vệ
sự
hiệp
nhất
đức
tin
và
kỷ
luật
chung
của
cả
Giáo
Hội,
dạy
cho
tín
hữu
biết
yêu
mến
toàn
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
nhất
là
các
chi
thể
nghèo
khó,
đau
khổ
và
đang
chịu
bách
hại
vì
sự
công
chính
(x.
Mt
5,10),
sau
cùng
các
ngài
còn
có
nhiệm
vụ
phát
huy
mọi
sinh
hoạt
chung
của
toàn
Giáo
Hội,
nhất
là
phát
triển
đức
tin
và
làm
cho
ánh
sáng
chân
lý
toàn
vẹn
chiếu
soi
trên
mọi
người.
Ðàng
khác,
khi
điều
khiển
khéo
léo
Giáo
Hội
địa
phương
là
một
phần
Giáo
Hội
phổ
quát,
dĩ
nhiên
các
Giám
Mục
đã
góp
phần
hữu
hiệu
vào
công
ích
của
toàn
Nhiệm
Thể
cũng
là
thân
thể
của
các
Giáo
Hội
34.
Lo
lắng
rao
truyền
Phúc
Âm
cho
khắp
thế
giới
là
một
bổn
phận
của
cộng
đoàn
các
Chủ
Chăn.
Chúa
Kitô
đã
ra
lệnh
chung
cho
tất
cả
các
ngài
và
giao
phó
cho
các
ngài
một
bổn
phận
chung,
như
Ðức
Giáo
Hoàng
Coelestinô
đã
nhắc
nhở
các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
Ephesô
35.
Vì
thế
các
Giám
Mục,
trong
phạm
vi
trách
nhiệm
riêng
của
các
ngài
cho
phép,
phải
cộng
tác
với
nhau
và
với
Ðức
Giáo
Hoàng
là
người
được
đặc
biệt
ủy
thác
nhiệm
vụ
cao
cả
truyền
bá
danh
hiệu
Kitô
hữu
36.
Do
đó,
các
Giám
Mục
phải
dốc
toàn
lực
đóng
góp
cho
các
xứ
truyền
giáo
nhiều
thợ
gặt,
nhiều
sự
trợ
giúp
thiêng
liêng
và
vật
chất,
vừa
bằng
cách
tự
mình
trực
tiếp
giúp
đỡ,
vừa
khuyến
khích
các
tín
hữu
nhiệt
thành
cộng
tác.
Sau
cùng,
trong
niềm
cảm
thông
phổ
quát
của
đức
ái,
theo
gương
lành
đáng
kính
của
các
thế
kỷ
đầu,
các
Giám
Mục
hãy
sẵn
lòng
lấy
tình
huynh
đệ
trợ
giúp
các
Giáo
Hội
khác,
nhất
là
những
Giáo
Hội
gần
nhất
và
túng
thiếu
nhất.
Các
Giáo
Hội
khác
nhau
mà
các
Tông
Ðồ
và
những
đấng
kế
vị
đã
thành
lập
tại
nhiều
nơi
khác
nhau
theo
dòng
thời
gian,
Chúa
Quan
Phòng
đã
muốn
tụ
hợp
lại
thành
nhiều
nhóm
được
liên
kết
ở
tổ
chức;
các
nhóm
này
có
kỷ
luật
riêng,
phụng
vụ
riêng,
thừa
hưởng
di
sản
thần
học
và
thiêng
liêng
riêng
mà
không
phương
hại
đến
sự
hiệp
nhất
đức
tin
cũng
như
bản
chất
duy
nhất
và
thần
linh
của
Giáo
Hội
phổ
quát.
Trong
các
Giáo
Hội
ấy,
một
vài
Giáo
Hội,
nhất
là
những
Giáo
Hội
cổ
xưa
do
các
Giáo
Chủ
lãnh
đạo,
như
các
bà
mẹ
đức
tin,
đã
sinh
nhiều
Giáo
Hội
khác
như
con
cái
mình,
và
vẫn
còn
liên
kết
với
nhau
cho
đến
ngày
nay
bằng
mối
dây
bác
ái
mật
thiết
và
bằng
đời
sống
bí
tích
trong
sự
tôn
trọng
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
lẫn
nhau
37.
Các
Giáo
Hội
địa
phương
tuy
khác
nhau
như
thế
nhưng
đều
hướng
về
sự
hiệp
nhất,
nên
càng
minh
chứng
đặc
tính
công
giáo
của
một
Giáo
Hội
không
phân
chia.
Cũng
thế,
ngày
nay
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
có
thể
góp
phần
phong
phú
bằng
nhiều
thể
cách
để
cụ
thể
hóa
tinh
thần
cộng
đoàn.
31*
24.
Thừa
tác
vụ
Giám
Mục.
32*
Chúa
Giêsu,
Ðấng
được
ban
mọi
quyền
năng
trên
trời
dưới
đất,
đã
trao
cho
các
Giám
Mục,
vì
là
những
người
kế
vị
các
Tông
Ðồ,
sứ
mệnh
dạy
dỗ
muôn
dân
và
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật,
hầu
mọi
người
được
rỗi
nhờ
lãnh
nhận
đức
tin,
phép
Thánh
Tẩy,
và
việc
chu
toàn
giới
răn
Chúa
(x.
Mt
28,18-20;
Mc
16,15-16;
CvTđ
26,17t).
Ðể
hoàn
thành
sứ
mệnh
đó,
Chúa
Kitô
đã
hứa
ban
Thánh
Thần
từ
trời
xuống,
để
nhờ
sức
mạnh
của
Thánh
Thần,
các
ngài
làm
chứng
cho
Chúa
Kitô
đến
tận
cùng
trái
đất,
trước
mọi
dân
nước
và
vua
chúa
(CvTđ
1,8;
2,1tt.;
9,15).
Nhiệm
vụ
Chúa
đã
trao
phó
cho
các
chủ
chăn
của
dân
Người
thực
là
một
việc
phục
vụ,
mà
Thánh
Kinh
gọi
rõ
ràng
là
"diakonia"
nghĩa
là
thừa
tác
vụ
(x.
CvTđ
1,17
và
25;
21,19;
Rm
11,13;
1Tm
1,12).
Chức
vụ
bổ
nhiệm
theo
giáo
luật
được
trao
cho
các
Giám
Mục
hoặc
theo
tập
tục
hợp
pháp
chưa
bị
quyền
tối
thượng
và
phổ
quát
của
Giáo
Hội
đoạn
tiêu,
hoặc
theo
các
luật
lệ
được
Giáo
Hội
ban
hành
hay
thừa
nhận,
hoặc
trực
tiếp
do
chính
đấng
kế
vị
Phêrô;
nếu
Ðức
Giáo
Hoàng
phản
đối
hoặc
từ
chối
không
cho
hiệp
thông
với
Tòa
Thánh,
thì
các
Giám
Mục
không
thể
được
lãnh
nhận
chức
vụ
38.
33*
25.
Nhiệm
vụ
giáo
huấn.
Việc
rao
giảng
Phúc
Âm
39
là
một
nhiệm
vụ
trổi
vượt
trong
các
nhiệm
vụ
chính
yếu
của
Giám
Mục,
Giám
Mục
là
những
người
rao
truyền
đức
tin,
đem
nhiều
môn
đệ
mới
về
với
Chúa
Kitô,
Giám
Mục
là
những
tiến
sĩ
đích
thực,
nghĩa
là
có
uy
quyền
của
Chúa
Kitô,
giảng
dạy
cho
những
kẻ
được
trao
phó
cho
các
Ngài,
một
đức
tin
phải
được
xác
tín
và
phải
được
áp
dụng
vào
các
phong
tục,
và
làm
sáng
tỏ
đức
tin
đó
bởi
ánh
sáng
của
Chúa
Thánh
Thần.
Các
Ngài
rút
ra
những
cái
mới
cái
cũ
trong
kho
tàng
Mạc
Khải
(x.
Mt
13,52)
để
làm
cho
đức
tin
trổ
sinh
hoa
trái,
và
luôn
tỉnh
thức
loại
bỏ
mọi
lầm
lạc
đang
đe
dọa
đàn
chiên
mình
(x.
2Tm
4,1-4).
Mọi
người
phải
kính
trọng
các
Giám
Mục
như
những
chứng
nhân
của
chân
lý
thần
linh
và
công
giáo
khi
các
ngài
thông
hiệp
với
Giáo
Hoàng
Roma
mà
dạy
dỗ,
các
tín
hữu
phải
chấp
nhận
phán
quyết
của
Giám
Mục
mình,
khi
nhân
danh
Chúa
Kitô,
công
bố
những
gì
về
đức
tin
và
phong
hóa,
cũng
như
phải
tuân
theo
ngài
với
một
lòng
kính
cẩn
tuân
phục.
Mọi
người
phải
lấy
ý
chí
và
lý
trí
mà
kính
cẩn
tuân
phục
một
cách
đặc
biệt
những
giáo
huấn
chính
thức
của
Giáo
Hoàng
Roma,
dù
khi
ngài
không
tuyên
bố
từ
thượng
tòa.
Như
vậy
là
kính
trọng,
nhận
biết
giáo
huấn
tối
thượng
và
chân
thành
chấp
nhận
các
phán
quyết
của
ngài
theo
đúng
tư
tưởng
và
ý
muốn
ngài
trình
bày,
đặc
biệt
biểu
lộ
qua
tính
chất
các
tài
liệu,
hoặc
qua
việc
ngài
lập
lại
nhiều
lần
đề
nghị
một
giáo
thuyết,
hay
qua
cách
diễn
tả
của
ngài.
Tuy
mỗi
Giám
Mục
riêng
rẽ
không
có
đặc
quyền
bất
khả
ngộ,
nhưng
dù
tản
mác
khắp
thế
giới,
nếu
thông
hiệp
với
nhau
và
với
đấng
kế
vị
Thánh
Phêrô,
các
ngài
cùng
đồng
ý
dạy
cách
chính
thức
những
điều
thuộc
đức
tin
và
phong
hóa
là
tuyệt
đối
buộc
phải
giữ,
thì
lúc
đó
các
ngài
công
bố
cách
bất
khả
ngộ
giáo
thuyết
của
Chúa
Kitô
40.
Ðiều
đó
còn
rõ
ràng
hơn,
khi
hợp
nhau
trong
Công
Ðồng
Chung,
các
ngài
là
những
tiến
sĩ
và
thẩm
phán
về
đức
tin
và
phong
hóa
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Phải
tuân
theo
các
định
tín
của
các
ngài
41
với
một
lòng
vâng
phục
và
với
tinh
thần
đức
tin.
Chúa
Cứu
Thế
đã
muốn
Giáo
Hội
Người
bất
khả
ngộ
khi
xác
định
giáo
thuyết
về
đức
tin
và
phong
hóa;
ơn
bất
khả
ngộ
đó
có
phạm
vi
rộng
rãi
tùy
theo
kho
tàng
Mạc
Khải
mà
Giáo
Hội
phải
bảo
toàn
cách
cẩn
trọng
và
phải
trình
bày
cách
trung
thực.
Giám
Mục
Roma,
vị
thủ
lãnh
của
Giám
Mục
Ðoàn
hưởng
ơn
bất
khả
ngộ
đó
do
nhiệm
vụ
của
Ngài
khi
với
tư
cách
là
mục
tử
và
tiến
sĩ
tối
cao
của
mọi
Kitô
hữu,
ngài
củng
cố
anh
em
mình
vững
mạnh
trong
đức
tin
(x.
Lc
22,32),
công
bố
giáo
thuyết
về
đức
tin
và
phong
hóa
bằng
một
phán
quyết
chung
thẩm
42.
Vì
thế,
các
phán
quyết
của
ngài
tự
nó,
chứ
không
do
sự
đồng
ý
của
Giáo
Hội,
phải
được
coi
là
không
thể
sửa
đổi,
vì
đó
là
những
phán
quyết
được
công
bố
dưới
sự
bảo
trợ
của
Chúa
Thánh
Thần,
mà
Chúa
đã
hứa
ban
cho
ngài
qua
Thánh
Phêrô
nên
không
cần
ai
khác
chấp
thuận
và
không
nại
tới
phán
đoán
nào
khác.
Khi
đó
Giáo
Hoàng
Roma
không
phán
quyết
với
tư
cách
cá
nhân,
nhưng
trình
bày
và
bảo
vệ
giáo
thuyết
đức
tin
công
giáo
với
tư
cách
là
thầy
dạy
tối
cao
của
toàn
thể
Giáo
Hội;
nơi
ngài
đặc
biệt
có
ơn
bất
khả
ngộ
của
chính
Giáo
Hội
43.
Ơn
bất
khả
ngộ
của
chính
Giáo
Hội
cũng
hiện
hữu
nơi
Giám
Mục
Ðoàn
khi
các
ngài
xử
dụng
quyền
giáo
huấn
tối
thượng
cùng
với
đấng
kế
vị
Thánh
Phêrô.
Do
tác
động
của
cùng
một
Chúa
Thánh
Thần,
Giáo
Hội
không
thể
không
chấp
nhận
những
phán
quyết
đó,
và
Chúa
Thánh
Thần
bảo
vệ
và
phát
triển
toàn
thể
đàn
chiên
Chúa
Kitô
trong
sự
hợp
nhất
đức
tin
44.
Khi
Giáo
Hoàng
Roma,
hoặc
Giám
Mục
Ðoàn
cùng
với
ngài,
phán
quyết
một
điều
gì,
thì
các
ngài
tuyên
bố
điều
ấy
theo
chính
Mạc
Khải
mà
các
vị
ấy
phải
trung
thành
tuân
giữ.
Mạc
Khải
trong
Kinh
Thánh
hay
trong
Thánh
Truyền
đều
được
truyền
lại
trọn
vẹn
nhờ
sự
kế
vị
hợp
pháp
các
Giám
Mục
và
nhất
là
nhờ
sự
quan
tâm
của
chính
Giáo
Hoàng
Roma.
Nhờ
Thánh
Thần
Chân
Lý,
Mạc
Khải
ấy
được
gìn
giữ
cách
cẩn
trọng
và
trình
bày
cách
trung
thực
45.
"Ðể
có
thể
khảo
sát
đứng
đắn
và
trình
bày
cách
thích
hợp
Mạc
Khải
này,
Ðức
Giáo
Hoàng
và
các
Giám
Mục
làm
việc
cẩn
thận
bằng
phương
tiện
thích
hợp,
tùy
theo
nhiệm
vụ
và
tầm
quan
trọng
của
sự
việc"
46;
nhưng
các
ngài
không
nhận
được
một
Mạc
Khải
công
khai
mới
nào
thêm
vào
kho
tàng
thần
khải
của
đức
tin
47.
34*
26.
Nhiệm
vụ
thánh
hóa.
Giám
Mục,
bởi
nhận
lãnh
bí
tích
Truyền
Chức
Thánh
cách
viên
mãn,
là
"người
quản
lý
ơn
sủng
của
chức
linh
mục
tối
cao"
48,
nhất
là
trong
hy
lễ
tạ
ơn
do
chính
ngài
dâng
hoặc
lo
liệu
cho
có
lễ
dâng
49,
nhờ
đó
Giáo
Hội
luôn
sống
động
và
tăng
triển.
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
thực
sự
hiện
diện
trong
mọi
đoàn
thể
tín
hữu
địa
phương
hợp
pháp.
Những
đoàn
thể
này,
vì
hợp
nhất
với
các
chủ
chăn,
nên
trong
Tân
Ước
cũng
được
gọi
là
Giáo
Hội
50.
Thực
vậy,
trong
phần
đất
mình,
mỗi
đoàn
thể
là
Dân
Tộc
Mới
được
Thiên
Chúa
kêu
gọi
trong
Thánh
Thần
và
trong
sự
viên
mãn
đầy
tràn
(x.
1Th
1,5).
Nơi
các
đoàn
thể
đó,
tín
hữu
được
tụ
hợp
lại
nhờ
sự
rao
giảng
Phúc
Âm
Chúa
Kitô,
và
mầu
nhiệm
Tiệc
Ly
của
Chúa
được
cử
hành
"để
nhờ
Thịt
và
Máu
Chúa,
tất
cả
kết
thành
huynh
đệ
và
thành
một
thân
thể"
51.
Mỗi
lần
Giám
Mục
cử
hành
nhiệm
vụ
52
với
cộng
đoàn
tụ
hợp
quanh
bàn
thờ,
đó
là
biểu
hiệu
đức
ái
và
"sự
hiệp
nhất
của
nhiệm
thể,
và
nếu
thiếu
sự
hiệp
nhất
đó,
không
thể
có
ơn
cứu
rỗi"
53.
Chúa
Kitô
vẫn
hiện
diện
trong
các
cộng
đoàn
ấy,
dù
nhỏ
bé
nghèo
hèn
hay
tản
mác
khắp
nơi.
Và
nhờ
thần
lực
Người,
Giáo
Hội
hiệp
thành
duy
nhất,
thánh
thiện,
công
giáo
và
tông
truyền
54.
Bởi
vì
"việc
tham
dự
vào
Mình
và
Máu
Chúa
Kitô
không
có
công
hiệu
nào
khác
hơn
là
biến
đổi
chúng
ta
thành
Ðấng
mà
chúng
ta
lãnh
nhận"
55.
Mọi
việc
cử
hành
hợp
pháp
hy
lễ
tạ
ơn
đều
do
Giám
Mục
điều
khiển;
ngài
là
người
lãnh
nhận
nhiệm
vụ
dâng
lên
nhan
uy
linh
Chúa
sự
thờ
phượng
của
Kitô
giáo
và
có
phận
sự
điều
hành
việc
thờ
phượng
đó
theo
đúng
giới
răn
Chúa
và
lề
luật
Giáo
Hội.
Ngài
dùng
phán
quyết
riêng
để
xác
định
những
lề
luật
đó
cho
giáo
phận
mình.
Như
thế,
khi
cầu
nguyện
và
làm
việc
cho
dân
chúng,
các
Giám
Mục
đổ
đầy
tràn
trên
họ,
dưới
nhiều
hình
thức,
những
ơn
lành
do
sự
thánh
thiện
sung
mãn
của
Chúa
Kitô.
Bằng
thừa
tác
vụ
lời
Chúa,
các
ngài
thông
truyền
cho
tín
hữu
sức
mạnh
của
Thiên
Chúa
hầu
cứu
rỗi
họ
(x.
Rm
1,16).
Các
ngài
thánh
hóa
giáo
hữu
bằng
các
bí
tích
mà
với
quyền
giám
mục,
các
ngài
lo
ban
phát
cách
đều
đặn
và
phong
phú
56.
Các
ngài
xác
định
việc
cử
hành
bí
tích
Thánh
Tẩy
là
bí
tích
ban
quyền
tham
dự
vào
chức
linh
mục
vương
giả
của
Chúa
Kitô.
Chính
các
ngài
là
thừa
tác
viên
căn
nguyên
của
bí
tích
Thêm
Sức,
là
người
truyền
các
chức
thánh,
ra
qui
luật
về
phép
Giải
Tội
và
tận
tình
khuyên
bảo,
giáo
huấn
giáo
dân
để
họ
kính
cẩn
và
tin
tưởng
chu
toàn
phận
sự
họ
trong
phụng
vụ
và
nhất
là
trong
Thánh
Lễ
hy
tế.
Sau
cùng,
các
ngài
phải
làm
gương
cho
những
kẻ
thuộc
quyền
bằng
lời
ăn
tiếng
nói
của
mình.
Trong
cách
sống,
các
ngài
phải
xa
tránh
mọi
điều
ác,
và
với
ơn
Chúa
giúp,
cố
gắng
hoàn
thiện
theo
hết
khả
năng,
để
cùng
với
đoàn
chiên
Chúa
trao
phó,
đạt
tới
đời
sống
vĩnh
cửu
57.
35*
27.
Nhiệm
vụ
cai
quản.
Là
đại
diện
và
sứ
giả
Chúa
Kitô,
các
Giám
Mục
điều
khiển
Giáo
Hội
địa
phương
mà
Chúa
đã
ủy
thách
cho
58,
nhờ
lời
khuyên
bảo,
khuyến
khích,
gương
lành,
và
còn
bằng
uy
thế
cùng
quyền
bính
thánh
thiện
nữa.
Thực
vậy,
các
ngài
chỉ
dùng
quyền
bính
để
xây
dựng
đoàn
chiên
trong
chân
lý
và
thánh
thiện,
và
luôn
tâm
niệm
rằng:
kẻ
cao
trọng
hãy
nên
như
kẻ
rốt
hết,
người
làm
chủ
hãy
nên
như
tôi
tớ
(x.
Lc
22,26-27).
Quyền
bính
các
ngài
đích
thân
thi
hành
nhân
danh
Chúa
Kitô,
là
quyền
bính
riêng
biệt,
thông
thường
và
trực
tiếp;
nhưng
việc
thi
hành
cuối
cùng
còn
lệ
thuộc
vào
quyền
tối
cao
của
Giáo
Hội,
và
có
thể
bị
giới
hạn
phần
nào
vì
lợi
ích
của
Giáo
Hội
hay
của
các
tín
hữu.
Với
quyền
bính
ấy,
các
Giám
Mục
có
quyền
thiêng
liêng
và
trước
mặt
Chúa
có
nhiệm
vụ
đặt
ra
các
luật
lệ
cho
những
người
thuộc
quyền,
xét
xử
và
qui
định
tất
cả
những
gì
liên
hệ
tới
việc
thờ
phượng
và
việc
tông
đồ.
Chính
các
Giám
Mục
được
trao
phó
trọn
vẹn
trách
nhiệm
mục
vụ,
tức
là
thường
xuyên
và
hàng
ngày
săn
sóc
con
chiên
mình.
Không
được
coi
các
ngài
như
những
đại
diện
của
Giáo
Hoàng
Roma,
vì
các
ngài
thi
hành
quyền
bính
riêng
của
mình
và
thực
sự
là
thủ
lãnh
của
các
dân
mà
các
ngài
cai
quản
59.
Vì
thế,
quyền
bính
Giám
Mục
không
bị
quyền
tối
cao
và
phổ
quát
làm
giảm
bớt,
nhưng
trái
lại
còn
được
nâng
đỡ,
củng
cố
và
bảo
đảm
60,
vì
Chúa
Thánh
Thần
hằng
duy
trì
thể
thức
cai
quản
do
Chúa
Kitô
thiết
lập
trong
Giáo
Hội.
Ðược
Chủ
sai
đi
cai
quản
gia
đình
mình,
Giám
Mục
phải
chiêm
ngắm
gương
mẫu
Chúa
Chiên
Lành,
Người
đến
để
phục
vụ
chứ
không
phải
để
được
phục
vụ
(x.
Mt
20,28;
Mc
10,45)
và
hiến
mạng
sống
mình
vì
con
chiên
(x.
Gio
10,11).
Ðược
chọn
giữa
loài
người
và
đầy
yếu
hèn,
ngài
có
thể
cảm
thông
nỗi
đau
khổ
với
những
ai
dốt
nát
và
lầm
lạc
(x.
Dth
5,1-2).
Giám
Mục
không
nên
từ
chối
lắng
nghe
những
kẻ
thuộc
quyền,
nhưng
hãy
ân
cần
săn
sóc
họ
như
những
người
con
đích
thực,
và
khuyên
nhủ
họ
hăng
hái
cộng
tác
với
mình.
Vì
phải
trả
lẽ
với
Chúa
về
linh
hồn
con
cái
mình
(x.
Dth
13,17),
Giám
Mục
hãy
cầu
nguyện,
rao
giảng
và
làm
mọi
việc
bác
ái
săn
sóc
họ
và
cả
những
người
chưa
thuộc
đoàn
chiên
duy
nhất
mà
ngài
cũng
phải
coi
như
được
trao
phó
cho
mình
trong
Chúa.
Như
Tông
Ðồ
Phaolô,
Giám
Mục
mắc
nợ
tất
cả
mọi
người,
cho
nên
hãy
hăng
hái
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
người,
(x.
Rm
1,14-15)
và
khuyến
khích
các
tín
hữu
làm
việc
tông
đồ
và
truyền
giáo.
Còn
tín
hữu
phải
liên
kết
với
Giám
Mục
như
Giáo
Hội
gắn
bó
với
Chúa
Giêsu
Kitô,
và
như
Chúa
Giêsu
Kitô
gắn
bó
với
Chúa
Cha,
hầu
nhờ
sự
hiệp
nhất
ấy
tất
cả
mọi
sự
đều
hòa
hợp
61
và
trở
nên
phong
phú
cho
vinh
quang
Thiên
Chúa
(x.
2Cor
4,15).
36*
28.
Các
linh
mục
trong
mối
tương
quan
với
Chúa
Kitô,
với
các
Giám
Mục,
với
anh
em
Linh
Mục
và
với
dân
Chúa.
37*
Ðược
Chúa
Cha
thánh
hóa
và
phái
đến
thế
gian
(x.
Gio
10,36),
Chúa
Kitô
nhờ
các
Tông
Ðồ,
đã
làm
cho
các
Giám
Mục,
những
vị
kế
nghiệp
các
Tông
Ðồ,
có
thể
tham
dự
vào
việc
cung
hiến
và
vào
sứ
mạng
của
mình
62.
Các
Giám
Mục
lại
giao
nhiệm
vụ
thừa
tác
của
mình
một
cách
hợp
pháp
cho
nhiều
phần
tử
trong
Giáo
Hội
theo
từng
cấp
bậc.
Như
thế,
thừa
tác
vụ
do
Thiên
Chúa
thiết
lập
trong
Giáo
Hội
được
thi
hành
bởi
những
người
có
chức
vụ
khác
nhau
mà
từ
xưa
được
gọi
là
Giám
Mục,
Linh
Mục
và
Phó
Tế
63.
Linh
Mục,
dù
không
có
quyền
tư
tế
tối
cao
và
tùy
thuộc
Giám
Mục
khi
thi
hành
quyền
bính,
cũng
hiệp
nhất
với
Giám
Mục
trong
tước
vị
Linh
Mục
64.
Nhờ
bí
tích
Truyền
Chức
Thánh
65,
linh
mục
được
cung
hiến
theo
hình
ảnh
Chúa
Kitô,
thầy
cả
Thượng
Phẩm
vĩnh
viễn
(x.
Dth
5,1-10;
7,24;
9,11-28),
để
rao
giảng
Phúc
Âm,
chăn
dắt
tín
hữu
và
cử
hành
việc
thờ
phượng
Thiên
Chúa
với
tư
cách
tư
tế
đích
thực
của
Tân
Ước
66.
Theo
cấp
bậc
thừa
tác
của
mình
tham
dự
vào
nhiệm
vụ
Chúa
Kitô,
Ðấng
trung
gian
duy
nhất
(x.
1Tm
2,5),
các
linh
mục
loan
báo
lời
Thiên
Chúa
cho
mọi
người.
Nhưng
các
ngài
thực
thi
thánh
vụ
mình
cách
tuyệt
hảo
nhất
là
trong
Thánh
Lễ
hoặc
cộng
đồng
tạ
ơn,
trong
đó,
các
ngài
thay
thế
Chúa
Kitô
67
công
bố
mầu
nhiệm
của
Chúa,
kết
hợp
với
ước
nguyện
của
tín
hữu
vào
hy
lễ
của
thủ
lãnh
và
trong
hy
tế
Thánh
Lễ,
hiện
tại
hóa
và
áp
dụng
hy
lễ
duy
nhất
của
Tân
Ước
68,
là
của
lễ
tinh
tuyền
đã
một
lần
tự
dâng
hiến
lên
Chúa
Cha
(x.
Dth
9,11-28),
cho
tới
ngày
Chúa
trở
lại
(x.
1Cor
11,26).
Linh
mục
chu
toàn
cách
tuyệt
hảo
chức
vụ
giao
hòa
và
an
ủi
đối
với
các
tín
hữu
thống
hối
và
bệnh
tật.
Linh
mục
dâng
lên
Chúa
Cha
các
nhu
cầu
và
lời
khẩn
nguyện
của
các
tín
hữu
(x.
Dth
5,1-3).
Trong
quyền
hạn
mình,
linh
mục
thi
hành
nhiệm
vụ
Chúa
Kitô
mục
tử
và
thủ
lãnh
69,
tụ
họp
gia
đình
Thiên
Chúa
là
cộng
đoàn
huynh
đệ
có
cùng
một
tâm
hồn
70,
và
nhờ
Chúa
Kitô,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
dẫn
đưa
cộng
đoàn
ấy
về
với
Thiên
Chúa
Cha.
Linh
mục
thờ
lạy
Thiên
Chúa
trong
tinh
thần
và
trong
chân
lý
giữa
đoàn
chiên
(x.
Gio
4,24).
Sau
hết,
vất
vả
truyền
giáo
và
dạy
dỗ
(x.
1Tm
5,17),
linh
mục
tin
những
gì
ngài
đã
đọc
thấy
và
suy
niệm
trong
lề
luật
Chúa,
dạy
dỗ
những
gì
mình
tin
và
thực
hành
những
điều
mình
dạy
71.
Là
cộng
sự
viên
khôn
ngoan,
là
phụ
tá
và
là
dụng
cụ
của
hàng
Giám
Mục
72,
linh
mục
được
kêu
gọi
để
phục
vụ
Dân
Thiên
Chúa.
Các
ngài
hợp
với
Giám
Mục
mình
tạo
thành
linh
mục
đoàn
duy
nhất
với
nhiều
chức
vụ
khác
nhau
73.
Trong
mỗi
cộng
đoàn
tín
hữu
địa
phương,
linh
mục,
là
hiện
thân
của
Giám
Mục
mà
các
ngài
hằng
liên
kết
với
lòng
tin
tưởng
và
quảng
đại,
lãnh
nhận
phần
chức
vụ
cùng
chia
xẻ
nỗi
lo
lắng
của
Giám
Mục
và
hằng
ngày
ân
cần
thi
hành
chức
vụ
ấy.
Dưới
quyền
Giám
Mục,
linh
mục
thánh
hóa
và
dẫn
dắt
một
phần
đoàn
chiên
Chúa
trao
phó
cho
mình,
làm
cho
người
ta
thấy
được
Giáo
Hội
phổ
quát
ngay
tại
địa
phương
mình,
góp
phần
hữu
hiệu
vào
việc
xây
dựng
toàn
thân
thể
Chúa
Kitô
(x.
Eph
4,12).
Luôn
mưu
cầu
ích
lợi
cho
con
cái
Thiên
Chúa,
linh
mục
phải
hăng
hái
tham
gia
công
cuộc
mục
vụ
của
cả
giáo
phận,
hơn
nữa
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Vì
tham
dự
vào
chức
linh
mục
và
vào
sứ
mệnh
của
Giám
Mục,
linh
mục
phải
thực
sự
xem
ngài
như
cha
mình
và
phải
kính
cẩn
vâng
phục
ngài.
Phần
Giám
Mục
cũng
phải
coi
sóc
các
linh
mục
cộng
tác
với
mình
như
con
cái
và
bạn
hữu,
như
Chúa
Kitô
không
gọi
môn
đệ
là
tôi
tớ,
nhưng
là
bạn
hữu
(x.
Gio
15,15).
Do
đó,
tất
cả
các
linh
mục
triều
cũng
như
dòng,
bởi
chức
thánh
và
thừa
tác
vụ,
được
nối
kết
vào
Giám
Mục
Ðoàn
và
phục
vụ
cho
lợi
ích
của
toàn
thể
Giáo
Hội
tùy
theo
ơn
gọi
và
ân
sủng
riêng.
Một
tình
huynh
đệ
thắm
thiết
nối
kết
tất
cả
các
linh
mục
với
nhau
vì
cùng
tham
dự
một
chức
thánh
và
một
sứ
mệnh
chung.
Tình
huynh
đệ
đó
phải
bộc
lộ
một
cách
tự
phát
tự
nguyện
qua
sự
tương
trợ
cả
tinh
thần
lẫn
vật
chất,
trong
phạm
vi
mục
vụ
cũng
như
trong
phạm
vi
cá
nhân,
trong
các
buổi
hội
họp,
cũng
như
trong
sự
hiệp
thông
với
nhau
qua
đời
sống,
việc
làm
và
tình
bác
ái.
Linh
mục
phải
săn
sóc
các
tín
hữu
như
những
người
cha
trong
Chúa
Kitô,
vì
đã
sinh
ra
họ
cách
thiêng
liêng
nhờ
phép
Thánh
Tẩy
và
giáo
huấn
(x.
1Cor
4,15
và
1P
1,23).
Nêu
gương
cho
đoàn
chiên
(1P
5,3),
linh
mục
phải
làm
sao
hướng
dẫn
và
phục
vụ
cộng
đoàn
địa
phương
của
mình,
để
họ
xứng
đáng
mang
danh
hiệu
Giáo
Hội
Thiên
Chúa
(x.
1Cor
1,2;
2Cor
1,1)
là
danh
hiệu
riêng
biệt
của
toàn
thể
Dân
Thiên
Chúa
là
Dân
duy
nhất.
Linh
mục
hãy
nhớ
rằng
mình
phải
tỏ
ra
cho
tín
hữu
và
lương
dân,
cho
người
công
giáo
và
ngoài
công
giáo
thấy
gương
mặt
của
một
thừa
tác
vụ
thực
sự
tư
tế
và
mục
vụ,
phải
minh
chứng
cho
mọi
người
thấy
chân
lý
và
sự
sống.
Như
mục
tử
tốt
lành,
linh
mục
còn
phải
đi
tìm
(x.
Lc
15,4-7)
những
người
đã
lãnh
nhận
phép
Thánh
Tẩy
trong
Giáo
Hội
công
giáo
nhưng
đã
xao
lãng
không
lãnh
nhận
các
bí
tích
hay
nhất
là
đã
mất
đức
tin.
Ngày
nay,
vì
nhân
loại
ngày
càng
hiệp
nhất
về
dân
sự,
kinh
tế
và
xã
hội,
nên
các
linh
mục
càng
phải
loại
trừ
mọi
mầm
mống
chia
rẽ,
phải
nối
kết
cố
gắng
và
khả
năng
mình
dưới
sự
hướng
dẫn
của
các
Giám
Mục
và
Giáo
Hoàng,
để
toàn
thể
nhân
loại
hiệp
nhất
trong
gia
đình
Thiên
Chúa.
38*
29.
Các
phó
tế.
Ở
bậc
thấp
hơn
của
hàng
giáo
phẩm,
có
các
phó
tế,
những
người
đã
được
đặt
tay
"không
phải
để
lãnh
nhận
chức
vụ
linh
mục,
nhưng
là
để
phục
vụ"
74.
Thực
vậy,
được
ân
sủng
bí
tích
bồi
bổ,
các
phó
tế,
hiệp
thông
với
Giám
Mục
và
Linh
Mục
Ðoàn,
phục
vụ
Dân
Thiên
Chúa
bằng
việc
phụng
vụ,
giảng
dạy,
và
bác
ái.
Khi
được
những
vị
có
thẩm
quyền
chỉ
định,
các
phó
tế
được
cử
hành
trọng
thể
phép
Thánh
Tẩy,
giữ
và
trao
Mình
Thánh
Chúa,
nhân
danh
Giáo
Hội
chứng
kiến
và
chúc
lành
hôn
phối,
mang
của
ăn
đàng
cho
kẻ
hấp
hối,
đọc
Thánh
Kinh
cho
tín
hữu,
giáo
huấn
và
khuyên
nhủ
dân
chúng,
chủ
tọa
việc
phụng
tự
và
kinh
nguyện
của
tín
hữu,
cử
hành
các
á
bí
tích,
chủ
tọa
lễ
nghi
tang
chế
và
an
táng.
Ðược
phong
chức
để
lo
việc
bác
ái
và
việc
quản
trị,
phó
tế
phải
nhớ
lời
nhắn
nhủ
của
Thánh
Polycarpô:
"Hãy
tỏ
lòng
nhân
hậu,
nhiệt
thành,
và
hãy
bước
theo
chân
lý
của
Chúa,
Ðấng
đã
làm
tôi
tớ
mọi
người"
75.
Thực
ra,
trong
nhiều
nơi,
vì
kỷ
luật
hiện
hành
của
Giáo
Hội
La
tinh
có
thể
làm
trở
ngại
việc
chu
toàn
những
nhiệm
vụ
đó,
những
nhiệm
vụ
rất
cần
thiết
cho
đời
sống
Giáo
Hội,
nên
trong
tương
lai,
chức
phó
tế
có
thể
được
tái
lập
như
một
bậc
riêng
và
vĩnh
viễn
thuộc
phẩm
trật.
Các
nhóm
Giám
Mục
địa
phương,
dưới
những
hình
thức
khác
nhau,
với
sự
chấp
thuận
của
chính
Ðức
Giáo
Hoàng,
có
đủ
thẩm
quyền
để
xét
xem
có
nên
bổ
nhiệm
các
phó
tế
ấy
và
bổ
nhiệm
ở
đâu,
để
họ
coi
sóc
các
linh
hồn.
Với
sự
đồng
ý
của
Ðức
Giáo
Hoàng,
các
Ngài
có
thể
phong
chức
phó
tế
cho
những
người
đàn
ông
đứng
tuổi,
dù
đã
kết
hôn,
cũng
như
cho
các
thanh
niên
có
khả
năng,
nhưng
các
thanh
niên
này
phải
giữ
vững
luật
độc
thân.
39*
Chú
Thích:
23*
Chương
này
rất
quan
trọng.
Muốn
hiểu
rõ
cần
phải
lưu
ý
mấy
điểm:
a)
Chương
này
lặp
lại
và
hiệu
chính
cho
hiến
chế
"Pastor
Aeternus"
của
Công
Ðồng
Vaticanô
I.
b)
Bởi
vậy,
hầu
hết
là
nói
về
chức
Giám
Mục,
và
cũng
chỉ
mới
đề
cập
được
một
phần
như
Công
Ðồng
Vaticanô
I,
vì
Công
Ðồng
này
hầu
như
chỉ
bàn
về
quyền
tối
thượng
của
Giáo
Hoàng.
Ðể
có
một
cái
nhìn
toàn
diện,
có
lẽ
nên
đề
cập
tới
cả
hai
Công
Ðồng.
Còn
khá
nhiều
vấn
đề
thần
học
chưa
được
giải
quyết.
Hy
vọng
một
Công
Ðồng
mai
hậu
sẽ
có
thể
đạt
được
một
sự
tổng
hợp
mà
chúng
ta
không
có.
Văn
thể
và
bút
pháp
chương
này
khác
xa
với
hai
chương
trước.
Văn
thể
của
hai
chương
trước
bàng
bạc
Thánh
Kinh,
còn
văn
thể
ở
đây
cứng
chắc
hơn,
ít
biểu
tượng
hơn
và
rõ
rệt
hơn
theo
quan
điểm
pháp
lý.
Vả
lại,
bản
văn
đã
được
bàn
cãi
nhiều
khiến
có
thể
nhận
ra
ngày
nó
đã
được
làm
đi
làm
lại,
đầy
những
chú
thích
và
sửa
chữa.
Bởi
vậy
đôi
khi
bản
văn
trở
thành
nặng
nề
và
rắc
rối
(khiến
văn
phòng
Tổng
Thư
Ký
của
Công
Ðồng
đã
phải
thêm
phần
phụ
trương
sau
cùng,
tức
phần
"Chú
thích
sơ
khởi").
Dầu
vậy
kết
cấu
nội
tại
cũng
sáng
sủa
và
bao
gồm:
-
Một
phần
nhập
đề:
cho
biết
nội
dung
của
chương
và
xác
định
rõ
rệt
mục
đích
mà
Công
Ðồng
muốn
đề
ra.
-
Bốn
tiểu
mục
về:
(1)
Nguồn
gốc
chức
Giám
Mục
(các
số
19-21).
(2)
Giám
Mục
Ðoàn,
một
vấn
đề
được
thảo
luận
sôi
nổi
(các
số
22-23).
(3)
Thừa
tác
vụ
Giám
Mục
và
những
quyền
hành
của
Giám
Mục
(các
số
24-27).
(4)
Những
thừa
tác
viên
cấp
dưới:
Linh
Mục
và
Phó
Tế
(các
số
28-29).
Nội
dung
của
chương
này
bàn
về
cơ
cấu
phẩm
trật
trong
Giáo
Hội.
Dân
Chúa
là
một
dân
có
tổ
chức,
một
cộng
đoàn
chứ
không
phải
là
một
đám
đông
ô
hợp,
trong
đó
có
quyền
bính
được
thi
hành
trong
Giáo
Hội
và
trên
Giáo
Hội
do
các
Tông
Ðồ
và
các
người
kế
vị
hoặc
các
cộng
tác
viên
tuyển
chọn
và
chỉ
định.
Công
Ðồng
cũng
xác
định
3
đặc
tính
của
quyền
bính
này:
a)
Ðây
là
một
thứ
quyền
bính
được
ủy
thác:
không
chỉ
thi
hành
nhân
danh
Chúa
Kitô
mà
thôi,
nhưng
còn
phải
biểu
lộ
Chúa
Kitô
phục
sinh
hiện
diện
trong
Giáo
Hội
của
Người;
quyền
bính
ấy
phải
được
Thánh
Thần
Chúa
Kitô
hỗ
trợ.
b)
Quyền
bính
không
phải
là
để
thống
trị,
nhưng
là
để
phục
vụ
cho
cộng
đoàn;
việc
phục
vụ
trước
hết
là
giảng
huấn
Lời
Chúa
và
thông
ban
ơn
Ngài
qua
bí
tích;
còn
việc
điều
hành
và
cai
trị
chỉ
là
phụ.
Các
vị
thủ
lãnh
Giáo
Hội
là
những
người
cha
trong
đức
tin
và
là
những
thừa
tác
viên
của
bí
tích.
c)
Quyền
bính
là
do
Chúa
ban,
nhưng
liên
lạc
mật
thiết
với
cộng
đoàn;
và
theo
kiểu
nói
của
Thánh
Kinh,
quyền
bính
có
sứ
mệnh
"chăn
dắt"
cộng
đoàn.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
Pastor
aeternus:
Dz
1821
(3050t).
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
CÐ
Firenze,
Decretum
Pro
Graecis:
Dz
694
(1307)
và
CÐ
Vat.
I,
n.v.t.,:
Dz
1826
(3059).
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Số
18:
Nhập
đề.
Số
này
liên
kết
chương
II
và
chương
III
lại
với
nhau.
Chúa
Kitô
muốn
thiết
lập
phẩm
trật
vì
lợi
ích
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Phẩm
trật
vừa
như
là
một
trong
những
thừa
tác
vụ
được
Chúa
Kitô
thiết
lập,
vừa
như
là
một
công
cuộc
phục
vụ
huynh
đệ
cho
tất
cả
Dân
Chúa.
Khác
với
Vaticanô
I
vì
coi
phẩm
trật
như
một
dữ
kiện
tiên
quyết,
Công
Ðồng
Vaticanô
II
lại
khởi
đầu
từ
Dân
Chúa,
sau
đó
mới
cho
biết
phẩm
trật
là
để
phục
vụ
Dân
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Tiểu
mục
1:
(các
số
19-21)
Về
nguồn
gốc
chức
Giám
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Liber
Sacramentorum
của
T.
Gregoriô,
kinh
tiền
tụng
ngày
sinh
nhật
của
Thánh
Mattheô
và
Tôma:
PL
78,51
và
152;
xem
Cod.
Vat.
Lat.
3548,
f.
18.
T.
Hilariô,
In
Ps.
67,10:
PL
9,450;
CSEL
22,
trg
286.
T.
Hieronimô,
Adv.
Jovin.
1,26:
PL
23,
247A.
T.
Augustinô,
In
Ps.
86,4
:
PL
37,
1103.
T.
Gregoriô
Cả,
Mor.
in
Job,
XXVIII,
V :
PL
76
455-456.
Primasiô,
Comm.
in
Apoc.
V :
PL
68,
924
BC.
Paschasiô
Radb.
In
Mt,
c.
VIII,
ch.
16:
PL
120,
561C.
Xem
Leô
XIII
thư
Et
Sane,
17-12-1888
:
AAS
21
(1888),
trg
321.
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
Số
19:
Sứ
mệnh
và
việc
thiết
lập
Mười
Hai
Tông
Ðồ.
Nhóm
Tông
Ðồ
được
Chúa
Kitô
tuyển
chọn
là
một
nhóm
có
cá
tính
riêng
mà
Công
Ðồng
đã
nêu
ra
những
đặc
điểm
như
sau:
họ
sống
với
Chúa,
được
Chúa
sai
đi
rao
giảng
Nước
Trời,
họ
liên
kết
thành
một
Tông
Ðồ
Ðoàn,
và
có
một
thủ
lãnh.
Khó
khăn
là
ở
điểm
thứ
ba
này,
vì
người
ta
có
thể
hiểu
từ
ngữ
Tông
Ðồ
Ðoàn
theo
nghĩa
hoàn
toàn
pháp
lý.
Nhưng
đây
không
phải
thế,
vì
Công
Ðồng
không
xử
dụng
từ
ngữ
theo
nghĩa
pháp
lý,
nhưng
theo
nghĩa
là
một
nhóm
cố
định,
do
Chúa
thiết
lập
(x.
số
1
của
phần
"Chú
thích
sơ
khởi").
Ðặc
tính
Tông
Ðồ
Ðoàn
còn
được
biểu
lộ
qua
sự
kiện
chỉ
mình
Phêrô
là
thủ
lãnh
của
nhóm.
Quả
quyết
sự
hiện
hữu
của
Tông
Ðồ
Ðoàn
là
để
chuẩn
bị
quả
quyết
về
Giám
Mục
Ðoàn
(số
22).
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
CvTđ
6,2-6.
11-30;
13,1;
14,23;
20,17;
1Th
5,12-13;
Ph
1,1;
Col
4,11
và
nhiều
chỗ
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
CvTđ
20,25-27;
2Tm
4,6t
so
sánh
với
1Tm
5,22;
2Tm
2,2;
Tit
1,5.
T.
Clementê
thành
Roma,
Ad
Cor.
44,
3:
x.b.
Funk,
I,
trg
156.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
T.
Clementê
thành
Roma,
Ad
Cor,
44,
2 :
x.b.
Funk,
I,
trg
154t.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Tertullianô,
Praescr.
Haer.
32
:
PL
2,52t.
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
nhiều
chỗ
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Tertullianô,
Praescr.
Haer.
32:
PL
2,53.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
3,1:
PG
7,848A;
Harvey
2,8;
Sagnard,
trg
100:
"Manifestatam".
(Trở
lại
đầu
trang)
10
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
3,1
:
PG
7,847
;
Harvey
2,7
;
Sagnard,
trg
100:
"Custoditur",
xem,
n.v.t.,
IV,
26,2
:
cột
1053;
Harvey
2,236,
cả
IV,
33,8:
cột
1077;
Harvey
2,262.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Philad.,
lời
mở
đầu:
x.b.
Funk
I,
trg
264.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Philad.,
I,1;
Magn.
6,1:
x.b.
Funk
I,
trg
264
và
234.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
T.
Clementê
thành
Roma,
n.v.t.,
42,3-4;
44,
3-4;
57,1-2:
x.b.
Funk,
I,
trg
152,
156,
171t.
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Philad.,
2;
Smyrn.
8;
Magn.
3;
Trall.7:
x.b.
Funk
I,
trg
265t.;
281;
232;
246t.
v.v?
T.
Giustinô,
Apol.,
1,65:
PG
6,428;
T.
Cyprianô,
Epist.,
nhiều
chỗ
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Leô
XII,
Tđ.
Satis
cognitum,
29-6-1896:
AAS
28
(1895-96),
trg
732.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
CÐ
Trentô,
Sắc
lệnh
De
sacr.
Ordinis,
ch.
4:
Dz
960
(1768);
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
Pastor
aeternus,
ch.
3:
Dz
1828
(3061).
Piô
XII,
Tđ
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
209
và
212,
CIC,
kh.
329
đoạn
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Leô
XIII,
thư
Et
Sane,
17-12-1888:
AAS
21
(1888),
trg
321t.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Số
20:
Công
Ðồng
dạy
rằng
do
việc
Chúa
thiết
lập
mà
các
vị
Giám
Mục
trở
nên
những
người
kế
vị
các
Tông
Ðồ,
và
với
tước
hiệu
ấy,
các
ngài
là
những
mục
tử
chăn
dắt
Giáo
Hội.
Trong
đoạn
này
người
ta
đã
cố
gắng
đưa
ra
những
nhận
xét
để
đánh
giá
trị
một
cách
chính
đáng
bao
nhiêu
có
thể
những
lời
chứng
của
truyền
thống.
Lịch
sử
của
truyền
thống
về
sự
kế
vị
và
về
các
chứng
tá
chính
yếu
một
khi
được
trình
bày
rồi,
Công
Ðồng
mới
quả
quyết
hai
điểm
quan
trọng
ở
đoạn
c:
a)
Sự
trường
tồn
của
thừa
tác
vụ
tông
đồ
nơi
các
Giám
Mục
để
chăn
dắt
Giáo
Hội
Chúa.
b)
Và
kết
quả
của
sự
trường
tồn
ấy
là:
các
Giám
Mục
là
những
người
kế
vị
các
Tông
Ðồ.
Công
Ðồng
không
muốn
định
tín
giáo
lý
này,
nhưng
giảng
dạy
một
cách
chắc
chắn,
vì
xử
dụng
những
kiểu
nói
chuyên
biệt
"Thánh
Công
Ðồng
dạy
rằng".
Sự
kế
vị
là
do
Chúa
lập,
nhờ
đó
mà
các
Giám
Mục
trở
thành
mục
tử
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
không
đi
vào
vấn
đề
xem
các
Giám
Mục
có
được
thừa
kế
các
đặc
quyền
riêng
biệt
của
các
Tông
Ðồ
hay
không,
nhưng
chỉ
minh
nhiên
quả
quyết
tông
vụ
chăn
dắt
Giáo
Hội
Chúa
được
nối
tiếp
nơi
các
Giám
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
T.
Leô
Cả,
Serm.
5,3:
PL
54,154.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
CÐ
Trentô,
khóa
23,
ch.
3,
trích
2Tm
1,6-7
để
chứng
minh
phép
truyền
chức
thánh
thực
sự
là
một
bí
tích:
Dz
959
(1766).
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Trong
Trad.
Apost.
3,
x.b.
Botte,
Sources
Chrétiennes,
trg
27-30,
Giám
Mục
có
chức
linh
mục
cao
nhất
(primatus
sacerdotii).
Xem
Sacramentarium
Leonianum,
x.b.
C.
Mohlberg,
Sacramentarium
Veronense,
Roma,
1955,
trg
119:
"ad
sumni
sacerdotii
ministerium...
Comple
in
sacerdotibus
tuis
mysterii
tui
summam"...
n.t.,
Liber
Sacramentorum
Romanae
Ecclesiae,
Roma,
1960,
trg
121-122:
"Lạy
Chúa,
xin
ban
cho
họ
ngai
giám
mục
để
họ
điều
khiển
Giáo
Hội
Chúa
và
toàn
dân":
x.
PL
78,
224.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Trad.
Apost.
2:
x.b.
Botte,
trg
27.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
CÐ
Trentô,
khóa
23,
ch.
4,
dạy
rằng
bí
tích
truyền
chức
in
dấu
không
hay
mất:
Dz
960
(1767).
Xem
Gioan
XXIII,
huấn
từ
Jubilate
Deo,
8-5-1960:
AAS
52
(1960),
trg
466.
-
Phaolô
VI,
bài
giảng
tại
giáo
đường
Vaticanô,
20-10-1963:
AAS
55
(1963),
trg
1014.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
T.
Cyprianô,
Epist.
63,14:
PL
4,
386;
Hartel,
IIIB,
trg
713:
"Linh
mục
thực
sự
hoạt
động
thay
Chúa
Kitô".
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
2
Tim,
bài
giảng
2,4
;
PG
62,612:
Linh
Mục
là
"hình
ảnh"
(symbolon)
của
Chúa
Kitô.
T.
Ambrosiô,
In
Ps
38,25-26:
PL
14,1051-52:
CSEL
64,203-204.
Ambrosias-ter,
In
1
Tim
5,19:
PL
17,479
C
và
In
Eph.
4,11-12:
cột
387.
C.
Theodorô
Mops.,
Hom.
Catech.
XV,
21
và
24:
x.b.
Tonneau,
trg
497
và
503.
Hesychio
Hieros.,
In
Lev.
L.
2,
9,23:
PG
93,894
B.
(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Số
21:
Bí
tích
tính
của
chức
Giám
Mục.
Bố
cục
của
số
này
như
sau:
điểm
quả
quyết
trong
số
20
(chính
Chúa
đã
lập
các
Giám
Mục
kế
vị
Tông
Ðồ
làm
mục
tử
Giáo
Hội)
được
bổ
túc
bằng
ba
xác
định
mới:
(1)
Chúa
Kitô
hiện
diện
giữa
tín
hữu
trong
con
người
của
Giám
Mục.
(2)
Sự
hiện
diện
ấy
được
chuyển
đạt
qua
các
nghi
thức
đặt
tay,
là
nhờ
hồng
ân
thiêng
liêng
của
Chúa
Thánh
Thần.
(3)
Và
như
vậy,
sự
kế
vị
các
Tông
Ðồ
được
chuyển
trao
nhờ
một
bí
tích
là
bí
tích
truyền
chức
Giám
Mục.
Chức
Giám
Mục
là
chức
linh
mục
tối
thượng.
Qua
việc
truyền
chức,
vị
Giám
Mục
lãnh
nhận
sự
sung
mãn
của
bí
tích
truyền
chức.
Việc
truyền
chức
đem
đến
cho
vị
Giám
Mục
3
nhiệm
vụ:
thánh
hóa,
giảng
dạy
và
cai
trị
(x.
các
số
25-27).
Công
Ðồng
đã
soạn
thảo
đoạn
này
để
giải
quyết
cho
xong
cuộc
bàn
cãi
về
bí
tích
tính
của
chức
Giám
Mục,
vì
có
một
số
người
chỉ
coi
đó
là
một
hình
thức
bổ
túc
cho
chức
linh
mục.
Do
đó
mà
từ
nay
phải
nhìn
bí
tích
truyền
chức
nơi
vị
Giám
Mục
chứ
không
phải
nơi
Linh
Mục,
vì
Linh
Mục
chỉ
tham
dự
vào
sự
sung
mãn
của
chức
tư
tế
Giám
Mục
(x.
số
28).
Như
thế
con
đường
đã
được
chuẩn
bị
để
quả
quyết
về
Giám
Mục
Ðoàn.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Tiểu
mục
2:
(các
số
22-23)
Giám
Mục
Ðoàn.
Tiết
này
được
tranh
luận
nhiều
nhất,
có
nhiều
chú
thích
và
sửa
đổi
nhất,
đặc
biệt
là
số
22:
bởi
vậy
công
việc
soạn
thảo
sau
cùng
rất
nặng
nề.
Người
ta
biết
có
hai
bản
phúc
trình
ngược
hẳn
nhau
được
đệ
trình
lên
Công
Ðồng,
một
của
Giám
Mục
Parente,
ủng
hộ
bản
văn,
sau
cùng
được
chấp
thuận
với
một
ít
điều
sửa
đổi,
và
một
của
Giám
Mục
Franic
trình
bày
những
khó
khăn
chống
với
bản
văn.
Cũng
nhờ
"bản
phúc
trình"
sau
này
mà
có
phần
chú
thích
sơ
khởi,
đến
giờ
chót
được
đặt
thêm
vào
bản
văn
để
xoa
dịu
một
vài
lập
trường
quyết
liệt.
Khó
khăn
chính
là
vì
người
ta
sợ
Cộng
Ðoàn
tính
của
Giám
Mục
có
thể
phương
hại
tới
tín
điều
về
quyền
tối
thượng
của
Giáo
Hoàng.
Khó
khăn
khác
nữa
là
vì
từ
ngữ
Giám
Mục
Ðoàn,
nếu
hiểu
theo
nghĩa
pháp
lý,
sẽ
đưa
đến
sự
bình
đẳng
giữa
các
phần
tử
trong
đoàn
và
như
vậy,
dường
như
quyền
tối
thượng
bị
đe
dọa.
Sau
cùng,
từ
ngữ
đó
không
có
trong
Thánh
Kinh
hay
trong
Truyền
Thống.
Công
Ðồng
vẫn
lưu
ý
đến
những
vấn
nạn
đó
khi
soạn
thảo
bản
văn
và
cũng
vì
vậy
mà
xác
nhận
một
lần
nữa
về
quyền
tối
thượng
của
Giáo
Hoàng
trong
một
bản
văn
đề
cập
đến
các
Giám
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Eusebiô,
Hist.
Eccl.,
V,
24,10
:
GCS
II,1,
trg
495;
x.b.
Bardy,
Sources
Chr.
II,
trg
69.
Dionysiô,
trong
Eusebiô,
n.v.t.
VII,
5,2:
GCS
II,
2,
trg
638t
;
Bardy,
II
trg
168t.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
về
các
Công
Ðồng
thời
trước,
Eusebiô,
Hist.
Eccl.
V,
23-24:
GCS
II,
1,
trg
488
tt;
Bardy,
II,
trg
66t.
và
nhiều
chỗ
khác.
CÐ
Nicea,
đ.th.
5:
Conc.Oec.
Decr.,
trg
7.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Tertullianô,
De
Jejunio,
13:
PL
2,
972B:
CSEL
20,
trg.
292,
hàng
13-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
T.
Cyprianô,
Epist.
56,
3 :
Hartel,
III
B,
trg
650
;
Bayard,
trg
154.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
phúc
trình
chính
thức
của
Zinelli,
trong
CÐ
Vat
I :
Mansi
52,
1109C.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
CÐ
Vat
I,
lược
đồ
Hiến
chế
tín
lý,
II,
De
Eccl.
Christi,
ch.
4:
Mansi
53,
310.
Xem
phúc
trình
của
Kleutgen
về
lược
đồ
sửa
lại:
Mansi
53,
321B-322B
và
tuyên
bố
của
Zinelli:
Mansi
52,
1110.
Cũng
xem
T.
Leô
Cả,
Serm.
4,3
:
PL
54,
151A.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
CIC,
các
kh.
222
và
227.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Trong
số
22
này,
chúng
ta
phân
biệt
bốn
đề
xướng:
(1)
Ðề
xướng
thứ
nhất
quả
quyết
sự
hiện
hữu
của
Giám
Mục
Ðoàn
kế
vị
Tông
Ðồ
Ðoàn,
phác
họa
một
chứng
cứ
lịch
sử,
và
liệt
kê
những
điều
kiện
gia
nhập
đoàn.
Ðây
là
một
trong
những
quả
quyết
quan
trọng
nhất
của
Công
Ðồng
mà
người
ta
muốn
bày
tỏ
tính
cách
bổ
túc
của
nó
cho
Công
Ðồng
Vaticanô
I.
Công
Ðồng
xác
nhận
nguồn
gốc
Tông
Ðồ
Ðoàn
là
do
Chúa,
hợp
với
tinh
thần
Tân
Ước
(x.
số
19),
và
Tông
Ðồ
Ðoàn
được
các
người
kế
vị
là
Giám
Mục
tiếp
nối
liên
tục.
Sự
liên
tục
đó
là
một
kết
quả
hợp
lý
vì
Chúa
đã
hứa
cho
Giáo
Hội
được
trường
tồn.
Nhiều
tài
liệu
của
Truyền
thống
cũng
xác
nhận
sự
liên
tục
này.
Ðược
phong
chức
Giám
Mục
và
hiệp
thông
giáo
phẩm
với
Thủ
Lãnh
cũng
như
với
các
phần
tử
trong
đoàn,
là
đã
gia
nhập
Giám
Mục
Ðoàn.
Giám
Mục
Ðoàn
luôn
đòi
phải
có
Thủ
Lãnh.
(2)
Giám
Mục
Ðoàn
cũng
có
quyền
bính
tối
cao
và
trọn
vẹn
trên
toàn
thể
Giáo
Hội.
Ðiều
quả
quyết
này
gây
ra
nhiều
vấn
đề
thần
học
quan
trọng,
vì
như
chúng
ta
biết,
Giáo
Hoàng
cũng
có
đặc
quyền
ấy.
Việc
soạn
thảo
đã
cố
gắng
minh
giải
vấn
đề
với
câu:
"Hiệp
nhất
với
Thủ
Lãnh
(là
Giáo
Hoàng
Roma),
Giám
Mục
Ðoàn
cũng
có
quyền
bính
trọn
vẹn
và
tối
cao
trên
toàn
thể
Giáo
Hội,
nhưng
chỉ
có
thể
thi
hành
quyền
này
khi
có
sự
ưng
thuận
của
Giáo
Hoàng".
Như
vậy
phải
chăng
có
hai
quyền
bính
tối
cao
và
trọn
vẹn
trong
Giáo
Hội?
Làm
sao
có
thể
thế
được?
Bản
phúc
trình
chính
thức
đã
trả
lời:
"Vấn
nạn
sẽ
không
còn
một
khi
lưu
ý
là
trong
Giáo
Hội
không
phải
có
hai
nhưng
chỉ
một
quyền
bính
mà
Chúa
Kitô
đã
trao
ban
cho
toàn
thể
Tông
Ðồ
Ðoàn,
cho
cả
Phêrô
lẫn
các
Tông
Ðồ.
Chúng
ta
cũng
nhận
rằng
quyền
bính
ấy
thuộc
về
một
mình
Giáo
Hoàng,
và
được
thực
thi
trên
các
Giám
Mục
chỉ
có
trong
thường
năng;
muốn
có
trong
hiện
năng
phải
tùy
thuộc
vào
Giáo
Hoàng.
Như
vậy,
Giám
Mục
Ðoàn
không
hạn
chế
quyền
tối
cao
của
Giáo
Hoàng;
nhưng
chỉ
thừa
nhận
và
chuẩn
y
cho
chức
vị
Giám
Mục
theo
tư
tưởng
của
Giáo
Hội
sơ
khai:
được
phong
chức
Giám
Mục
là
được
tham
dự
thường
năng
vào
quyền
hành
Chúa
Kitô,
để
khi
được
Giáo
Hoàng
mời
gọi,
các
Giám
Mục
có
thể
thực
thi
quyền
hành
đó
ở
hiện
năng
trong
cả
Giáo
Hội.
Ðể
lưu
ý
đến
những
dự
liệu
này
và
những
dự
liệu
của
chú
thích
sơ
khởi,
chúng
ta
nên
phân
biệt:
-
Quyền
hành
(để
điều
khiển
Giáo
Hội)
nơi
Giám
Mục
Ðoàn
hiệp
thông
với
Giáo
Hoàng,
là
một
vị
trong
đoàn
với
tư
cách
thủ
lãnh.
-
Sự
thực
thi
(tối
cao,
trên
toàn
thể
Giáo
Hội)
quyền
hành
đó
đòi
phải
được
Giáo
Hoàng
mời
gọi,
đòi
phải
hiệp
thông
hữu
hiệu
với
Ngài
hoặc
ít
nhất
không
chống
lại
Ngài.
-
Sự
chỉ
định
pháp
lý
(theo
giáo
luật),
theo
đó
Giáo
Hoàng
trao
phó
cho
một
Giám
Mục
một
lãnh
thổ
hay
một
nhiệm
vụ
và
ban
quyền
tham
dự
vào
trách
nhiệm
tập
đoàn
trên
toàn
thể
Giáo
Hội.
(3)
Trong
thực
tại
Giám
Mục
Ðoàn
và
trong
sự
thực
thi
quyền
hành
tập
đoàn,
toàn
thể
hàng
giáo
phẩm
phải
phục
vụ
cho
việc
hiệp
nhất
Dân
Chúa.
Giáo
Hoàng
là
người
gìn
giữ
việc
hiệp
nhất
đó
cả
trên
bình
diện
cơ
cấu
lẫn
bình
diện
pháp
lý
và
cai
trị.
Với
các
Giám
Mục,
thì
Giám
Mục
Ðoàn
chính
là
dấu
hiệu
của
việc
hiệp
nhất
này
trong
Giáo
Hội,
được
đảm
bảo
qua
sự
hiệp
thông
tập
đoàn
và
qua
những
mối
tương
giao
huynh
đệ
trong
hàng
Giám
Mục.
(4)
Sự
thực
thi
quyền
Giám
Mục
Ðoàn:
quyền
hành
tối
cao
của
Giám
Mục
Ðoàn
được
thực
thi
bằng
hai
cách:
trong
Công
Ðồng
Chung
do
Giáo
Hoàng
triệu
tập
(hoặc
ít
nhất
được
Ngài
chấp
thuận);
ngoài
Công
Ðồng,
do
các
Giám
Mục
rải
rác
khắp
hoàn
cầu
khi
được
Giáo
Hoàng
mời
gọi
thực
thi
một
việc
có
tính
cách
tập
đoàn.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
Pastor
aeternus:
Dz
1821
(3050t).
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
T.
Cyprianô,
Epist.
66,
8:
Hartel
III,
2,
trg
733:
"Giám
Mục
trong
Giáo
Hội
và
Giáo
Hội
trong
Giám
Mục".
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
T.
Cypianô,
Epist.
55,
24:
Hartel,
trg
642,
hàng
13:
"Una
Ecclesia
per
totum
mundum
in
multa
membra
divisa".
Epist.
36,4:
Hartel,
trg
575,
hàng
20-21.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Fidei
Donum,
21-4-1957:
AAS
49
(1957),
trg
237.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
T.
Hilariô
Pict.,
In
Ps.
14,3:
PL
9,
206:
CSEL
22,
trg
86.
T.
Gregoriô
Cả,
Moral.
IV,
7,12:
PL
75,
643
C.
Basiliô
Cả,
In
Is.
15,
296:
PG
30,637C.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
T.
Coelestinô,
Epist.
18,
1-2,
gửi
đến
Công
Ðồng
Eph.:
PL
50,
505AB;
Schwartz,
Acta
Conc.
Oec.
I,
1,1,
trg
22.
Xem
Benedictô
XV,
Tông
thư
Maximum
illud:
AAS
11
(1919),
trg
440.
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Eccl.,
28-2-1926:
AAS
18
(1926),
trg
69.
Piô
XII,
Tđ.
Fidei
Donum,
n.v.t.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Leô
XIII,
Tđ.
Grande
munus,
30-9-1880:
AAS
13
(1880),
trg
145.
-
Xem
CIC,
kh.
1327,
kh.
1350
đoạn
2.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Về
những
quyền
của
các
Tòa
giáo
chủ,
xem
CÐ
Nicea
đ.
th.
6
về
Alexandria
và
Antiochia,
và
đ.
th.
7
về
Giêrusalem:
Conc.
Oec.
Decr.,
trg
8.
CÐ
Lateranô
IV,
năm
1215,
Hiến
chế
V:
De
dignitate
Patriarcharum:
n.v.t.,
trg
212.
CÐ
Ferr.
-
Flor.:
n.v.t.,
trg
504.
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Số
23:
Trên
bình
diện
liên
lạc
chiều
ngang
giữa
các
Giám
Mục,
sự
thực
thi
quyền
Giám
Mục
Ðoàn
thường
được
khai
triển
dưới
ba
hình
thức:
-
Giám
Mục
là
dấu
hiệu
và
khí
cụ
hiệp
nhất
trong
Giáo
Hội
địa
phương
(x.
sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
Giám
Mục,
số
6).
Từ
đó
Giám
Mục
quan
tâm
đến
trách
vụ
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
-
Trách
nhiệm
tập
đoàn
về
việc
loan
báo
Phúc
Âm
cho
cả
thế
giới:
bởi
vậy
phải
hỗ
trợ
các
Giáo
Hội
tại
miền
truyền
giáo
và
các
Giáo
Hội
ít
được
nâng
đỡ
(x.
sắc
lệnh
về
hoạt
động
Truyền
Giáo,
số
20).
- Ý
nghĩa
và
giá
trị
các
Giáo
Hội
có
tòa
thượng
phụ
ở
Ðông
Phương
và
các
Giáo
Hội
khác
phát
sinh
ra
từ
đó.
Phải
tôn
trọng
các
Giáo
Hội
này
vì
có
truyền
thống
và
kỷ
luật
riêng.
Số
23
kết
thúc
bằng
vài
dòng
vắn
tắt
nói
về
Hội
Ðồng
Giám
Mục
qui
tụ
các
Giám
Mục
trong
một
lãnh
thổ
hay
trong
một
quốc
gia.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Tiểu
mục
3:
thừa
tác
vụ
Giám
Mục
và
những
quyền
năng
(các
số
24-27).
(Trở
lại
đầu
trang)
38
Xem
CIC
cho
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
các
kh.
216-314:
về
các
Giáo
Chủ;
các
kh.
324-339:
về
các
Ðại
Tổng
Giám
Mục;
các
kh.
362-391:
về
các
vị
chức
sắc
khác;
đặc
biệt
các
kh.
238,
đoạn
3;
216;
240;
251;
255:
về
các
Giám
Mục
được
các
Giáo
Chủ
đặt
lên.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Số
24:
Nói
về
thừa
tác
vụ
Giám
Mục,
tiếp
tục
cho
số
20.
Ở
đây
không
bàn
về
chức
vị
hay
quyền
bính,
nhưng
về
thừa
tác
vụ
Giám
Mục.
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
tới
đặc
tính
phục
vụ
của
những
người
được
Chúa
kêu
gọi
cai
trị
Dân
Chúa,
theo
kiểu
nói
của
Thánh
Kinh
(x.
Mt
20,
24-28;
Gio
13,1-17).
Giám
Mục
là
người
phục
vụ
cho
phần
dân
được
trao
phó,
và
phục
vụ
cho
toàn
thế
giới.
Ngài
phải
nỗ
lực
rao
giảng
và
làm
cho
Phúc
Âm
sống
động,
và
nếu
cần,
phải
hiến
mạng
sống
cho
đoàn
chiên.
Muốn
được
thế,
các
Giám
Mục
nhận
lấy
sức
mạnh
của
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
thánh
hiến
các
Ngài
để
phục
vụ.
Công
Ðồng
còn
thêm
một
đoạn
nữa
bàn
đến
sứ
mệnh
theo
giáo
luật,
nghĩa
là
Giám
Mục
được
quyền
cấp
trên
chỉ
định
đặc
trách
một
lãnh
thổ
hay
một
số
dân
nhất
định.
Có
ba
cách
thức
chỉ
định
được
coi
là
có
hiệu
lực:
tập
tục
chưa
bị
đoạn
tiêu,
luật
lệ
được
Tòa
Thánh
ban
hành
hay
thừa
nhận,
do
chính
Giáo
Hoàng
chỉ
định.
Với
hai
cách
đầu
tiên,
phải
có
sự
chấp
thuận
minh
nhiên
hay
mặc
nhiên
của
Tòa
Thánh,
nếu
không
sẽ
bất
thành
sự.
Ba
số
kế
tiếp
đề
cập
đến
quyền
năng
Giám
Mục
(các
số
25-27).
Nhiều
nhà
thần
học
phân
biệt
thành
hai
quyền
năng
phẩm
trật:
quyền
theo
chức
vị
và
quyền
theo
sứ
mệnh.
Công
Ðồng
trái
lại
đã
chọn
kiểu
nói
ba
quyền
năng:
giảng
dạy,
thánh
hóa
và
cai
trị
Dân
Chúa,
và
cho
như
vậy
là
tiện
lợi
hơn,
vì
cách
phân
chia
này
cho
phép
mô
tả
các
quyền
năng,
và
nếu
cần,
minh
xác
các
quyền
năng
đó.
Có
lẽ
còn
lý
do
nữa
là
liên
kết
quyền
năng
của
giáo
phẩm
với
ba
nhiệm
vụ
của
Chúa
Kitô
(được
nhắc
tới
trong
các
số
34-36):
nhiệm
vụ
tư
tế,
tiên
tri
và
vương
giả.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
CÐ
Trentô
sắc
lệnh
De
Reform.,
khóa
V,
ch.
2,
số
9,
và
khóa
XXIV,
đ.th.
4:
Conc.
Oec.
Decr.,
trg
645
và
739.
(Trở
lại
đầu
trang)
40
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
Dei
Filius,
3:
Dz
1712
(3011).
Xem
ghi
chú
kèm
theo
Lược
Ðồ
I
về
De
Eccl.
(trích
từ
Thánh
Rob.
Bellarminô):
Mansi
51,
579C,
và
Lược
Ðồ
đã
được
sửa
đổi
của
Hiến
Chế
II
De
Eccl.
Christi,
với
phần
chú
giải
củ
Kleutgen:
Mansi
53,
313
AB.
Ðức
Piô
IX,
Thư
"tuas
libenter":
Dz
1683
(2879).
(Trở
lại
đầu
trang)
41
Xem
CIC
các
kh.
1322-1323.
(Trở
lại
đầu
trang)
42
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
Pastor
Aeternus:
Dz
1839
(3074).
(Trở
lại
đầu
trang)
43
Xem
giải
nghĩa
của
Gasser
trong
CÐ
Vat.
I :
Mansi
52.
1212
AC.
(Trở
lại
đầu
trang)
44
Xem
Gasser
n.v.t.:
Mansi
1214A.
(Trở
lại
đầu
trang)
45
Xem
Gasser
n.v.t.:
Mansi
1215
CD,
1216-1217
A.
(Trở
lại
đầu
trang)
46
Xem
Gasser
n.v.t.
:
Mansi
1213.
(Trở
lại
đầu
trang)
47
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
Pastor
aeternus,
4:
Dz
1836
(3070).
(Trở
lại
đầu
trang)
34*
Số
25:
Quyền
giảng
dạy
(giáo
huấn).
Số
này
trình
bày
những
tiêu
chuẩn
định
giá
trị
lời
giảng
dạy
của
giáo
phẩm,
trong
khuôn
khổ
Giám
Mục
Ðoàn,
và
trình
bày
nguyên
tắc
quyền
bính.
Nội
dung
của
lời
giảng,
những
đối
tượng
khác
nhau
của
giáo
huấn
Giáo
Hội
được
phân
tích
trong
sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
Giám
Mục
(các
số
12-14).
Việc
soạn
thảo
bản
văn
gặp
nhiều
khó
khăn.
Công
Ðồng
muốn
giữ
y
nguyên
định
nghĩa
về
quyền
giáo
huấn
bất
khả
ngộ
của
Giáo
Hoàng,
vừa
muốn
quả
quyết
quyền
giáo
huấn
của
các
Giám
Mục.
Ðiều
xác
định
căn
bản
như
sau:
nhiệm
vụ
đầu
tiên
của
Giám
Mục
là
rao
giảng
Phúc
Âm.
Bản
văn
chia
ra
bốn
phần:
-
Giám
Mục
là
tiến
sĩ
của
đức
tin
nên
phải
tuân
theo
lời
giảng
dạy
của
các
Ngài.
-
Bất
khả
ngộ
tính
của
Giám
Mục
khi
đồng
thanh
giảng
dạy
không
những
trong
Công
Ðồng
Chung
mà
ngay
cả
khi
các
Ngài
thông
hảo
với
nhau
và
với
Ðấng
kế
vị
Phêrô
để
giảng
dạy
những
giáo
lý
thuộc
đức
tin
và
phong
hóa.
Ðây
là
đề
tài
cố
hữu
trong
khoa
thần
học.
-
Bất
khả
ngộ
tính
của
một
mình
Giáo
Hoàng
được
xác
định
khéo
léo
ở
đây,
trong
khuôn
khổ
của
việc
giảng
dạy
được
các
Giám
Mục
thực
thi
trong
tập
đoàn.
-
Sự
tương
hợp
của
giáo
thuyết
Giáo
Hội
với
Mạc
Khải.
(Trở
lại
đầu
trang)
48
Lời
nguyện
lễ
tấn
phong
Giám
Mục
theo
nghi
lễ
Bizantinô:
Euchologion
to
mega
Roma,
1873,
trg
139.
(Trở
lại
đầu
trang)
49
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Smyrn.
8,1:
x.b.
Funk
I,
trg
282.
(Trở
lại
đầu
trang)
50
Xem
CvTđ
8,1;
14,22-23;
20,17
và
nhiều
chỗ
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
51
Lời
nguyện
Tây
Ban
Nha:
PL
96,
759B.
(Trở
lại
đầu
trang)
52
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Smyrn.
8,1:
x.b.
Funk,
I,
trg
282.
(Trở
lại
đầu
trang)
53
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.
73,
a.
3.
(Trở
lại
đầu
trang)
54
Xem
T.
Augustinô,
C.
Faustum,
12,
20:
PL
42,
265;
Serm.
57,
7:
PL
38,
389,
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
55
T.
Leô
Cả,
Serm.
63,
7:
PL
54,
357C.
(Trở
lại
đầu
trang)
56
Xem
Traditio
Apostolica
của
Hippolytô,
2-3:
x.b.
Botte,
trg
26-30.
(Trở
lại
đầu
trang)
57
Xem
đoạn
"khảo
duyệt"
ở
đầu
lễ
tấn
phong
Giám
Mục
và
kinh
nguyện
sau
lễ
tấn
phong
Giám
Mục,
sau
Te
Deum.
(Trở
lại
đầu
trang)
35*
Số
26:
Quyền
thánh
hóa.
Số
này
tuy
dài
nhưng
khúc
chiết,
được
sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
Giám
Mục
(số
15)
bổ
túc.
Ý
tưởng
chính
là:
Giám
Mục
là
người
chủ
chốt
ban
phát
các
mầu
nhiệm
của
Chúa,
là
người
tổ
chức,
phát
động
và
bảo
trì
đời
sống
phụng
vụ.
Ngài
chủ
tọa
thánh
lễ
cộng
đồng,
có
trách
vụ
loan
báo
lời
Chúa
trong
công
hội
phụng
vụ.
Ngài
còn
là
thừa
tác
viên
chủ
yếu
của
các
bí
tích.
Kết
luận
của
số
này
là
lời
ám
chỉ
đến
gương
mẫu
đời
sống
mà
các
mục
tử
phải
nêu
ra.
(Trở
lại
đầu
trang)
58
Xem
Benedictô
XIV,
Br.
Romana
Ecclesia,
5-10-1752,
đoạn
1
Bullarium
Benedicti
XIV,
bộ
IV,
Roma
1758,
21:
"Giám
Mục
thay
mặt
Chúa
Kitô
và
chu
toàn
công
cuộc
của
Ngài".
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg
211:
"mỗi
Giám
Mục
chăn
dắt
và
điều
khiển
đoàn
chiên
được
giao
phó
nhân
danh
Chúa
Kitô".
(Trở
lại
đầu
trang)
59
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Satis
cognitum,
29-6-1896:
AAS
28
(1895-96),
trg
732,
n.v.t.,
thư
Officio
Sanctissimo,
22-12-1887:
AAS
20
(1887),
trg
264.
Piô
IX,
Tông
thư
gửi
các
Giám
Mục
Ðức,
12-3-1875
và
huấn
từ
15-3-1875:
Dz
3112-3117
trong
lần
phát
hành
mới.
(Trở
lại
đầu
trang)
60
Xem
CÐ
Vat.
I:
Hiến
Chế
tín
lý
Pastor
aeternus,
3:
Dz
1828
(3061).
Xem
bài
phúc
trình
của
Zinelli:
Mansi
52,
1114
D.
(Trở
lại
đầu
trang)
61
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
đạo,
Ad
Ephes.
5,1
:
x.b.
Funk,
I,
trg
216.
(Trở
lại
đầu
trang)
36*
Số
27:
Quyền
cai
quản.
Ðoạn
này
còn
được
Sắc
Lệnh
về
nhiệm
vụ
Giám
Mục
(số
16)
bổ
túc.
Trong
số
đó,
Công
Ðồng
xác
định
chi
tiết
những
bổn
phận
mục
vụ
của
người
tông
đồ,
đặc
biệt
đối
với
linh
mục,
và
cả
với
những
tín
hữu
ly
khai
cũng
như
những
người
chưa
chịu
phép
Thánh
Tẩy.
Công
Ðồng
đã
giữ
lại
và
lưu
ý
lời
quả
quyết
này
là:
các
Giám
Mục
là
đại
diện
và
thừa
phái
của
Chúa
Kitô
chứ
không
phải
đại
diện
Giáo
Hoàng,
vì
lẽ
các
Ngài
thi
hành
quyền
năng
riêng
biệt
của
các
Ngài,
và
việc
gọi
các
Ngài
là
thủ
lãnh
phần
dân
các
Ngài
hướng
dẫn,
quả
là
điều
xác
đáng.
Ở
đây
Công
Ðồng
cũng
nhấn
mạnh
đến
ý
tưởng
phục
vụ:
quyền
bính
Giám
Mục
không
để
thống
trị;
ngoài
ra
còn
kín
đáo
ám
chỉ
tới
trách
nhiệm
của
Giám
Mục
đối
với
những
người
chưa
thuộc
về
đoàn
chiên
duy
nhất.
Giám
Mục
không
chỉ
bận
tâm
riêng
với
tín
hữu,
nhưng
có
trách
nhiệm
đối
với
mọi
người;
ngay
trong
giáo
phận,
Ngài
phải
là
một
vị
thừa
sai.
Câu
sau
cùng
nhắc
nhở
cho
tín
hữu
phải
biết
liên
kết
với
Giám
Mục
của
mình
như
Giáo
Hội
đã
liên
kết
với
Chúa
Kitô
và
Chúa
Kitô
với
Chúa
Cha.
(Trở
lại
đầu
trang)
37*
Tiểu
mục
4:
Những
cộng
tác
viên
của
Giám
Mục
(các
số
28-29).
Công
Ðồng
biên
soạn
và
khai
triển
đoạn
này
trong
những
cuộc
bàn
cãi
vào
tháng
9
năm
1964.
Về
linh
mục,
số
29
còn
được
bổ
túc
và
minh
định
qua
Sắc
Lệnh
về
nhiệm
vụ
Giám
Mục
(các
số
28-35).
Công
Ðồng
chưa
có
thời
giờ
quảng
diễn
một
khoa
thần
học
về
chức
linh
mục
thừa
tác,
nên
tạm
thời
chỉ
nói
sơ
qua
khi
bàn
về
chức
Giám
Mục.
Sự
liên
lạc
giữa
hai
bên
khiến
Công
Ðồng
liệt
kê
được
những
quả
quyết
chính
yếu
trong
những
số
này
để
kết
thúc
cho
một
chương
khá
dài,
đòi
nhiều
công
phu.
(Trở
lại
đầu
trang)
62
Xem
T.
Inhatiô
tử
đạo,
Ad
Ephes.
6,1:
x.b.
Funk
I,
trg
218.
(Trở
lại
đầu
trang)
63
Xem
CÐ
Trentô,
khóa
23,
De
Sacr.
ord.,
ch.
2:
Dz
958
(1765)
và
đ.
th.
6:
Dz
966
(1776).
(Trở
lại
đầu
trang)
64
Xem
Innocentiô
I,
Epist.
ad
Decentium:
PL
20,
554A;
Mansi
3,
1029;
Dz
98
(215):
"Linh
mục
tùy
thuộc
và
hàng
tư
tế
bậc
thấp,
nên
không
có
quyền
tư
tế
tối
cao".
T.
Cyprianô,
Epist.
61,
3:
x.b.
Hartel,
trg
696.
(Trở
lại
đầu
trang)
65
Xem
CÐ
Trentô,
n.v.t.:
Dz
956-968
(1763-1778),
và
đặc
biệt
đ.th.
7:
Dz
967
(1777).
Piô
XII,
Tông
hiến
Sacramentum
Ordinis:
Dz
2301
(3857-61).
(Trở
lại
đầu
trang)
66
Xem
Innocentiô
I,
n.v.t.
-
T.
Gregoriô
Naz.,
Apol.
II,
22:
PG
35,
432
B.
Dionysiô
Giả,
Eccl.
Hier.,
1,2:
PG
3,372
D.
(Trở
lại
đầu
trang)
67
Xem
CÐ
Trentô,
khóa
22:
Dz
940
(1743).
Piô
XII,
Tđ.
Mediator
Dei,
20-11-1947:
AAS
39
(1947),
trg
553;
Dz
2300
(3850).
(Trở
lại
đầu
trang)
68
Xem
CÐ
Trentô,
khóa
22:
Dz
938
(1739-40)
-
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
Sacrosancium
Concilium
số
7
và
47:
AAS
56
(1964),
trg
100-113.
(Trở
lại
đầu
trang)
69
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Mediator
Dei,
n.v.t.,
số
67.
(Trở
lại
đầu
trang)
70
Xem
T.
Cyprianô,
Epist.
11,3:
PL
4,242B;
x.b.
Hartel
II,
2,
trg
497.
(Trở
lại
đầu
trang)
71
Xem
Pontificate
Romanum,
lễ
truyền
chức
linh
mục:
lúc
mặc
áo
lễ.
(Trở
lại
đầu
trang)
72
n.v.t.:
kinh
tiền
tụng.
(Trở
lại
đầu
trang)
73
Xem
T.
Inhatiô
Tử
đạo,
Philad.
4:
x.b.
Funk
I,
trg
266.
T.
Corneliô
I,
trong
T.
Cyprianô,
Epist.
48,
2:
Hartel
III,
2,
trg
610.
(Trở
lại
đầu
trang)
38*
Số
28:
Về
Linh
Mục.
Công
Ðồng
không
muốn
đề
cập
đến
những
vấn
đề
thuộc
khoa
chú
giải
do
Tân
Ước
đặt
ra,
nhưng
chỉ
muốn
xác
định
điều
này:
các
linh
mục,
vì
là
những
thừa
tác
viên
cộng
tác
với
Giám
Mục,
nên
được
tham
dự
vào
quyền
hành
và
sứ
mệnh
mà
Chúa
Kitô
đã
trao
ban
cho
các
Tông
Ðồ.
-
Tương
quan
giữa
linh
mục
Chúa
Kitô:
tùy
theo
mức
độ
thừa
tác
vụ,
linh
mục
tham
dự
vào
nhiệm
vụ
Chúa
Kitô
là
Vị
Trung
Gian
duy
nhất,
nhiệm
vụ
được
thi
hành
trong
việc
tế
tự
và
trong
công
hội:
thừa
tác
vụ
của
ngài
là
dâng
Thánh
Lễ,
dẫn
dắt
đoàn
chiên,
dùng
bí
tích
mà
thánh
hóa,
rao
giảng
Lời
Chúa.
-
Tương
quan
giữa
linh
mục
và
Giám
Mục:
lặp
lại
hình
thức
linh
mục
đoàn
ngày
xưa,
nghĩa
là
các
linh
mục
tập
trung
quanh
Giám
Mục
để
cùng
lãnh
trách
nhiệm
chung
là
truyền
bá
Phúc
Âm.
Giám
Mục
phải
sống
tình
cha
con,
còn
linh
mục
phải
vâng
lời
và
tuân
phục.
Chức
tư
tế
của
linh
mục
tùy
thuộc
và
tham
dự
vào
chức
tư
tế
của
Giám
Mục.
Linh
mục
cộng
tác
vào
công
cuộc
truyền
bá
Phúc
Âm
có
tính
cách
tập
đoàn.
-
Tương
quan
giữa
linh
mục
với
nhau:
Công
Ðồng
mời
gọi
các
linh
mục
cộng
tác
với
nhau
về
mặt
thiêng
liêng,
mục
vụ
và
cả
trong
những
công
việc
trần
thế.
-
Tương
quan
giữa
linh
mục
và
tín
hữu:
linh
mục
quan
tâm
đến
việc
giúp
đỡ
các
tín
hữu
trong
Giáo
Hội
địa
phương,
nhưng
cũng
không
quên
lo
cho
những
người
còn
ở
ngoài
Giáo
Hội,
và
những
Kitô
hữu
không
còn
sống
đạo.
Ðể
kết
luận,
Công
Ðồng
ước
mong
mọi
linh
mục
phải
nỗ
lực
duy
trì
và
phát
huy
sự
hiệp
nhất
với
nhau
và
với
Giám
Mục,
vì
Phúc
Âm
và
thế
giới
hôm
nay
đòi
hỏi
như
thế.
(Trở
lại
đầu
trang)
74
Const.
Eccl.
Aegyptiacae
III,
2:
x.b.
Funk,
Didascalia
II,
trg
103.
-
Statuta
Eccl.
Ant.
37-41:
Mansi
3,954.
(Trở
lại
đầu
trang)
75
T.
Polycarpô,
Ad
Phil.
5,2:
x.b.
Funk
I,
trg
300:
"Chúa
Kitô
tự
hạ
được
gọi
là
Ðấng
Phó
Tế
mọi
người".
Xem
Didachê
15,1:
n.v.t.,
trg
32.
T.
Inhatiô
Tử
đạo,
Trall.
2,3:
n.v.t.,
trg
242.
Const.
Apostolorum,
8,28,4
:
x.b.
Funk,
Didascalia
I,
trg
530.
(Trở
lại
đầu
trang)
39*
số
29:
Về
Phó
Tế.
Bản
văn
công
phu
được
lặp
lại
hầu
như
hoàn
toàn
trong
kỳ
họp
thứ
III
của
Công
Ðồng,
gồm
hai
phần:
-
Nhiệm
vụ
của
phó
tế:
Công
Ðồng
dè
dặt
khi
nói
đến
bí
tích
tính
của
chức
phó
tế,
vì
còn
một
số
người
phân
vân
chưa
quyết
định,
nên
Công
Ðồng
không
muốn
làm
cản
trở
cho
công
cuộc
tìm
hiểu
thêm.
Ðặc
điểm
của
chức
phó
tế
là
phục
vụ
Giám
Mục
và
linh
mục
đoàn.
Phục
vụ
trong
ba
lãnh
vực:
phụng
vụ,
rao
giảng
lời
Chúa
và
thực
thi
bác
ái.
-
Tái
lập
phó
tế
như
một
chức
thường
xuyên.
Công
Ðồng
chỉ
quả
quyết
là
có
thể
tái
lập
ở
những
nơi
mà
nhu
cầu
mục
vụ
đòi
hỏi.
Việc
tái
lập
như
thế
có
tính
cách
địa
phương
hơn
là
cho
toàn
thế
giới,
và
do
quyết
định
của
hội
đồng
Giám
Mục
địa
phương
với
sự
chấp
thuận
của
Giáo
Hoàng.
Về
luật
độc
thân,
phải
phân
biệt
hai
trường
hợp:
người
đứng
tuổi
có
thể
đã
lập
gia
đình,
còn
các
thanh
niên
phải
giữ
luật
độc
thân.
Bản
phúc
trình
giải
thích
quyết
định
này
như
sau:
lược
đồ
không
chủ
trương
đòi
các
phó
tế
phải
có
gia
đình,
dù
ở
nơi
nào
cũng
vậy,
nhưng
chỉ
muốn
dễ
dãi
đối
với
việc
truyền
chức
phó
tế
cho
người
có
gia
đình
khi
xét
ra
cần
thiết
hay
hữu
ích.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II