VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Chương
II:
Dân
Thiên
Chúa
9*
2.
Giao
Ước
mới
và
Dân
Tộc
mới.
Chắc
chắn
trong
mọi
thời
đại
và
mọi
dân
tộc,
bất
cứ
người
nào
kính
sợ
Thiên
Chúa
và
thực
hành
đức
công
chính
đều
được
Ngài
đoái
thương
(x.
CvTđ
10,35).
Tuy
nhiên,
Thiên
Chúa
không
muốn
thánh
hóa
và
cứu
rỗi
loài
người
cách
riêng
rẽ,
thiếu
liên
kết,
nhưng
Ngài
muốn
qui
tụ
họ
thành
một
dân
tộc
để
họ
nhận
biết
chính
Ngài
trong
chân
lý,
và
phụng
sự
Ngài
trong
thánh
thiện.
Vì
thế,
Ngài
đã
chọn
dân
Israel
là
dân
Ngài,
đã
thiết
lập
với
họ
một
giao
ước,
giáo
huấn
họ
dần
dần
bằng
cách
tỏ
chính
mình
và
ý
định
mình
qua
lịch
sử
dân
ấy,
và
Ngài
đã
thánh
hóa
họ
để
dành
riêng
cho
mình.
Tuy
nhiên,
tất
cả
những
điều
ấy
chỉ
là
chuẩn
bị
và
hình
bóng
của
giao
ước
mới
và
hoàn
hảo,
sẽ
được
ký
kết
trong
Chúa
Kitô,
và
là
chuẩn
bị
cho
mạc
khải
trọn
vẹn
hơn
do
chính
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
nhập
thể
mang
đến.
Thiên
Chúa
phán:
"Này
đây
sẽ
tới
ngày
Ta
ký
giao
ước
mới
với
nhà
Israel
và
nhà
Giuđa...
Ta
sẽ
ban
luật
Ta
trong
lòng
chúng,
và
khắc
ghi
luật
ấy
vào
trái
tim
chúng,
và
Ta
sẽ
là
Thiên
Chúa
của
chúng,
và
chúng
sẽ
trở
thành
dân
Ta...
Tất
cả
mọi
người
từ
nhỏ
chí
lớn
đều
sẽ
nhận
biết
Ta.
Ðó
là
Lời
Chúa
phán"
(Gier
31,31-34).
Chúa
Kitô
đã
thiết
lập
minh
ước
mới
ấy,
đó
là
giao
ước
mới
trong
máu
Người
(x.
1Cor
11,25),
Người
triệu
tập
dân
chúng
từ
dân
Israel
và
từ
các
dân
ngoại,
họp
thành
một
khối
duy
nhất
trong
Thánh
Thần
chứ
không
theo
xác
thịt,
để
làm
họ
nên
dân
tộc
mới
của
Thiên
Chúa.
Thực
vậy,
những
ai
tin
kính
Chúa
Kitô
đều
được
tái
sinh
không
phải
bởi
mầm
mống
hay
hư
nát,
nhưng
do
mầm
mống
bất
diệt
nhờ
lời
Thiên
Chúa
hằng
sống
(x.
1P
1,23),
không
phải
bởi
xác
thịt
nhưng
bởi
nước
và
Thánh
Thần
(x.
Gio
3,5-6),
và
cuối
cùng
trở
thành
một
"dòng
giống
được
tuyển
chọn,
thành
hàng
tư
tế
vương
giả,
dân
tộc
thánh,
dân
tộc
đã
được
Thiên
Chúa
thu
phục,
trước
kia
không
phải
là
một
dân,
mà
nay
là
dân
của
Thiên
Chúa"
(1P
2,9-10).
Dân
thiên
sai
này
có
vị
thủ
lãnh
là
Chúa
Kitô,
"Ðấng
đã
bị
nộp
vì
tội
lỗi
ta
và
phục
sinh
cho
ta
nên
công
chính"
(Rm
4,25),
và
bây
giờ
Người
được
một
danh
hiệu
vượt
trên
mọi
danh
hiệu,
và
đang
hiển
trị
trên
trời.
Ðịa
vị
dân
này
là
được
vinh
dự
và
tự
do
làm
Con
Thiên
Chúa,
và
Thánh
Thần
ngự
trong
tâm
hồn
họ
như
trong
đền
thờ.
Luật
của
họ
là
giới
răn
mới:
phải
thương
yêu
nhau
như
chính
Chúa
Kitô
đã
yêu
thương
chúng
ta
(x.
Gio
13,34).
Sau
cùng,
cứu
cánh
của
họ,
tức
là
phát
triển
thêm
Nước
Thiên
Chúa,
đã
được
Ngài
khai
nguyên
trên
trần
gian,
cho
tới
khi
được
Ngài
hoàn
tất
trong
ngày
tận
thế,
ngày
mà
Chúa
Kitô,
sự
sống
của
chúng
ta,
hiện
đến
(x.
Col
3,4),
ngày
mà
"chính
tạo
vật
cũng
được
giải
phóng
khỏi
ách
nô
lệ
hư
nát,
lại
được
tự
do
trong
vinh
quang
con
cái
Thiên
Chúa"
(Rm
8,21).
Vì
thế,
dân
tộc
thiên
sai
ấy,
tuy
hiện
nay
chưa
bao
gồm
toàn
thể
nhân
loại
và
đôi
khi
tỏ
ra
như
một
đàn
chiên
nhỏ,
nhưng
lại
là
một
mầm
mống
vững
chắc
nhất
của
hiệp
nhất,
hy
vọng
và
cứu
rỗi
cho
toàn
thể
nhân
loại.
Dân
tộc
thiên
sai
ấy
được
Chúa
Kitô
thiết
lập
để
thông
dự
vào
sự
sống,
bác
ái
và
chân
lý,
được
Người
xử
dụng
như
khí
cụ
cứu
rỗi
cho
mọi
người,
và
được
sai
đi
khắp
thế
giới
như
ánh
sáng
trần
gian
và
muối
đất
(x.
Mt
5,13-16).
Cũng
như
dân
Israel
theo
xác
thịt,
khi
đang
lữ
hành
trong
sa
mạc,
đã
được
gọi
là
Giáo
Hội
của
Thiên
Chúa
(x.
2Esd
13,1;
Ds
20,4;
Dnl
23,1tt),
dân
Israel
mới
tiến
bước
trong
thời
đại
này
đang
tìm
về
thành
thánh
tương
lai
bất
diệt
(x.
Dth
13,14)
cũng
được
gọi
là
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
(x.
Mt
16,18).
Thực
vậy,
chính
Người
đã
lấy
máu
mình
mà
chuộc
lấy
Giáo
Hội
đó
(x.
CvTđ
20,28),
Người
đổ
tràn
Thánh
Thần
và
ban
các
phương
thế
thích
hợp
để
kết
hiệp
thành
một
xã
hội
hữu
hình.
Thiên
Chúa
triệu
tập
tất
cả
những
người
tin
kính
và
mong
đợi
Chúa
Kitô,
Ðấng
ban
ơn
cứu
độ
và
hiệp
nhất,
nguyên
lý
của
sự
hòa
bình;
Ngài
thiết
lập
họ
thành
Giáo
Hội
để
Giáo
Hội
trở
nên
bí
tích
hữu
hình
của
sự
hiệp
nhất
cứu
độ
ấy
cho
toàn
thể
và
cho
mỗi
người
1.
Với
bổn
phận
phải
lan
rộng
khắp
thế
giới,
Giáo
Hội
đi
sâu
vào
lịch
sử
nhân
loại.
Tuy
nhiên
Giáo
Hội
đồng
thời
cũng
vượt
thời
gian
và
biên
giới
các
dân
tộc.
Tiến
bước
giữa
cơn
cám
dỗ
và
đau
thương,
Giáo
Hội
vững
mạnh
nhờ
ơn
Thiên
Chúa
mà
Chúa
Giêsu
đã
hứa
ban,
hầu
Giáo
Hội
vẫn
hoàn
toàn
trung
tín,
sống
như
một
Hiền
Thê
xứng
đáng
của
Chúa
mình,
dầu
xác
thịt
yếu
hèn,
và
không
ngừng
tự
đổi
mới
dưới
tác
động
của
Chúa
Thánh
Thần
cho
đến
ngày,
nhờ
thánh
giá,
đạt
đến
ánh
sáng
không
hề
tắt.
10*
10.
Chức
tư
tế
cộng
đồng.
11*
Chúa
Kitô,
Linh
Mục
Thượng
Phẩm
được
chọn
nơi
loài
người
(x.
Dth
5,1-5),
để
biến
dân
tộc
mới
thành
một
"vương
quốc,
thành
những
tư
tế
cho
Thiên
Chúa,
Cha
Người"
(Kh
1,6;
x.
5,9-10).
Thực
vậy,
những
người
đã
lãnh
phép
Thánh
Tẩy,
nhờ
được
tái
sinh
và
xức
dầu
của
Thánh
Thần,
được
cung
hiến
để
trở
thành
chỗ
ở
thiêng
liêng
và
nhận
chức
tư
tế
thánh,
hầu
qua
mọi
hoạt
động
của
con
người
Kitô
hữu,
dâng
của
lễ
thiêng
liêng
và
rao
truyền
những
kỳ
công
của
Ðấng
đã
gọi
họ
từ
bóng
tối
đến
ánh
sáng
kỳ
diệu
của
Ngài
(x.
1P
2,4-10).
Vì
thế,
tất
cả
các
môn
đệ
của
Chúa
Kitô,
trong
khi
kiên
tâm
cầu
nguyện
và
cùng
nhau
ca
tụng
Thiên
Chúa
(x.
CvTđ
2,42-47),
họ
phải
dâng
mình
làm
của
lễ
sống
động,
thánh
thiện,
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
(x.
Rm
12,1),
phải
làm
chứng
về
Chúa
Kitô
trên
khắp
mặt
đất
và
trình
bày
niềm
hy
vọng
về
cuộc
sống
vĩnh
cửu
mà
họ
ôm
ấp
cho
những
ai
đang
khao
khát.
(x.
1P
3,15).
Chức
tư
tế
cộng
đồng
của
các
tín
hữu
và
chức
tư
tế
thừa
tác
hay
phẩm
trật,
tuy
khác
nhau
không
chỉ
về
cấp
bậc
mà
còn
về
bản
chất,
song
cả
hai
bổ
túc
cho
nhau.
Thực
vậy,
cả
hai
đều
tham
dự
vào
chức
linh
mục
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
theo
cách
thức
riêng
của
mình
2.
Tư
tế
thừa
tác,
nhờ
có
quyền
do
chức
thánh,
đào
tạo
và
cai
quản
dân
tộc
tư
tế,
đóng
vai
trò
Chúa
Kitô
cử
hành
hy
tế
tạ
ơn
và
dâng
của
lễ
ấy
lên
Thiên
Chúa
nhân
danh
toàn
thể
dân
chúng.
Phần
tín
hữu,
nhờ
chức
tư
tế
vương
giả,
cộng
tác
dâng
thánh
lễ
3,
và
thi
hành
chức
vụ
đó
trong
việc
lãnh
nhận
các
bí
tích,
khi
cầu
nguyện
và
tạ
ơn,
bằng
đời
sống
chứng
tá
thánh
thiện,
bằng
sự
từ
bỏ
và
bác
ái
tích
cực.
12*
11.
Hành
sử
chức
tư
tế
cộng
đồng
trong
các
bí
tích.
13*
Ðặc
tính
thánh
thiện
và
có
tổ
chức
của
cộng
đoàn
tư
tế
được
thể
hiện
trong
hành
động
nhờ
các
bí
tích
và
các
nhân
đức.
Các
tín
hữu
tháp
nhập
vào
Giáo
Hội
bởi
phép
Thánh
Tẩy,
và
nhờ
ấn
tích,
họ
được
đề
cử
thi
hành
việc
phụng
thờ
Kitô
giáo
và,
được
tái
sinh
làm
con
Thiên
Chúa,
họ
có
bổn
phận
tuyên
xưng
trước
mặt
mọi
người
đức
tin
mà
họ
nhận
lãnh
từ
Thiên
Chúa
qua
Giáo
Hội
4.
Nhờ
ơn
bí
tích
Thêm
Sức,
họ
gắn
bó
với
Giáo
Hội
cách
hoàn
hảo
hơn
và
được
dư
đầy
sức
mạnh
đặc
biệt
của
Chúa
Thánh
Thần,
do
đó
họ
càng
có
bổn
phận
khẩn
thiết
hơn
phải
loan
truyền
và
bảo
vệ
đức
tin
bằng
lời
nói
và
việc
làm
như
những
chứng
nhân
đích
thực
của
Chúa
Kitô
5.
Khi
tham
dự
thánh
lễ,
nguồn
mạch
và
chóp
đỉnh
của
đời
sống
Kitô
giáo,
họ
dâng
lên
Thiên
Chúa
Lễ
Vật
thần
linh
và
cùng
với
Lễ
Vật
ấy
họ
tự
dâng
chính
mình
họ
6.
Khi
dâng
lễ
cũng
như
khi
hiệp
lễ,
không
phải
cách
lộn
xộn,
nhưng
mỗi
người
một
cách
góp
phần
vào
việc
cử
hành
phụng
vụ.
Hơn
nữa,
được
bổ
dưỡng
bởi
Mình
Thánh
Chúa
Kitô
trong
thánh
lễ,
họ
biểu
lộ
cách
cụ
thể
sự
hiệp
nhất
của
Dân
Thiên
Chúa,
sự
hiệp
nhất
ấy
được
diễn
tả
đầy
đủ
và
thực
hiện
cách
kỳ
diệu
trong
bí
tích
cực
trọng
này.
Những
ai
đến
nhận
lãnh
bí
tích
Cáo
Giải
đều
được
Thiên
Chúa
nhân
từ
tha
thứ
những
xúc
phạm
đến
Ngài.
Ðồng
thời
họ
được
giao
hòa
cùng
Giáo
Hội
mà
tội
lỗi
họ
đã
làm
tổn
thương.
Nhưng
Giáo
Hội
hằng
nỗ
lực
lấy
đức
ái,
gương
lành
và
kinh
nguyện,
để
hoán
cải
họ.
Bằng
phép
Xức
Dầu
Thánh
và
lời
cầu
nguyện
của
các
linh
mục,
toàn
thể
Giáo
Hội
phó
thác
các
bệnh
nhân
cho
Chúa
Kitô
đau
khổ
và
hiển
vinh
để
Người
an
ủi
và
cứu
rỗi
họ
(x.
Giac
5,14-16);
hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
thúc
giục
họ
sẵn
sàng
kết
hợp
với
Chúa
Kitô
chịu
đau
khổ
và
chịu
chết
(x.
Rm
8,17;
Col
1,24;
2Tm
2,11-12;
1P
4,13)
để
mưu
ích
cho
Dân
Thiên
Chúa.
Còn
những
người
trong
các
tín
hữu
có
hân
hạnh
lãnh
nhận
chức
Thánh,
được
đặt
lên
nhân
danh
Chúa
Kitô
để
chăn
dắt
Giáo
Hội
bằng
ân
sủng
và
Lời
Thiên
Chúa.
Sau
cùng,
nhờ
sức
thiêng
của
bí
tích
Hôn
Phối,
các
đôi
vợ
chồng
Kitô
giáo
biểu
hiện
và
tham
dự
mầu
nhiệm
hiệp
nhất
và
tình
yêu
phong
phú
giữa
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
(x.
Eph
5,32);
họ
giúp
nhau
nên
thánh
trong
đời
sống
hôn
nhân,
trong
việc
đón
nhận
và
giáo
dục
con
cái;
cũng
vì
đó,
họ
được
những
ơn
riêng
cho
đấng
bậc
mình
trong
Dân
Chúa
7.
Từ
sự
kết
hợp
ấy
phát
sinh
ra
gia
đình,
nơi
các
công
dân
mới
của
xã
hội
loài
người
được
sinh
ra,
và
nhờ
ân
sủng
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
bí
tích
Thánh
Tẩy,
họ
trở
nên
con
cái
Thiên
Chúa,
hầu
Dân
Chúa
tồn
tại
mãi
trong
dòng
lịch
sử.
Trong
gia
đình
như
một
Giáo
Hội
nhỏ,
ước
gì
cha
mẹ
là
những
người
đầu
tiên
dùng
gương
lành
và
lời
nói
mà
truyền
dạy
đức
tin
cho
con
cái,
cũng
như
phải
lo
chăm
sóc
đến
ơn
gọi
riêng
của
từng
đứa
con,
và
phải
đặc
biệt
chăm
sóc
đến
ơn
kêu
gọi
làm
linh
mục.
Ðược
ban
cho
những
phương
tiện
cứu
rỗi
dồi
dào
như
thế,
mọi
Kitô
hữu,
dù
ở
địa
vị
nào,
bậc
sống
nào,
đều
được
Chúa
kêu
gọi
đạt
tới
sự
trọn
lành
thánh
thiện
như
Chúa
Cha
trọn
lành,
tùy
theo
con
đường
của
mỗi
người.
14*
12.
Cảm
thức
của
đức
tin
và
đoàn
sủng
trong
Dân
Thiên
Chúa.
Dân
Thánh
Thiên
Chúa
cũng
tham
dự
vào
chức
vụ
tiên
tri
của
Chúa
Kitô
bằng
cách
phổ
biến
chứng
tá
sống
động
về
Người,
nhất
là
qua
đời
sống
đức
tin
và
đức
ái;
và
dâng
lên
Thiên
Chúa
của
lễ
ca
tụng,
hoa
trái
của
những
miệng
lưỡi
ngợi
khen
thánh
Danh
Người
(x.
Dth
13,15).
Toàn
thể
tín
hữu,
được
Chúa
Thánh
Thần
xức
dầu
(x.
1Gio
2,20
và
27),
không
thể
sai
lầm
trong
đức
tin.
Họ
biểu
lộ
đặc
tính
ấy
nhờ
cảm
thức
siêu
nhiên
về
đức
tin
của
toàn
thể
dân
Chúa,
khi
"từ
các
giám
mục
cho
đến
người
giáo
dân
rốt
hết"
8
đều
đồng
ý
về
những
điều
liên
quan
đến
đức
tin
và
phong
hóa.
Thực
vậy,
nhờ
cảm
thức
về
đức
tin
được
Thánh
Thần
chân
lý
khơi
dậy
và
duy
trì,
dưới
sự
hướng
dẫn
và
giáo
huấn
thần
linh
của
Giáo
Hội
mà
họ
trung
thành
tuân
theo,
Dân
Thiên
Chúa
nhận
lãnh
không
phải
lời
nói
của
loài
người
nữa,
mà
thực
sự
là
lời
của
Thiên
Chúa
(x.
1Th
2,13;
họ
gắn
bó
hoàn
toàn
"với
đức
tin
chỉ
một
lần
được
ban
bố
cho
các
thánh"
(Gđa
3),
họ
tiến
sâu
hơn
trong
đức
tin
nhờ
phán
đoán
đứng
đắn,
và
sống
đức
tin
cách
hoàn
hảo
hơn.
Hơn
nữa,
cũng
chính
Thánh
Thần
ấy,
không
chỉ
thánh
hóa
và
hướng
dẫn
Dân
Thiên
Chúa
bằng
các
bí
tích,
các
chức
vụ,
và
trang
điểm
họ
bằng
các
nhân
đức,
nhưng
Ngài
còn
ban
phát
các
ân
sủng
đặc
biệt
cho
mọi
cấp
bậc
các
tín
hữu
"phân
chia
ân
huệ
cho
mỗi
người
theo
ý
Ngài"
(1Cor
12,11),
khiến
người
lãnh
nhận
các
ân
sủng
ấy
có
đủ
khả
năng
và
sẵn
lòng
đảm
nhận
các
công
việc
và
nhiệm
vụ
khác
nhau
mưu
ích
cho
việc
canh
tân,
xây
dựng
và
phát
triển
Giáo
Hội
như
lời
chép
rằng:
"Thánh
Thần
hiển
hiện
trong
mỗi
người
hầu
mang
lại
lợi
ích"
(1Cor
12,7).
Phải
lãnh
nhận
những
đoàn
sủng
này,
từ
các
ơn
chói
lọi
nhất
đến
các
ơn
thường
mà
nhiều
người
lãnh
được,
với
lòng
tri
ân
và
yên
ủi
vì
các
ơn
đó
mang
ích
lợi
và
phù
hợp
với
nhu
cầu
của
Giáo
Hội.
Nhưng
không
nên
liều
lĩnh
kêu
nài
những
ơn
đặc
biệt,
và
cũng
đừng
vì
đó
mà
tự
đắc
mong
rằng
việc
tông
đồ
sinh
kết
quả.
Những
vị
thủ
lãnh
trong
Giáo
Hội
có
thẩm
quyền
phán
quyết
về
tính
cách
chân
chính
và
sự
xử
dụng
hợp
lý
các
ơn
lạ
ấy;
các
ngài
có
nhiệm
vụ
đặc
biệt
phải
khảo
sát
tất
cả,
không
phải
để
dập
tắt
Thánh
Thần,
nhưng
để
giữ
lại
những
điều
thiện
hảo
(x.
1Th
5,12
và
19-21).
15*
13.
Tính
cách
phổ
quát
nơi
Dân
duy
nhất
của
Thiên
Chúa.
16*
Mọi
người
được
mời
gọi
gia
nhập
Dân
Tộc
mới
của
Thiên
Chúa.
Vì
thế,
Dân
mới
này,
một
dân
duy
nhất
và
hằng
hiệp
nhất,
có
bổn
phận
phải
lan
rộng
khắp
thế
giới
trải
qua
mọi
thế
hệ,
hầu
hoàn
tất
kế
hoạch
của
Thánh
Ý
Thiên
Chúa,
Ðấng
từ
nguyên
thủy
đã
tạo
dựng
một
bản
tính
nhân
loại
duy
nhất,
và
quyết
định
sau
này
tập
họp
tất
cả
con
cái
Ngài
tản
mát
đó
đây
thành
một
dân
tộc
độc
nhất
(x.
Gio
11,52).
Chính
vì
mục
đích
ấy
mà
Thiên
Chúa
đã
sai
Con
Ngài
xuống,
Ðấng
mà
Ngài
đã
đặt
làm
thừa
kế
vũ
trụ
(x.
Dth
1,2),
hầu
trở
nên
Thầy,
Vua
và
Tư
Tế
cho
mọi
người,
và
nên
Thủ
Lãnh
của
dân
tộc
mới
và
phổ
quát
của
con
cái
Thiên
Chúa.
Sau
cùng,
cũng
vì
mục
đích
đó
mà
Thiên
Chúa
đã
sai
Thánh
Thần
của
Con
Ngài,
là
Chúa
và
là
Ðấng
ban
sự
sống.
Ðối
với
toàn
Giáo
Hội,
với
tất
cả
cũng
như
với
mỗi
tín
hữu,
Thánh
Thần
là
nguyên
lý
qui
tụ
và
hiệp
nhất,
trong
giáo
lý
của
các
Tông
Ðồ,
trong
sự
hiệp
thông,
bẻ
bánh
và
kinh
nguyện
(x.
CvTđ
2,42,
bản
Hy
lạp).
Như
thế,
Dân
duy
nhất
của
Thiên
Chúa
hiện
diện
nơi
mọi
dân
nước
trần
gian.
Tuy
dân
của
Nước
Ngài
là
công
dân
của
các
nước,
song
thực
ra,
đặc
tính
của
Nước
ấy
không
thuộc
về
thế
gian
nhưng
thuộc
về
Trời.
Quả
thực,
mọi
tín
hữu
rải
rác
trên
khắp
hoàn
cầu
đều
hiệp
thông
trong
Thánh
Thần
với
tất
cả
các
tín
hữu
khác,
và
vì
thế
"kẻ
ở
Rôma
biết
rằng
người
Ấn
Ðộ
là
chi
thể
mình"
9.
Nhưng
vì
Nước
Chúa
Kitô
không
thuộc
về
thế
gian
này
(x.
Gio
18,36),
nên
Giáo
Hội,
tức
Dân
Thiên
Chúa,
hợp
thành
Nước
ấy,
không
loại
bỏ
bất
cứ
một
phần
di
sản
trần
thế
nào
của
các
dân
tộc;
trái
lại,
Giáo
Hội
chăm
sóc
và
thu
dụng
tất
cả
những
gì
tốt
lành
nơi
gia
sản,
nơi
nguồn
lực
và
phong
hóa
của
các
dân
tộc,
và
khi
thu
dụng,
Giáo
Hội
tinh
luyện,
kiện
toàn
và
làm
chúng
nên
cao
thượng.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
nhớ
rằng
mình
phải
kết
hợp
với
Vua
ấy
là
Ðấng
đã
lãnh
nhận
các
dân
nước
làm
gia
nghiệp
mình
(x.
Tv
2,8),
và
các
dân
nước
mang
đến
Thành
Ðô
Người
của
lễ
và
tặng
vật
(x.
Tv
71
(72),10;
Is
60,4-7;
Kh
21,24).
Ðặc
tính
phổ
quát
này,
tư
trang
của
Dân
Thiên
Chúa,
là
một
ân
huệ
do
chính
Thiên
Chúa
ban,
nhờ
đó
Giáo
Hội
Công
Giáo
luôn
nỗ
lực
cách
hữu
hiệu
qui
tụ
toàn
thể
nhân
loại
cùng
những
gì
tốt
lành
nơi
họ
dưới
một
Thủ
Lãnh
là
Chúa
Kitô,
trong
sự
hiệp
nhất
với
Chúa
Thánh
Thần
10.
Nhờ
đặc
tính
công
giáo
ấy,
mỗi
phần
tử
mang
những
ân
huệ
riêng
của
mình
đến
cho
các
phần
tử
khác
và
cho
toàn
Giáo
Hội,
do
đó
toàn
thể
và
mỗi
phần
tử
tăng
triển
nhờ
hiệp
thông
với
nhau
và
nhờ
nỗ
lực
tiến
đến
viên
mãn
trong
sự
hiệp
nhất.
Vì
thế,
Dân
Thiên
Chúa
tạo
thành
không
những
do
các
dân
nước
qui
tụ
lại
nhưng
còn
do
các
chức
vụ
khác
nhau
trong
nội
bộ
nữa.
Thực
vậy,
giữa
các
phần
tử
trong
dân,
có
nhiều
sự
khác
biệt:
hoặc
do
chức
vụ,
như
những
người
thi
hành
thừa
tác
vụ
thánh
để
mưu
lợi
ích
cho
anh
em
mình,
hoặc
do
hoàn
cảnh
và
nếp
sống,
như
những
người
sống
trong
bậc
tu
trì,
cố
gắng
nên
thánh
bằng
con
đường
khắc
khổ
hơn
và
nêu
gương
khích
lệ
anh
em.
Cũng
vì
thế,
ngay
trong
sự
hiệp
thông
của
Giáo
Hội
cũng
có
sự
hiện
diện
hợp
pháp
của
những
Giáo
Hội
địa
phương,
thừa
hưởng
những
truyền
thống
riêng,
mà
vẫn
không
phương
hại
đến
quyền
tối
thượng
của
Tòa
Thánh
Phêrô,
Tòa
Thánh
này,
thủ
lãnh
toàn
thể
cộng
đoàn
đức
ái
11,
bảo
vệ
các
dị
biệt
hợp
pháp
không
phương
hại,
trái
lại
còn
sinh
ích
cho
sự
hiệp
nhất
đó.
Cũng
vì
thế
các
thành
phần
khác
nhau
của
Giáo
Hội
liên
kết
với
nhau
bằng
mối
dây
hiệp
thông
mật
thiết
về
của
cải
thiêng
liêng,
về
thợ
truyền
giáo
và
về
sự
trợ
giúp
vật
chất.
Quả
thực,
mọi
phần
tử
Dân
Thiên
Chúa
được
kêu
gọi
chia
sẻ
của
cải
mình
và
lời
nói
sau
đây
của
vị
Tông
Ðồ
cũng
có
giá
trị
cho
mọi
Giáo
Hội:
"Mỗi
người
hãy
tùy
theo
ơn
đã
nhận
được
mà
giúp
đỡ
lẫn
nhau,
như
những
quản
lý
tài
ba
phân
phối
mọi
thứ
ơn
của
Thiên
Chúa"
(1P
4,10).
Vì
thế
mọi
người
đều
được
mời
gọi
vào
sự
hiệp
nhất
công
giáo
này
của
Dân
Thiên
Chúa,
sự
hiệp
nhất
ấy
tiên
báo
và
cổ
võ
nền
hòa
bình
phổ
quát.
Họ
thuộc
về
hoặc
hướng
về
sự
hiệp
nhất
đó
dưới
nhiều
thể
cách
khác
nhau,
được
sắp
xếp
hoặc
họ
là
tín
hữu
công
giáo
hay
là
những
người
tin
Chúa
Kitô,
hoặc
sau
cùng
tất
cả
mọi
người
không
trừ
ai
đều
được
ơn
Thiên
Chúa
kêu
mời
lãnh
nhận
phần
rỗi.
17*
14.
Tín
hữu
công
giáo.
18*
Vậy
trước
tiên,
Thánh
Công
Ðồng
hướng
lòng
về
các
tín
hữu
công
giáo.
Dựa
trên
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền,
Thánh
Công
Ðồng
dạy
rằng:
Giáo
Hội
lữ
hành
này
cần
thiết
cho
phần
rỗi.
Thực
vậy,
chỉ
mình
Chúa
Kitô
là
Trung
Gian
và
là
đường
cứu
độ,
Người
hiện
diện
giữa
chúng
ta
trong
thân
thể
Người
là
Giáo
Hội;
chính
Người
đã
minh
nhiên
công
bố
sự
cần
thiết
của
đức
tin
và
của
phép
Thánh
Tẩy
(x.
Mc
16,16;
Gio
3,5),
đồng
thời
Người
đã
xác
nhận
sự
cần
thiết
của
Giáo
Hội
mà
mọi
người
phải
bước
vào
qua
cửa
phép
Thánh
Tẩy.
Vì
thế,
những
ai
biết
rằng
Giáo
Hội
Công
Giáo
được
Thiên
Chúa
thiết
lập
nhờ
Chúa
Giêsu
Kitô,
như
phương
tiện
cứu
rỗi
cần
thiết,
mà
vẫn
không
muốn
gia
nhập
hoặc
không
muốn
kiên
trì
sống
trong
Giáo
Hội
này
thì
không
thể
được
cứu
rỗi.
Ðược
kể
là
gia
nhập
hoàn
toàn
vào
cộng
đoàn
Giáo
Hội,
những
ai
lãnh
nhận
Thánh
Thần
Chúa
Kitô,
chấp
nhận
trọn
vẹn
tổ
chức
và
các
phương
tiện
cứu
rỗi
được
thiết
lập
trong
Giáo
Hội;
và
nhờ
các
mối
liên
lạc
do
việc
tuyên
xưng
đức
tin,
các
bí
tích,
việc
cai
trị
của
Giáo
Hội
và
sự
hiệp
thông,
họ
liên
kết
với
Chúa
Kitô
trong
tổ
chức
hữu
hình
mà
Người
điều
khiển
nhờ
Giáo
Hoàng
và
các
Giám
Mục.
Dù
được
tháp
nhập
vào
Giáo
Hội,
nhưng
nếu
không
kiên
trì
sống
trong
đức
ái
thì
vẫn
không
được
cứu
rỗi,
vì
tuy
"thể
xác"
họ
thuộc
về
Giáo
Hội,
nhưng
"tâm
hồn"
họ
không
ở
trong
Giáo
Hội
12.
Nhưng
các
con
cái
của
Giáo
Hội
phải
nhớ
rằng,
địa
vị
cao
trọng
của
họ
không
phải
do
công
đức
riêng
mình,
nhưng
do
đặc
ân
của
Chúa
Kitô;
nếu
họ
không
đáp
lại
hồng
ân
ấy
bằng
tư
tưởng,
lời
nói
và
việc
làm,
thì
không
những
họ
không
được
cứu
rỗi
mà
còn
bị
xét
xử
nghiêm
khắc
hơn
13.
Phần
những
người
dự
tòng,
nhờ
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
nếu
minh
nhiên
xin
gia
nhập
Giáo
Hội,
thì
do
chính
ước
muốn
ấy,
họ
đã
được
kết
hợp
cùng
Giáo
Hội
rồi;
và
Giáo
Hội
là
Mẹ
hiền
yêu
thương
săn
sóc
họ
như
con
cái
mình.
19*
15.
Giáo
hội
và
Kitô
hữu
không
công
giáo.
Với
những
kẻ
đã
lãnh
phép
Thánh
Tẩy,
mang
danh
hiệu
Kitô
hữu,
nhưng
không
tuyên
xưng
đức
tin
trọn
vẹn,
hoặc
không
hiệp
thông
với
đấng
kế
vị
Thánh
Phêrô,
Giáo
Hội
vẫn
biết
mình
có
liên
hệ
với
họ
vì
nhiều
lý
do
14.
Thực
vậy,
có
nhiều
người
cung
kính
lấy
Thánh
Kinh
làm
mẫu
mực
cho
lòng
tin
và
đời
sống,
giữ
đạo
cách
nhiệt
thành,
thành
thực,
hết
lòng
tin
kính
Chúa
Cha
toàn
năng,
và
Chúa
Kitô,
Ðấng
Cứu
Thế,
Con
Thiên
Chúa
15.
Ðược
bí
tích
Thánh
Tẩy
ghi
ấn,
họ
kết
hợp
với
Chúa
Kitô,
họ
còn
công
nhận
và
lãnh
một
số
bí
tích
khác
trong
Giáo
Hội,
hoặc
trong
các
cộng
đồng
Giáo
Hội
của
họ.
Nhiều
người
trong
họ
còn
có
chức
giám
mục,
họ
vẫn
cử
hành
bí
tích
Thánh
Thể
và
tôn
kính
Ðức
Trinh
Nữ
Mẹ
Thiên
Chúa
16.
Họ
cũng
hiệp
thông
trong
lời
cầu
nguyện
và
các
việc
lành
thiêng
liêng
khác;
hơn
nữa,
họ
thực
sự
kết
hợp
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
cũng
dùng
ân
huệ
và
thánh
sủng
tác
động
trong
họ
nhờ
thần
lực
thánh
hóa
của
Ngài,
và
đã
củng
cố
một
số
người
trong
họ
đi
đến
chỗ
đổ
máu
tử
đạo.
Vì
thế,
Thánh
Thần
thúc
giục
hết
thảy
các
môn
đệ
Chúa
Kitô
ước
muốn
và
hành
động
để
tất
cả
được
an
bình
hiệp
nhất
trong
một
đàn
chiên
dưới
quyền
một
Chủ
Chăn
duy
nhất
17,
theo
cách
thức
Chúa
Kitô
đã
vạch
ra.
Ðể
được
vậy,
Giáo
Hội,
Mẹ
hiền
không
ngừng
cầu
nguyện,
hy
vọng
và
hành
động,
cũng
như
khuyên
giục
con
cái
thanh
tẩy
và
canh
tân,
để
ấn
dấu
của
Chúa
Kitô
chiếu
sáng
rạng
ngời
hơn
trên
khuôn
mặt
Giáo
Hội.
20*
16.
Giáo
hội
và
những
người
không
thuộc
Kitô
giáo.
Sau
cùng,
những
ai
chưa
lãnh
nhận
Phúc
Âm
cũng
được
an
bài
bằng
nhiều
cách
để
thuộc
về
Dân
Thiên
Chúa
18.
Trước
tiên
phải
kể
dân
tộc
đã
lãnh
nhận
lời
hứa
và
giao
ước,
mà
bởi
dân
ấy,
Chúa
Kitô
đã
sinh
ra
theo
thể
xác
(x.
Rm
9,4-5).
Họ
là
dân
rất
được
yêu
quí,
bởi
đã
được
tuyển
chọn
vì
cha
ông
họ:
Thiên
Chúa
không
ân
hận
gì
vì
đã
ban
ơn
và
kêu
gọi
họ
(x.
Rm
11,28-29).
Nhưng
kế
hoạch
cứu
độ
cũng
còn
bao
hàm
những
ai
nhận
biết
Ðấng
Tạo
Hóa:
trước
tiên
phải
kể
đến
người
Hồi
Giáo;
họ
xưng
rằng
họ
giữ
đức
tin
của
Abraham;
cùng
với
chúng
ta,
họ
thờ
phượng
Thiên
Chúa
duy
nhất,
nhân
từ,
Ðấng
sẽ
phán
xét
loài
người
trong
ngày
sau
hết.
Những
kẻ
đang
tìm
kiếm
Thiên
Chúa
trong
bóng
tối
và
qua
ngẫu
tượng,
Thiên
Chúa
mà
họ
không
biết,
cả
những
kẻ
ấy,
Ngài
cũng
không
xa
họ,
bởi
vì
chính
Ngài
ban
cho
mọi
người
sự
sống,
hơi
thở
và
tất
cả
mọi
sự
(x.
CvTđ
17,25-28),
và
vì
là
Ðấng
Cứu
Thế,
Ngài
muốn
mọi
người
đều
được
cứu
rỗi
(x.
1Tm
2,4).
Thực
thế,
những
kẻ
vô
tình
không
nhận
biết
Phúc
Âm
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
Người,
nhưng
nếu
thành
tâm
tìm
kiếm
Thiên
Chúa,
và
dưới
tác
động
của
ơn
thánh,
họ
cố
gắng
chu
toàn
Thánh
Ý
Thiên
Chúa
trong
công
việc
mình
theo
sự
hướng
dẫn
của
lương
tâm,
thì
họ
có
thể
được
cứu
rỗi
19.
Cả
những
kẻ
vô
tình
chưa
nhận
biết
Thiên
Chúa
cách
rõ
ràng,
nhưng
nhờ
ơn
Chúa,
cố
gắng
sống
đời
chính
trực,
thì
Chúa
Quan
Phòng
không
từ
chối
ban
ơn
trợ
lực
cần
thiết
để
họ
được
cứu
rỗi.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
xem
tất
cả
những
gì
là
chân
thiện
nơi
họ
như
để
chuẩn
bị
họ
lãnh
nhận
Phúc
Âm
20,
và
như
một
ân
huệ
mà
Ðấng
soi
sáng
mọi
người
ban
cho
hầu
cuối
cùng
họ
được
sống.
Nhưng
thường
con
người
bị
ma
quỉ
gạt
gẫm
làm
sai
lạc
phán
đoán
của
mình
khiến
họ
đánh
đổi
chân
lý
Thiên
Chúa
lấy
sự
giả
dối,
khiến
họ
phụng
sự
tạo
vật
hơn
là
phụng
sự
Ðấng
Tạo
Hóa
(x.
Rm
1,21
và
25);
hoặc
vì
họ
sống
chết
như
không
có
Thiên
Chúa
trên
đời
này,
nên
liều
mình
rơi
vào
sự
thất
vọng
tột
độ.
Vì
hằng
quan
tâm
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa,
và
cứu
rỗi
tất
cả
những
người
ấy
và
hằng
nhớ
lời
Chúa
truyền:
"Hãy
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật"
(Mc
16,15),
nên
Giáo
Hội
tận
tâm
lo
lắng
và
cổ
võ
việc
truyền
giáo.
21*
17.
Tính
cách
truyền
giáo
của
Giáo
Hội.
Như
Chúa
Cha
sai
Người
thế
nào,
Chúa
Con
cũng
sai
các
Tông
Ðồ
như
vậy
(x.
Gio
20,21)
khi
Người
phán:
"Vậy
các
con
hãy
đi
dạy
dỗ
muôn
dân,
thanh
tẩy
họ
nhân
danh
Cha
và
Con
và
Thánh
Thần,
hãy
dạy
dỗ
họ
vâng
giữ
mọi
điều
Thầy
đã
truyền
cho
các
con.
Và
đây
Thầy
sẽ
ở
cùng
các
con
mọi
ngày
cho
đến
tận
thế"
(Mt
28,19-20).
Lệnh
ấy,
lệnh
mà
Chúa
Kitô
long
trọng
truyền
rao
giảng
chân
lý
cứu
rỗi,
Giáo
Hội
đã
nhận
lãnh
từ
các
Tông
Ðồ
để
chu
toàn
khắp
cõi
đất
(x.
CvTđ
1,8).
Vì
thế,
Giáo
Hội
xem
lời
sau
đây
của
Thánh
Tông
Ðồ
như
lời
của
mình:
"Khốn
thân
tôi
nếu
tôi
không
rao
giảng
Phúc
Âm"
(1Cor
9,16),
và
vì
thế
Giáo
Hội
không
ngừng
gửi
sứ
giả
Phúc
Âm
cho
đến
khi
các
Giáo
Hội
trẻ
được
trưởng
thành
hoàn
toàn
và
tự
mình
tiếp
tục
việc
rao
giảng
Phúc
Âm.
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy
Giáo
Hội
cộng
tác
với
Ngài
để
hoàn
tất
trọn
vẹn
kế
hoạch
của
Thiên
Chúa
là
Ðấng
đã
đặt
Chúa
Kitô
làm
nguyên
lý
cứu
độ
cho
cả
thế
giới.
Bằng
việc
rao
giảng
Phúc
Âm,
Giáo
Hội
sửa
soạn
cho
người
nghe
đón
nhận
và
tuyên
xưng
đức
tin,
và
chuẩn
bị
cho
họ
lãnh
phép
Thánh
Tẩy,
đưa
họ
ra
khỏi
cảnh
nô
lệ
của
sự
lầm
lạc,
tháp
nhập
họ
vào
thân
thể
Chúa
Kitô,
hầu
nhờ
đức
ái,
họ
tăng
triển
mãi
trong
Người
cho
đến
khi
đạt
tới
viên
mãn.
Thực
ra,
những
gì
thiện
hảo
trong
tâm
hồn
và
tư
tưởng
của
loài
người,
hoặc
trong
nghi
lễ
và
văn
hóa
riêng
của
các
dân
tộc,
hoạt
động
của
Giáo
Hội
không
nhằm
tiêu
diệt
chúng,
nhưng
lành
mạnh
hóa,
nâng
cao
và
hoàn
thành
chúng,
hầu
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa,
đánh
bại
ma
quỉ
và
mưu
cầu
hạnh
phúc
cho
con
người.
Mỗi
môn
đệ
Chúa
Kitô
đều
có
bổn
phận
góp
phần
truyền
bá
đức
tin
21.
Tuy
bất
cứ
ai
cũng
có
thể
ban
phép
Thánh
Tẩy
cho
những
kẻ
tin,
nhưng
chỉ
có
linh
mục
mới
hoàn
tất,
xây
dựng
Nhiệm
Thể
bằng
hy
lễ
tạ
ơn,
làm
trọn
lời
Thiên
Chúa
đã
phán
qua
miệng
tiên
tri:
"Từ
đông
sang
tây,
Danh
Ta
sẽ
được
lừng
lẫy
khắp
muôn
dân;
khắp
nơi
đều
sát
tế
và
dâng
lễ
vật
thanh
sạch
kính
Danh
Ta"
(Mal
1,11)
22.
Như
thế
Giáo
Hội
vừa
cầu
nguyện
vừa
hoạt
động
để
toàn
thể
vũ
trụ
biến
thành
Dân
Thiên
Chúa,
Thân
Thể
Chúa
Kitô
và
Ðền
Thờ
Chúa
Thánh
Thần,
và
trong
Chúa
Kitô
là
thủ
lãnh
muôn
loài,
mọi
danh
dự
và
vinh
quang
được
dâng
lên
Chúa
Cha
Ðấng
Tạo
Thành
vũ
trụ.
22*
Chú
Thích:
9*
Chương
nhất
của
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
bàn
về
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
đặc
biệt
trong
chiều
hướng
ngoài
thời
gian.
Chương
hai
trình
bày
hình
ảnh
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
cụ
thể
của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
chiều
hướng
lịch
sử:
sự
xuất
hiện,
bản
tính
là
Dân
Thiên
Chúa
đang
trong
cuộc
hành
trình,
sự
bành
trướng
của
Giáo
Hội
trong
không
gian
và
thời
gian.
Lịch
sử
tính
phổ
quát
của
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
-
như
số
8
đã
khai
mào
-
có
thể
diễn
tả
một
cách
tổng
hợp
như
sau:
Giáo
Hội
là
Dân
Thiên
Chúa
trên
đường
lữ
hành
qua
lịch
sử
thánh,
bắt
đầu
từ
lúc
Israel
được
Chúa
gọi
đi
tới
Giáo
Hội
với
những
chiều
hướng
phổ
quát
của
cuộc
hoàn
tất
trong
sự
hiệp
thông
với
Chúa
Ba
Ngôi.
Công
Ðồng
đã
lưu
tâm
xây
dựng
khoa
Giáo
Hội
học
dựa
trên
lịch
sử
cứu
rỗi,
như
thế
là
trở
về
với
dự
kiến
nền
tảng
của
khoa
Giáo
Hội
học
thời
Giáo
Hội
sơ
khai
mà
khoa
thần
học
thời
Trung
Cổ
(ít
quan
tâm
đến
lịch
sử),
thời
chống
phái
Cải
Cách
(nhấn
mạnh
đặc
biệt
tới
khía
cạnh
phẩm
trật),
thuộc
thế
kỷ
thứ
XIX
và
đầu
thế
kỷ
XX
(khám
phá
ra
đặc
tính
huyền
thiêng
của
Giáo
Hội
và
khai
triển
ý
niệm
tĩnh
về
Nhiệm
Thể)
đã
bỏ
qua.
Dự
kiện
nền
tảng
ấy
như
sau:
chỉ
mình
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
là
sự
hoàn
tất
hợp
pháp
của
dân
tộc
mang
lời
hứa
Cựu
Ước;
công
đoàn
con
người
là
Giáo
Hội
(với
những
nhiệm
vụ,
vai
trò
và
trách
nhiệm
khác
nhau)
mặc
hình
thức
một
dân
tộc
được
triệu
tập
và
liên
kết
bởi
một
Tân
Ước
tiếp
nối
cho
Cựu
Ước.
Triệu
tập
là
tiếp
tục
lời
mời
đối
với
Israel
trước
đây,
nhưng
không
còn
dành
riêng
cho
một
chủng
tộc
nào
nữa:
từ
nay
trong
Tân
Ước,
lời
mời
gọi
của
Thiên
Chúa
qua
Máu
Chúa
Kitô
sẽ
đến
với
mọi
người.
Như
thế
Giáo
Hội
được
coi
như
Dân
Thiên
Chúa
đang
tiến
tới
viên
mãn
dưới
Thần
Khí
Chúa
Kitô.
Dự
kiện
ấy
là
nền
tảng
cho
tất
cả
những
khai
triển
của
Hiến
Chế.
Ðể
có
thể
cân
nhắc
chính
xác
vai
trò
của
các
hạng
người
trong
Giáo
Hội
(phổ
quát
tính
của
Dân
Chúa),
cần
phải
định
vị
các
nhóm
này
(giáo
phẩm,
giáo
dân,
tu
sĩ)
trong
toàn
thể
Dân
Chúa:
"Dân
Chúa
nơi
đây
phải
hiểu
là
cả
mục
tử
lẫn
con
chiên...
Phải
nhìn
Dân
Chúa
trong
toàn
diện;
có
vậy
mới
thấy
rõ
trách
vụ
của
mục
tử
là
cung
ứng
cho
con
chiên
những
phương
thế
cứu
rỗi,
và
ơn
gọi
của
con
chiên
là
phải
cộng
tác
với
mục
tử
để
truyền
bá
Phúc
Âm
và
mở
mang
Giáo
Hội"
(Rel.
Gen.).
Trước
khi
đề
cập
chi
tiết
đến
những
hạng
người
khác
nhau,
cần
phải
mô
tả
cộng
đoàn
và
cho
biết
yếu
tố
chung
của
mỗi
người,
tức
là:
phải
thuộc
về
Dân
Thiên
Chúa
như
là
nơi
tập
hợp
các
tín
hữu.
Ý
niệm
về
Dân
Thiên
Chúa
giữ
một
vị
trí
then
chốt
trong
toàn
thể
Hiến
Chế
và
nói
lên
hai
điểm:
a)
Sự
liên
tục
lịch
sử
của
kế
hoạch
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa
thực
hiện
trong
mầu
nhiệm
Giáo
Hội,
như
là
dân
mới
của
Tân
Ước
với
đặc
tính
đón
nhận
mọi
người;
b)
Cộng
đoàn
sống
trong
đức
tin
của
tất
cả
những
nhóm
và
những
hạng
người
tạo
thành
Dân
Thiên
Chúa.
Chương
này
có
kết
cấu
đơn
giản.
Sau
phần
nhập
đề
về
Dân
Thiên
Chúa
cách
tổng
quát
(số
9),
phần
nhất
mô
tả
địa
vị
chung
và
đồng
nhất
cho
mọi
Kitô
hữu
được
Chúa
chọn
để
tham
dự
vào
Dân
Ngài:
Dân
Thiên
Chúa
là
dân
tư
tế
(các
số
10-12).
Phần
hai
bàn
về
ơn
gọi
phổ
quát
-
công
giáo
tính
-
của
Dân
Chúa,
ý
định
được
cụ
thể
hóa
trong
lịch
sử
Dân
Ngài.
Công
Ðồng
cố
gắng
bày
tỏ
sao
cho
những
hạng
người
khác
nhau
nói
lên
mối
tương
quan
với
Dân
Thiên
Chúa,
là
sự
phô
diễn
lịch
sử
của
mầu
nhiệm
cứu
độ
phổ
quát
(các
số
13-16).
Phần
kết
luận
của
chương
này
nói
về
Chúa
Thánh
Thần
là
Ðấng
xướng
xuất
ra
phổ
quát
tính
ấy
mà
những
sứ
mệnh
của
Ngài
là
biểu
tượng
sống
động.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
T.
Cyprianô,
Epist.
69,
6 :
PL
3,
1142
B ;
Hartel
3
B,
trg
754:
"bí
tích
hiệp
nhất
bất
khả
phân
ly".
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Số
9:
Giao
ước
mới
và
dân
tộc
mới.
Thần
học
về
Dân
Thiên
Chúa
được
trình
bày
qua
ba
giai
đoạn:
a)
Ý
định
hữu
hiệu
của
Thiên
Chúa
muốn
cứu
vớt
nhân
loại
qua
việc
Chúa
làm
cho
nhân
loại
trở
thành
một
dân
tộc
mà
Israel
cũ
là
hình
bóng
chuẩn
bị
trước.
Dân
tộc
mới
của
Chúa
kế
nghiệp
dân
tộc
cũ
và
cũng
dành
cho
mình
những
tước
hiệu
của
dân
tộc
cũ
(số
9a).
b)
Những
chiều
hướng
của
dân
tộc
mới:
có
thủ
lãnh
là
Chúa
Kitô,
có
qui
chế
là
chức
vị
và
sự
tự
do
của
các
con
cái
Chúa,
có
luật
pháp
là
giới
răn
mới,
có
không
gian
là
phổ
quát
tính,
có
cùng
đích
là
Nước
Trời.
Nó
vượt
quá
biên
cương
một
quốc
gia
để
tiến
tới
mọi
quốc
gia
(số
9b).
c)
Dân
tộc
mới
này
là
Giáo
Hội
Chúa
Kitô.
Vì
chính
trong
dân
ấy
mà
ý
định
cứu
rỗi
đạt
được
mục
đích
là
qui
tụ
các
con
cái
tản
mát
của
Thiên
Chúa
về
hiệp
nhất.
Nhờ
các
con
cái
ấy
mà
Dân
Thiên
Chúa
tạo
thành
Giáo
Hội
để
Giáo
Hội
trở
nên
bí
tích
hữu
hình
của
một
ơn
cứu
rỗi.
Giáo
Hội
là
Dân
Thiên
Chúa
luôn
tiến
tới
viên
mãn
là
Nước
Trời.
Bén
rễ
trong
lịch
sử,
thiết
lập
trên
trái
đất
và
giữa
trần
gian,
Giáo
Hội
đang
trên
đường
đi
về
Giêrusalem
thiên
quốc
(số
9c;
x.
số
5
và
chương
VIII).
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Các
số
11-12:
Dân
tư
tế.
Dân
tộc
này
là
một
dân
"tư
tế".
Công
Ðồng
giải
thích
vắn
tắt
bản
tính
của
chức
tư
tế
(số
10)
và
việc
thi
hành
chức
vụ
ấy
(các
số
11-12).
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
Magnificate
Dominum,
2-11-1954
:
AAS
46
(1954),
trg
669.
Tđ.
Mediator
Dei,
20-11-1947
:
AAS
39
(1947),
trg
555.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Miserentissimus
Redemptor,
8-5-1928
:
AAS
20
(1928),
trg
171t.
Piô
XII,
Huấn
từ
"Vous
nous
avez",
22-9-1956
:
AAS
48
(1956),
trg
714.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Số
10:
Bản
tính
của
chức
tư
tế
cộng
đồng.
Công
Ðồng
đi
theo
đường
lối
truyền
thống
khi
quả
quyết
là
người
đã
chịu
phép
Thánh
Tẩy
đều
được
thánh
hiến
để
lãnh
nhận
chức
tư
tế
thánh.
Quả
thực,
Dân
Thiên
Chúa
tham
dự
vào
chức
vụ
tư
tế
của
Chúa
Kitô
vì
là
dân
tộc
được
thừa
hưởng
những
đặc
ân
của
dân
tư
tế
mà
Thiên
Chúa
đã
tuyển
chọn
và
dành
riêng
cho
Ngài
trên
núi
Sinai.
Chúa
Kitô
đã
được
thánh
hiến
để
trở
thành
vị
Tư
Tế
(tức
là
vị
Trung
Gian
của
Tân
Ước),
nhờ
Ngôi
Hiệp.
Chức
vụ
tư
tế
ấy
được
Dân
Thiên
Chúa
tham
dự,
trở
thành
chung
cho
mọi
tín
hữu
nhờ
phép
Thánh
Tẩy.
Công
Ðồng
gọi
là
"chức
tư
tế
cộng
đồng".
Chúa
Kitô
biến
dân
này
thành
một
cộng
đoàn
được
thánh
hiến.
Người
theo
đuổi
sứ
mệnh
của
Người
trong
mỗi
tín
hữu,
mỗi
phần
tử
của
Dân
Thiên
Chúa.
Ai
chịu
phép
Thánh
Tẩy
để
vào
Giáo
Hội,
thì
cũng
đều
nhận
được
sự
thánh
hiến
tư
tế
này,
nghĩa
là,
Chúa
Kitô
cho
người
đó
tham
dự
vào
chức
tư
tế,
và
sứ
mệnh
tiên
tri
và
vào
chức
vụ
vương
giả
của
Người
(sô
10a).
Nhưng
phải
phân
biệt
chức
tư
tế
cộng
đồng
này
với
chức
tư
tế
thừa
tác
được
trao
phó
cho
một
số
người
đã
chịu
phép
Thánh
Tẩy.
Chức
tư
tế
thừa
tác
bao
gồm
quyền
hành
trên
Dân
Thiên
Chúa.
Cả
hai
chức
tư
tế
đều
tham
dự
vào
chức
tư
tế
duy
nhất
của
Chúa
Kitô,
và
có
liên
quan
với
nhau:
chức
tư
tế
cộng
đồng
hoàn
tất
nhờ
chức
tư
tế
thừa
tác
và
chức
tư
tế
thừa
tác
dựa
trên
chức
tư
tế
cộng
đồng
(số
10b).
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Các
số
11-12:
Việc
thi
hành
chức
tư
tế
cộng
đồng.
Việc
thi
hành
bao
gồm
hai
nhiệm
vụ
riêng
cho
Dân
Chúa:
tham
dự
vào
các
bí
tích
và
chứng
tá
cho
đức
tin.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.63,
a.2.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T.
Cyrillô
Hieros.,
Catech.
17,
về
Chúa
Thánh
Thần,
II,
35-37
:
PG
33,
1009-1012.
Nic.
Cabasilas,
De
vita
in
Christo,
C.
III,
về
lợi
ích
của
dầu
thánh:
PG
150,
569-580.
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.
95,
a.3
và
q.
72,
a.1
và
5.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Mediator
Dei,
20-11-1947
:
AAS
39
(1947),
nhất
là
trg
552
t.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
1Cor
7,7:
"Mỗi
người
Chúa
ban
cho
ơn
riêng
(idion
charisma),
người
được
ơn
này,
người
được
ơn
kia".
Xem
T.
Augustinô,
De
Dono
Persev.
14,
37
:
PL
45,
1015t:
"Không
những
tiết
dục,
nhưng
cả
khiết
tịnh
của
đôi
bạn
cũng
là
ơn
Chúa
ban".
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Số
11:
Tham
dự
vào
các
bí
tích.
Chức
tư
tế
cộng
đồng
biểu
thị
tính
chât
một
cộng
đoàn
có
tổ
chức
hệ
thống
nên
phải
được
thi
hành
bằng
những
phương
tiện
có
hệ
thống
và
hữu
hình.
Bí
tích
chiếm
hàng
đầu,
nhưng
cũng
đừng
bỏ
qua
những
nhân
đức
Kitô
giáo
do
các
bí
tích
truyền
thông
và
thăng
tiến
nhờ
chính
những
hoạt
động
của
chúng.
Ðoạn
này
nhắc
cho
chúng
ta
ý
niệm
thần
học
cổ
điển
đã
nói
trong
Thông
điệp
"Mediator
Dei":
việc
tham
dự
vào
các
bí
tích
(không
phải
chỉ
tiếp
nhận
thụ
động,
nhưng
phải
tiếp
nhận
trong
sự
thấu
suốt
bằng
đức
tin)
là
sự
thi
hành
chức
tư
tế
ấy.
Thực
ra,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
tới
hiệu
quả
mà
bí
tích
mang
lại
cho
đời
sống
Kitô
hữu
hơn
là
tới
chính
việc
tham
dự
vào
quyền
tư
tế
của
Chúa
Kitô.
Thần
học
sẽ
còn
phải
đào
sâu
về
quyền
tư
tế,
một
thứ
quyền
chủ
động,
trên
bình
diện
toàn
thể
Dân
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
T.
Augustinô,
De
Praed.
Sanct.
14,27
:
PL
44,
980.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Số
12:
chứng
tá
cho
đức
tin.
Hiến
chế
coi
việc
tuyên
xưng
đức
tin
Kitô
giáo
liên
quan
tới
chức
vụ
tư
tế
cộng
đồng
và
đặc
tính
vô
ngộ
của
đức
tin
nơi
toàn
thể
Dân
Thiên
Chúa
là
do
Chúa
Thánh
Thần
linh
ứng.
Ðức
tin
này
không
chỉ
là
việc
tuân
theo
các
lời
giáo
huấn
của
Giáo
Hội,
các
công
thức
Giáo
Hội
đề
ra,
nhưng
còn
diễn
tả
một
"ý
thức"
sâu
thẳm
do
Chúa
Thánh
Thần
ghi
tạc
trong
Dân
Chúa,
ý
thức
ấy
giúp
phân
biệt
chân
lý,
vững
tâm
chấp
nhận
chân
lý
mà
không
sợ
sai
lầm.
Những
chân
lý
ấy
được
Công
Ðồng
quảng
diễn
theo
ba
cách:
a)
Trước
hết
mối
dây
liên
lạc
giữa
chức
tư
tế
cộng
đồng
với
sứ
mệnh
tiên
tri
của
Chúa
Kitô,
sứ
mệnh
mà
Dân
Chúa
tham
dự
và
cũng
nhờ
đó
mới
có
thể
minh
chứng
đức
tin.
b)
Ý
thức
đức
tin
có
ảnh
hưởng
trong
cộng
đoàn
nhờ
việc
Chúa
Thánh
Thần
xức
dầu,
và
như
vậy
chính
tín
hữu,
được
soi
sáng
trong
tâm
hồn,
sẽ
phân
biệt
giáo
lý
chân
chính
với
tà
thuyết.
c)
Trong
ý
thức
đức
tin,
người
ta
có
thể
nhận
ra
một
đoàn
sủng
được
trao
ban
cho
toàn
thể
cộng
đoàn,
và
biểu
lộ
bằng
những
ân
sủng
đặc
biệt
do
Chúa
Thánh
Thần
tự
do
ban
phát
vì
lợi
ích
cộng
đoàn.
Các
đoàn
sủng
bày
tỏ
quyền
năng
hoạt
động
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
Dân
Chúa.
Tuy
nhiên,
các
thủ
lãnh
của
Giáo
Hội
phải
cho
biết
giá
trị
chính
thực
của
những
ân
sủng
đặc
biệt
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Các
số
13-16:
Công
giáo
tính
của
một
Dân
Thiên
Chúa.
Từ
số
13,
Công
Ðồng
bắt
đầu
một
khai
triển
mới,
nhấn
mạnh
tới
điều
cốt
yếu
của
hiệp
nhất
công
giáo,
nghĩa
là
tới
sự
hiệp
nhất
của
Giáo
Hội
đang
lan
rộng
khắp
cả
thế
giới.
Ðể
quả
quyết
cho
đặc
điểm
công
giáo
tính
này,
Công
Ðồng
chú
trọng
đến
ý
định
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa
(1Tm
2,3).
Có
hai
hiệu
quả
là,
một
đàng
Giáo
Hội
tự
mình
phải
lan
rộng
đến
mọi
dân
tộc;
đàng
khác,
mọi
người
có
thiện
chí,
dù
sống
trong
tình
trạng
nào
đi
nữa,
thì
cũng
hoặc
thuộc
về
Giáo
Hội,
hoặc
có
tương
quan
với
Giáo
Hội,
hoặc
hướng
về
Giáo
Hội.
Chủ
đề
được
khai
triển
trong
hai
phần:
phần
nhất
bàn
về
các
nguyên
tắc
(số
13),
và
phần
hai
trình
bày
những
áp
dụng
cụ
thể.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Jo.,
bài
giảng
65,
1 :
PG
59,
361.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
16,
6;
22,
1-3
:
PG
7,
925C
-
926A
và
955C
-
958A;
Harvey
2,
87t.
và
120-123;
Sagnard,
x.b.
Sources
Chrét.
Trg
290-292
và
372tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
T.
Inhaxiô
Tử
Ðạo,
Ad
Rom.,
Lời
mở
đầu
:
x.b.
Funk,
I,
trg
252.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Số
13:
Công
giáo
tính
cứ
luật
của
Giáo
Hội.
Số
13
đã
được
sửa
đổi
hầu
hết
trong
lần
tu
chính
sau
cùng.
Theo
thuyết
trình
viên
thì
"chủ
đích
của
bản
văn
này
là
trình
bày
những
nguyên
tắc
của
hiệp
nhất
tính
và
phổ
quát
tính
của
Dân
Chúa,
trước
khi
mô
tả
những
phương
thức
khác
nhau
làm
cho
con
người
liên
kết
với
Dân
Chúa
(các
số
14-16).
Bởi
vậy,
đoạn
này
chính
là
gạch
nối
giữa
hai
phần
của
chương
hai:
phần
đầu
nói
lên
những
đặc
tính
tổng
quát
của
Dân
Chúa,
phần
sau
bàn
về
các
thành
phần,
hoặc
hiện
là
thành
phần,
hoặc
là
thành
phần
trong
tiềm
năng"
(Rel.
Gen.).
Những
chủ
đề
được
quảng
diễn
như
sau:
a)
Ðoạn
đầu
(13a)
chỉ
nhấn
mạnh
tới
sự
hiệp
nhất
nối
kết
Giáo
Hội
mọi
lúc
và
mọi
nơi.
Thiên
Chúa
đã
muốn
qui
tụ
toàn
thể
nhân
loại
trong
Con
của
Ngài
nhờ
hoạt
động
hiệp
nhất
của
Chúa
Thánh
Thần,
và
còn
muốn
nối
kết
nhân
loại
trong
Giáo
Hội
của
Chúa
Kitô.
Sự
hiệp
nhất
thấy
được
trong
việc
bẻ
bánh
và
trong
kinh
nguyện.
b)
Ðoạn
hai
(13b)
khai
triển
ý
tưởng
Dân
Chúa
hiện
diện
trong
mọi
quốc
gia
trên
mặt
đất
mà
không
đồng
hóa
với
một
quốc
gia
nào.
Dân
Chúa
phổ
quát
theo
sự
lan
rộng
về
địa
lý
nhưng
lại
vượt
quá
biên
cương
mọi
quốc
gia
do
đặc
tính
siêu
việt
và
do
sự
kiện
bắt
nguồn
từ
Thiên
Chúa.
Chính
thế
mà
mọi
dân
mọi
nước
khác
biệt
lại
trở
thành
anh
em
và
sự
hiệp
nhất
của
Dân
Chúa
có
tính
cách
"công
giáo"
thực
sự.
Chủ
đề
thu-về-một-mối
được
áp
dụng
triệt
để.
c)
Nhờ
đặc
tính
công
giáo
ấy,
tất
cả
các
phần
tử
Dân
Chúa
đặt
mọi
của
cải
và
ân
huệ
riêng
biệt
của
mình
làm
của
chung.
Cơ
cấu
nội
tại
của
sự
hiệp
nhất
công
giáo
của
Giáo
Hội
thật
phức
tạp.
Bởi
vậy
mới
có
sự
dị
biệt
hiệp
nhất
trong
mọi
tầng
lớp
của
Dân
Chúa
và
mọi
phần
tử
phải
hợp
tác
vào
sự
hiệp
nhất
dị
biệt.
Ngay
trên
bình
diện
Giáo
Hội,
cũng
cần
phải
có
các
giáo
hội
địa
phương
khác
biệt
nhau
nhưng
bổ
túc
cho
nhau,
mà
không
phương
hại
tới
sự
hiệp
nhất.
Hủy
bỏ
mọi
khác
biệt
sẽ
tạo
nên
tình
trạng
nhàm
chán
nghèo
nàn,
và
là
lý
do
gây
nguy
hại
cho
chính
việc
hiệp
nhất.
Nhưng
muốn
cho
sự
dị
biệt
sinh
hiệu
quả
phong
phú,
cần
phải
có
yếu
tố
thông
hảo
trong
đức
ái.
Trong
chiều
hướng
ấy,
Giáo
Hội
Rôma
là
năng
lực
cai
trị
và
là
sự
thống
nhất
các
nguyên
tắc
nhờ
trung
thành
với
đức
ái
(13c).
Trong
câu
kết
luận
(13d)
sửa
soạn
cho
phần
khai
triển
kế
tiếp,
Công
Ðồng
tái
xác
nhận
việc
mọi
người
được
mời
gọi
tới
ơn
cứu
rỗi
trong
Dân
Chúa,
nhưng
mức
độ
tham
dự
và
qui
hướng
tới
Dân
Chúa
lại
rất
khác
nhau,
tùy
như
người
đó
đã
chịu
phép
Thánh
Tẩy
hay
mới
chỉ
là
những
người
được
định
hướng
tới
Giáo
Hội
mà
chính
họ
không
hay
biết.
Ðể
nói
lên
sự
khác
nhau
đó,
Công
Ðồng
xử
dụng
hai
động
từ:
pertineri
và
ordinari.
Chỉ
những
ai
chịu
phép
Thánh
Tẩy
đúng
ra
mới
thuộc
về
Dân
Chúa,
còn
những
người
khác
hướng
về
Dân
Chúa
tùy
như
mức
độ
và
thiện
chí
của
họ.
Cũng
như
sự
lôi
cuốn
giữa
Cha
và
Con
mà
Giáo
Hội
được
tham
dự,
Giáo
Hội
cũng
lôi
kéo
đến
mình
tất
cả
mọi
người
không
trừ
ai,
bởi
vì
mọi
người
đều
qui
hướng
về
Giáo
Hội
do
ý
định
cứu
rỗi
phổ
quát.
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Các
số
14-16:
Tình
trạng
con
người
tương
quan
với
Giáo
Hội.
Ðối
với
Giáo
Hội,
không
ai
ở
ngoài
cuộc
cả.
Trong
cố
gắng
cụ
thể
hóa
dựa
vào
những
nguyên
tắc
đã
đề
ra,
Công
Ðồng
cứu
xét,
giữa
các
hạng
người
khác
nhau
trong
tình
trạng
cụ
thể
của
họ,
đâu
là
mối
tương
quan
của
họ
với
Giáo
Hội,
là
Dân
Chúa,
là
bí
tích
hữu
hình
và
phổ
quát
của
ơn
cứu
rỗi.
Vậy
nên
Công
Ðồng
cứu
xét
sự
liên
lạc
của
những
người
công
giáo
với
Giáo
Hội
(số
14),
của
các
Kitô
hữu
ly
khai
(số
15),
của
các
người
ngoài
Kitô
giáo
có
thiện
chí
(số
16).
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
T.
Augustinô,
Bapt.
c.
Donat.
V,
28,
39
:
PL
43,
197:
"Hiển
nhiên,
khi
nói
trong
và
ngoài
Giáo
Hội,
phải
hiểu
là
trong
tâm
hồn
chứ
không
phải
trong
thân
xác".
Xem
n.v.t.,
III,
19,
26:
cột
152;
V,
18,
24;
cột
189;
In
Jo.,
Tr.
61,
2 :
PL
35,
1800,
và
nơi
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Lc
12,48:
"Lại
đã
trao
phó
cho
ai
nhiều,
kẻ
ấy
cũng
bị
đòi
hỏi
nhiều
hơn".
Xem
Mt
5,19-20;
7,21-22;
25,41-46;
Giac
2,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Số
14:
Các
tín
hữu
công
giáo.
Công
Ðồng
bắt
đầu
từ
các
tín
hữu.
Bản
văn
gồm
3
phần:
a)
Phần
nhất
xác
quyết
Giáo
Hội
cần
cho
phần
rỗi,
bằng
những
hạng
từ
tổng
quát
dựa
trên
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền.
Có
thuộc
về
Giáo
Hội
thì
mới
được
cứu
rỗi
vì
chỉ
có
một
vị
Trung
Gian
cho
ơn
cứu
độ
là
Chúa
Kitô,
Ðấng
hiện
diện
trong
Giáo
Hội
là
Thân
của
Người.
Hơn
nữa,
Chúa
cũng
đã
minh
nhiên
công
bố
sự
cần
thiết
của
đức
tin
và
phép
Thánh
Tẩy
để
dẫn
đưa
chúng
ta
vào
Giáo
Hội.
Nhưng,
như
Công
Ðồng
đã
minh
định,
hai
yếu
tố
đó
cần
thiết
với
điều
kiện
là
phải
biết
Thiên
Chúa
đã
nhờ
Chúa
Giêsu
Kitô
mà
thiết
lập
Giáo
Hội
như
phương
tiện
cần
thiết.
Nói
bằng
những
hạn
từ
tổng
quát
thì
sự
cần
thiết
phải
được
giải
thích
như
sau:
người
tự
lỗi
riêng
mình
mà
ở
ngoài
Giáo
Hội,
phải
chịu
trách
nhiệm
về
án
phạt
mình.
Công
Ðồng
vẫn
tôn
trọng
trường
hợp
vô
tri
bất
khả
thắng
cứ
thực
hay
cứ
luật
của
biết
bao
nhiêu
người
trên
thế
giới
(số
14a).
b)
Phần
hai
giải
thích
sự
gia
nhập
hoàn
toàn
vào
cộng
đoàn
Giáo
Hội.
Sự
gia
nhập
này
thực
hiện
qua
những
điều
kiện
bên
ngoài
như
chịu
phép
Thánh
Tẩy,
tuyên
xưng
đức
tin,
thông
hảo
với
giáo
phẩm
trong
tinh
thần
tuân
phục.
Nhưng
hơn
thế
nữa,
còn
đòi
phải
có
Thánh
Thần
Chúa
Kitô.
Chỉ
tham
dự
thuần
bên
ngoài
mà
thôi
không
đủ.
Ngoài
những
yếu
tố
hữu
hình,
phải
có
dây
liên
lạc
với
Thánh
Thần,
tâm
hồn
phải
thuộc
về
Chúa
Kitô,
nghĩa
là
sống
trong
đức
ái
và
xa
lánh
tội
lỗi.
Một
sự
gia
nhập
trọn
vẹn
giả
thiết
có
thể
có
những
mối
dây
liên
lạc
bất
toàn.
Chúng
ta
sẽ
xét
đến
những
mối
dây
đó
trong
những
đoạn
sau
(số
14b).
c)
Phần
ba
bàn
về
các
người
dự
tòng.
Chắc
hẳn
không
thể
liệt
kê
họ
vào
số
những
người
không
công
giáo,
dù
họ
mới
chỉ
đang
trên
đường
đi
tới
việc
tháp
nhập
vào
Giáo
Hội.
Họ
đã
minh
nhiên
thỉnh
nguyện
để
được
gia
nhập,
và
do
ý
muốn
minh
nhiên
ấy
mà
họ
được
liên
kết
với
Giáo
Hội.
Chỉ
ý
muốn
này
thôi
cũng
đủ
để
thuộc
về
Giáo
Hội
và
đạt
tới
ơn
cứu
rỗi
khi
hoàn
cảnh
không
cho
phép
họ
lãnh
nhận
phép
Thánh
Tẩy.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Leô
XIII,
Tông
thư
Praeclara
gratulationis,
20-6-1894
:
AAS
26
(1893-94),
trg
707.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Satis
Cognitum,
29-6-1896
:
AAS
28
(1895-96),
trg
738.
Tđ.
Caritatis
studium,
25-7-1898
:
AAS
31
(1898-99),
trg
11.
Piô
XII,
Diễn
văn
truyền
thanh
Nell
Alba,
24-12-1941
:
AAS
34
(1942),
trg
21.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Orientalium,
8-9-1928
:
AAS
20
(1928),
trg
287.
Piô
XII,
Tđ.
Orientalis
Ecclesiae,
9-4-1944
:
AAS
36
(1944),
trg
137.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Giáo
huấn
của
Bộ
thánh
vụ,
20-12-1949
:
AAS
42
(1950),
trg
142.
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Số
15:
Những
mối
dây
liên
lạc
của
Giáo
Hội
đối
với
các
Kitô
hữu
không
công
giáo.
Ðoạn
này
coi
là
căn
bản
và
tóm
lược
điều
mà
Sắc
lệnh
về
Hiệp
Nhất
sẽ
trình
bày:
nền
tảng
thần
học
của
việc
Hiệp
Nhất.
Công
Ðồng
vẫn
công
nhận
các
anh
em
ly
khai
là
Kitô
hữu,
dầu
họ
không
tuyên
xưng
một
đức
tin
trọn
vẹn
hoặc
không
hiệp
thông
với
Ðấng
kế
vị
Thánh
Phêrô.
Sau
đó,
Công
Ðồng
liệt
kê
những
mối
dây
liên
lạc
khác
nhau
nối
kết
Giáo
Hội
với
anh
em
ly
khai:
dây
hữu
hình
như
Thánh
Kinh,
đức
tin
vào
Thiên
Chúa
Cha
và
Chúa
Kitô,
phép
Thánh
Tẩy
và
một
số
bí
tích
khác;
dây
vô
hình
như
sự
kết
hợp
thiêng
liêng
qua
kinh
nguyện,
qua
sự
trao
đổi
những
việc
lành
siêu
nhiên;
sự
kết
hiệp
chính
thực
nhưng
bất
toàn:
đó
là
hai
khía
cạnh
của
một
sự
kết
hiệp
mà
ngày
nay
trở
thành
rộng
rãi
hơn.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.
8,
a.
3
ad
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Thư
của
Bộ
thánh
vụ
gửi
cho
Tổng
giám
mục
Boston:
Dz
3869
-
72.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
T.
Eusebiô
Caes.,
Praeparatio
Evangelica,
1,
1:
PG
21,
28
AB.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Số
16:
Tình
trạng
của
các
người
ngoài
Kitô
giáo
đối
với
Giáo
Hội.
Số
này
muốn
phác
họa
một
khoa
thần
học
về
những
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo
mà
Tuyên
Ngôn
về
các
Tôn
Giáo
này
sẽ
lặp
lại
và
đào
sâu
hơn.
Công
Ðồng
xác
quyết
ba
đề
xướng
thần
học:
a)
Tất
cả
những
người
ngoài
Kitô
giáo
đều
được
qui
hướng
về
Dân
Chúa,
do
hiệu
quả
của
ý
muốn
cứu
rỗi
phổ
quát.
Công
Ðồng
xếp
họ
thành
những
lớp
khác
nhau
tùy
theo
đặc
tính
qui
hướng
về
Giáo
Hội
hữu
hình.
Một
vài
tôn
giáo
như
Do
Thái
Giáo
và
Hồi
Giáo,
còn
bảo
trì
Cựu
Ước
và
đức
tin
của
Abraham,
thì
qui
hướng
nhiều
hơn.
Ðối
với
các
tôn
giáo
khác,
nỗ
lực
tìm
về
"một
Thượng
Ðế
chưa
được
biết
đến"
mà
ai
cũng
có
thể
có
được,
phần
nào
chứng
tỏ
Thiên
Chúa
muốn
lôi
kéo
họ
đến
với
Ngài
là
Thiên
Chúa
Chân
Thật.
b)
Sự
qui
hướng
ấy
được
thực
hiện
nhờ
ân
sủng.
Ân
sủng
hỗ
trợ
hữu
hiệu
khiến
mọi
người
thiện
chí
sống
một
đời
ngay
thẳng,
và
trong
các
việc
làm
biết
nỗ
lực
chu
toàn
ý
muốn
của
Thiên
Chúa
mà
họ
nhận
ra
qua
tiếng
lương
tâm.
c)
Tuy
nhiên,
nhiều
trở
ngại
(về
suy
lý,
tâm
lý,
thực
tiễn)
khiến
cho
việc
tìm
về
Thiên
Chúa
trở
thành
hết
sức
khó
khăn,
có
thể
làm
cho
họ
phải
thất
vọng.
Tựu
trung,
đối
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo
có
thiện
chí,
Thiên
Chúa
sẽ
đưa
họ
tới
Giáo
Hội
bằng
ân
sủng
của
Ngài.
Ngoài
ra,
"tôn
giáo"
họ
theo
cũng
nâng
đỡ
họ
và
ngoại
cảnh
xã
hội
(chuẩn
bị
cho
Phúc
Âm)
còn
giúp
họ
sống
ngay
chính
theo
lương
tâm.
Và
như
vậy
họ
được
qui
hướng
tới
Giáo
Hội.
Những
trở
ngại
mà
các
người
ngoài
Kitô
giáo
gặp
phải
trên
đường
tìm
về
Thiên
Chúa
giúp
ta
nhận
rõ
tầm
quan
trọng
của
việc
truyền
giáo
trong
đời
sống
Giáo
Hội.
Ở
số
cuối
cùng
trong
chương
hai
này,
Công
Ðồng
lặp
lại
tính
cách
phổ
quát
của
Dân
Chúa
dưới
khía
cạnh
đặc
biệt
là
nỗ
lực
truyền
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Benedictô
XV,
Tông
thư
Maximum
illud:
AAS
11
(1919),
trg
440,
nhất
là
trg
451tt.
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Ecclesiae:
AAS
18
(1926),
trg
68-69.
Piô
XII,
Tđ.
Fidei
Donum,
21-4-1957:
AAS
49
(1957),
trg
236-237.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Didachè,
14:
x.b.
Funk
I,
trg
32.
T.
Giustinô,
Dial.
41:
PG:
6,
564,
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
IV,
17,5:
PG
7,
1023;
Harvey,
2,
trg
199t.
CÐ
Trentô,
khóa
22,
ch.
1:
Dz
939
(1742).
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Số
17:
Ðặc
tính
truyền
giáo
của
Giáo
Hội.
Một
số
người
công
kích
vì
dựa
vào
những
sự
mập
mờ
của
những
công
cuộc
truyền
giáo
và
vì
chủ
trương
giản
dị
rằng
người
lương
chỉ
cần
có
thiện
chí
và
với
ơn
Chúa
giúp
cũng
có
thể
được
cứu
rỗi;
để
chống
lại,
Công
Ðồng
đã
quả
quyết
việc
truyền
giáo
cần
thiết
trong
viễn
tượng
phổ
quát
riêng
biệt
của
chương
hai
này.
Quả
quyết
bằng
cách
định
nghĩa
rõ
ràng
mục
đích
việc
truyền
giáo
và
những
nguyên
tắc
của
việc
tông
đồ.
Sau
đây
là
những
chủ
đề:
a)
Việc
truyền
giáo
đặt
nền
tảng
trong
sứ
mệnh
của
Ba
Ngôi.
Như
Cha
đã
sai
Con
mình,
Ðấng
Cứu
Thế
cũng
sai
các
Tông
Ðồ
đi
rao
giảng,
thánh
hóa
và
chăn
dắt;
Giáo
Hội
có
nhiệm
vụ
phải
lưu
truyền
sứ
mệnh
ấy.
Ðó
là
lý
do
khiến
Giáo
Hội
tồn
tại.
Giáo
Hội
là
Giáo
Hội
truyền
giáo
do
huấn
lệnh
truyền
giáo
(Mt
28,19-20).
b)
Ðối
tượng
riêng
của
việc
truyền
giáo
khi
thi
hành
sứ
mệnh
đã
lãnh
nhận,
không
những
là
rao
giảng
Chúa
Kitô,
nhưng
còn
phải
thiết
lập
các
Giáo
Hội
bản
xứ,
và
chính
những
Giáo
Hội
này
cũng
mang
tính
cách
truyền
giáo
nơi
người
đồng
hương
của
mình.
Hoạt
động
truyền
giáo
là
chuẩn
bị
cho
con
người
đón
nhận
đức
tin
và
phép
Thánh
Tẩy,
giũ
bỏ
lầm
lạc
để
gia
nhập
Giáo
Hội.
Làm
thế
là
thừa
nhận
và
thanh
tẩy
cho
thành
tựu
tất
cả
những
mầm
mống
thiện
hảo
trong
tâm
hồn
mọi
người
và
mọi
dân
tộc
(chuẩn
bị
cho
Phúc
Âm).
c)
Môn
đệ
nào
của
Chúa
Kitô
cũng
có
nhiệm
vụ
này.
Nhưng
chính
những
Linh
Mục
có
một
nhiệm
vụ
không
thể
thay
thế
được.
Tất
cả
Giáo
Hội
sẽ
nhờ
kinh
nguyện
và
việc
làm
để
cố
gắng
thực
hiện
lần
lần
sự
sung
mãn
của
Dân
Chúa,
vì
vinh
quang
Chúa
Cha
trong
Chúa
Kitô.
Một
khoa
thần
học
truyền
giáo
chính
đáng
phải
lưu
ý
tới
ba
khía
cạnh
mà
Công
Ðồng
đã
nêu
ra
đây:
vấn
đề
là
phải
biết
tổng
hợp
cả
ba
khía
cạnh:
khía
cạnh
nhân
loại
bản
vị
(ơn
cứu
độ
của
con
người),
khía
cạnh
Giáo
Hội
(việc
thiết
lập
Giáo
Hội)
và
tương
quan
của
cả
hai
với
một
ý
niệm
tập
trung
về
Chúa
Kitô
và
Ba
Ngôi.
Trong
hai
chương
trên,
Công
Ðồng
đã
đặt
nền
móng
vững
chắc
cho
một
khoa
Giáo
Hội
học
chính
thực.
Việc
mô
tả
các
cơ
cấu
của
Giáo
Hội
trong
các
chương
sau
cũng
sẽ
dựa
trên
những
nền
tảng
tín
lý
đó.
Các
chương
sau
này
phải
được
quan
niệm
dưới
ánh
sáng
mạc
khải
về
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
và
Dân
Chúa
thì
mới
có
giá
trị
đích
thực.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II