VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
3-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
GIÁO
HỘI
(LUMEN
GENTIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
ChươngVIII
|
Thông
Tri
và
Chú
Thích
Sơ
Khởi
Khóa
V
Ngày
21
tháng
11
Năm
1964
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Chương
I:
Mầu
Nhiệm
Giáo
Hội
1*
1.
Giáo
Hội,
bí
tích
trong
Ðức
Kitô.
Ánh
sáng
muôn
dân
chính
là
Chúa
Kitô,
nên
Thánh
Công
Ðồng
đang
nhóm
họp
trong
Chúa
Thánh
Thần
hết
lòng
mong
ước
soi
dẫn
mọi
người
bằng
ánh
sáng
của
Chúa
phản
chiếu
trên
dung
nhan
Giáo
Hội,
bằng
việc
rao
truyền
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật
(x.
Mc
16,15).
Vì
Giáo
Hội
ở
trong
Chúa
Kitô
như
bí
tích
hoặc
dấu
chỉ
và
khí
cụ
của
sự
kết
hợp
mật
thiết
với
Thiên
Chúa
và
của
sự
hiệp
nhất
toàn
thể
nhân
loại,
nên,
dựa
trên
giáo
huấn
của
các
Công
Ðồng
trước,
Giáo
Hội
muốn
làm
sáng
tỏ
bản
tính
và
sứ
mệnh
phổ
quát
của
mình
cho
tín
hữu
và
toàn
thế
giới.
Những
hoàn
cảnh
hiện
tại
làm
cho
nhiệm
vụ
của
Giáo
Hội
thêm
khẩn
thiết
hơn,
để
ngày
nay
mọi
người
liên
hệ
chặt
chẽ
hơn
bởi
nhiều
ràng
buộc
xã
hội,
kỹ
thuật,
văn
hóa,
cũng
được
hiệp
nhất
trọn
vẹn
trong
Chúa
Kitô.
2*
2.
Ý
định
cứu
chuộc
phổ
quát
của
Chúa
Cha.
3*
Bởi
ý
định
khôn
ngoan
nhân
lành,
hoàn
toàn
tự
do
và
mầu
nhiệm,
Chúa
Cha
hằng
hữu
đã
tạo
dựng
vũ
trụ;
Ngài
đã
quyết
định
nâng
loài
người
lên
tham
dự
đời
sống
thần
linh,
và
Ngài
đã
không
từ
bỏ
con
người
sa
ngã
trong
Adam,
nhưng
luôn
ban
sự
trợ
giúp
để
họ
được
cứu
rỗi,
nhờ
Chúa
Kitô,
Ðấng
Cứu
Thế,
"là
hình
ảnh
Thiên
Chúa
vô
hình,
Con
đầu
lòng
của
tạo
vật"
(Col
1,15).
Thực
vậy,
từ
muôn
thuở
tất
cả
mọi
người
được
tuyển
chọn,
Chúa
Cha
"đã
biết
trước
và
đã
tiền
định
cho
họ
trở
nên
giống
hình
ảnh
Con
Chúa,
hầu
người
Con
đó
được
trở
nên
Trưởng
Tử
trong
nhiều
anh
em"
(Rm
8,29).
Thế
nên
Chúa
Cha
muốn
qui
tụ
những
ai
tin
kính
Chúa
Kitô
vào
trong
Giáo
Hội.
Từ
nguyên
thủy,
Giáo
Hội
được
phác
thảo
bằng
hình
bóng,
được
chuẩn
bị
kỳ
diệu
trong
lịch
sử
dân
Israel
và
trong
giao
ước
cũ
1,
được
thành
lập
trong
thời
cuối
cùng,
và
được
biểu
hiện
lúc
Chúa
Thánh
Thần
ngự
xuống,
rồi
đến
ngày
tận
thế
sẽ
kết
thúc
trong
vinh
quang.
Bấy
giờ,
như
chúng
ta
đọc
thấy
nơi
các
Giáo
Phụ,
mọi
người
công
chính
từ
Adam,
"từ
Abel
công
chính
đến
người
được
tuyển
chọn
cuối
cùng"
2
sẽ
được
tập
họp
trong
Giáo
Hội
phổ
quát
bên
Chúa
Cha.
3.
Sứ
mạng
và
công
cuộc
của
Chúa
Con.
Thế
là
Chúa
Con
được
phái
đến
do
Chúa
Cha,
Ðấng
đã
tuyển
chọn
chúng
ta
nơi
Người
trước
khi
tạo
dựng
vũ
trụ
và
tiền
định
chúng
ta
làm
dưỡng
tử,
vì
Ngài
mong
ước
cải
tạo
tất
cả
trong
Chúa
Con
(x.
Eph
1,4-5
và
10).
Bởi
thế,
để
chu
toàn
thánh
ý
Chúa
Cha,
Chúa
Kitô
đã
khai
nguyên
nước
trời
nơi
trần
gian,
mạc
khải
cho
chúng
ta
mầu
nhiệm
của
Ngài,
và
thực
hiện
việc
cứu
thế
bằng
việc
vâng
phục
Chúa
Cha.
Giáo
Hội
hoặc
nước
Chúa
Kitô
đã
hiện
diện
cách
mầu
nhiệm,
nhờ
thần
lực
Thiên
Chúa,
phát
triển
trong
thế
gian
cách
hiển
nhiên.
Sự
khai
nguyên
và
phát
triển
đó
được
biểu
thị
bằng
máu
và
nước
chảy
ra
từ
cạnh
sườn
Chúa
Giêsu
chịu
đóng
đinh
(x.
Gio
19,34)
và
được
tiên
báo
qua
lời
Chúa
nói
về
cái
chết
của
Người
trên
thập
giá:
"Và
Ta,
khi
bị
treo
lên
khỏi
đất,
Ta
sẽ
kéo
mọi
người
lên
cùng
Ta"
(Gio
12,32,
bản
Hy
lạp).
Mỗi
lần
hy
lễ
thánh
giá
được
cử
hành
trên
bàn
thờ,
nhờ
đó
"Chúa
Kitô,
chiên
vượt
qua
của
chúng
ta
chịu
hiến
tế"
(1Cor
5,7),
thì
công
trình
cứu
chuộc
chúng
ta
được
thực
hiện.
Bí
tích
Thánh
Thể
cũng
biểu
thị
và
thực
hiện
sự
hiệp
nhất
các
tín
hữu,
là
những
kẻ
hợp
thành
một
thân
thể,
trong
Chúa
Kitô
(x.
1Cor
10,17).
Mọi
người
đều
được
mời
gọi
kết
hiệp
cùng
Chúa
Kitô
như
vậy.
Người
là
ánh
sáng
thế
gian.
Chúng
ta
phát
xuất
từ
Người,
sống
nhờ
Người
và
hướng
về
Người.
4.
Việc
thánh
hóa
Giáo
Hội
của
Chúa
Thánh
Thần.
Khi
công
trình
Chúa
Cha
trao
phó
cho
Chúa
Con
thực
hiện
trên
trần
gian
đã
hoàn
tất
(x.
Gio
17,4)
Chúa
Thánh
Thần
được
phái
đến
trong
ngày
lễ
Hiện
Xuống
để
thánh
hóa
Giáo
Hội
mãi
mãi,
và
như
thế
những
ai
tin
sẽ
được
tới
cùng
Chúa
Cha
qua
Chúa
Kitô
trong
một
Thần
Khí
duy
nhất
(x.
Eph
2,18).
Chính
Ngài
là
Thánh
Thần
ban
sự
sống,
là
mạch
nước
vọt
lên
sự
sống
vĩnh
cửu
(x.
Gio
4,14;
7,38-39),
nhờ
Ngài,
Chúa
Cha
hồi
sinh
những
kẻ
đã
chết
vì
tội
lỗi,
đợi
đến
khi
phục
sinh
thân
xác
hay
chết
của
họ
trong
Chúa
Kitô
(x.
Rm
8,10-11).
Chúa
Thánh
Thần
ngự
trị
trong
Giáo
Hội
và
trong
tâm
hồn
các
tín
hữu
như
ngự
giữa
đền
thờ
(x.
1Cor
3,16;
6,19).
Trong
họ,
Ngài
cầu
nguyện
và
chứng
nhận
họ
là
dưỡng
tử
(x.
Gal
4,6;
Rm
8,15-16
và
26).
Ngài
dẫn
đưa
Giáo
Hội
trong
hiệp
thông
và
phục
vụ.
Ngài
huấn
luyện
và
dẫn
dắt
Giáo
Hội
bằng
muôn
ơn
theo
phẩm
chức
và
đoàn
sủng,
trang
điểm
Giáo
Hội
bằng
hoa
quả
của
Ngài
(x.
Eph
4,11-12;
1Cor
12,4;
Gal
5,22).
Nhờ
sức
mạnh
Phúc
Âm,
Ngài
là
tươi
trẻ,
không
ngừng
canh
tân
và
dẫn
đưa
Giáo
Hội
đến
kết
hợp
hoàn
toàn
với
Phu
Quân
mình
3.
Thực
vậy,
Chúa
Thánh
Thần
và
Hiền
Thê
nói
cùng
Chúa
Giêsu
rằng:
"Xin
hãy
đến"
(x.
Kh
22,17).
Như
thế
Giáo
Hội
phổ
quát
xuất
hiện
như
"một
dân
tộc
hiệp
nhất
do
sự
hiệp
nhất
giữa
Chúa
Cha,
Chúa
Con
và
Chúa
Thánh
Thần"
4.
5.
Nước
Thiên
Chúa.
4*
Mầu
nhiệm
Giáo
Hội
thánh
thiện
được
biểu
lộ
trong
chính
việc
thành
lập.
Thực
thế,
Chúa
Giêsu
đã
khai
sinh
Giáo
Hội
bằng
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
rằng
Nước
Thiên
Chúa
đã
đến
như
đã
hứa
trong
Thánh
Kinh
từ
ngàn
xưa:
"Thời
gian
đã
trọn,
Nước
Thiên
Chúa
gần
đến"
(Mc
1,15;
x.
Mt
4,17).
Nước
này
chiếu
sáng
trước
mặt
mọi
người
qua
lời
nói,
hành
động
và
sự
hiện
diện
của
Chúa
Kitô.
Lời
Chúa
ví
như
hạt
giống
gieo
trong
ruộng
(x.
Mc
4,14):
ai
tin
nghe
lời
Chúa
và
gia
nhập
đàn
chiên
nhỏ
của
Chúa
Kitô
(x.
Lc
12,32),
thì
đã
đón
nhận
chính
Nước
Ngài;
rồi
tự
sức
mình,
hạt
giống
nẩy
mầm
và
lớn
lên
cho
đến
mùa
gặt
(x.
Mc
4,26-29).
Các
phép
lạ
của
Chúa
Giêsu
cũng
chứng
minh
rằng
Nước
Ngài
đã
đến
thế
gian:
"Nếu
Ta
dùng
ngón
tay
Thiên
Chúa
để
trừ
ma
quỉ,
ắt
Nước
Thiên
Chúa
đã
đến
nơi
các
ngươi
rồi"
(Lc
11,20;
x.
Mt
12,28).
Nhưng
trước
tiên,
Nước
ấy
biểu
lộ
trong
chính
con
người
Chúa
Kitô,
Con
Thiên
Chúa
và
Con
loài
người,
Ðấng
đã
đến
"để
hầu
hạ
và
hiến
mạng
sống
mình
làm
giá
chuộc
thiên
hạ"
(Mc
10,45).
Vì
sau
khi
chịu
chết
trên
thập
giá
cho
nhân
loại,
Chúa
Giêsu
đã
phục
sinh,
nên
Người
được
phong
làm
Chúa,
làm
Ðấng
Kitô
và
làm
Linh
Mục
muôn
đời
(x.
CvTđ
2,36;
Dth
5,6;
7,17-21);
và
Người
đổ
tràn
Thánh
Thần
mà
Chúa
Cha
đã
hứa
trên
các
môn
đệ
Người
(x.
CvTđ
2,33).
Vì
thế,
với
ân
huệ
của
Ðấng
sáng
lập,
và
trong
khi
trung
thành
tuân
giữ
các
giới
răn
bác
ái,
khiêm
nhường
và
từ
bỏ,
Giáo
Hội
đã
lãnh
nhận
sứ
mệnh
rao
truyền
và
thiết
lập
Nước
Chúa
Kitô
và
Nước
Thiên
Chúa
trong
mọi
dân
tộc;
Giáo
Hội
là
mầm
mống
và
khai
nguyên
Nước
ấy
trên
trần
gian.
Ðang
lúc
từ
từ
phát
triển,
Giáo
Hội
vẫn
khát
mong
Nước
ấy
hoàn
tất
và
thiết
tha
hy
vọng,
mong
ước
kết
hợp
với
Vua
mình
trong
vinh
quang.
5*
6.
Hình
ảnh
diễn
tả
Giáo
Hội.
Trong
Cựu
Ước,
việc
mạc
khải
Nước
Thiên
Chúa
thường
được
trình
bày
bằng
hình
bóng;
cũng
thế,
ngày
nay
bản
tính
thâm
sâu
của
Giáo
Hội
được
diễn
tả
bằng
nhiều
hình
ảnh
lấy
từ
đời
sống
du
mục,
canh
nông,
kiến
trúc,
hoặc
gia
đình
và
hôn
lễ.
Sách
các
tiên
tri
đã
phác
họa
những
hình
ảnh
đó.
Thực
thế,
Giáo
Hội
là
chuồng
chiên
mà
Chúa
Kitô
là
cửa
vào
duy
nhất
và
cần
thiết
(x.
Gio
10,1-10).
Giáo
Hội
cũng
là
đàn
chiên
mà
chính
Thiên
Chúa
đã
tiên
báo
Ngài
là
mục
tử
(x.
Is
40,11;
Ez
34,11
tt).
Tuy
được
các
mục
tử
phàm
nhân
chăn
dắt,
những
chiên
ấy
luôn
được
chính
Chúa
Kitô,
Mục
Tử
nhân
lành
và
Thủ
Lãnh
các
mục
tử,
dẫn
dắt
và
nuôi
dưỡng
(x.
Gio
10,11;
1P
5,4).
Người
đã
hiến
mạng
sống
mình
vì
đàn
chiên
(x.
Gio
10,11-15).
Giáo
Hội
cũng
là
thửa
ruộng
hay
cánh
đồng
Thiên
Chúa
(x.
1Cor
3,9).
Trong
cánh
đồng
ấy,
mọc
lên
cây
dầu
cổ
thụ
mà
các
Tổ
Phụ
là
gốc
rễ
thánh.
Nơi
cây
cổ
thụ
này,
sự
hòa
giải
giữa
dân
Israel
và
các
dân
ngoại
đã
được
và
sẽ
được
thực
hiện
(x.
Rm
11,13-26).
Người
trồng
nho
thiên
quốc
vun
trồng
Giáo
Hội
như
một
cây
nho
được
tuyển
chọn
(x.
Mt
21,33-43
song
song;
x.
Is
5,1
tt).
Chúa
Kitô
là
cây
nho
đích
thực.
Người
ban
sức
sống
và
hoa
trái
cho
các
nhánh
là
chúng
ta.
Nhờ
Giáo
Hội,
chúng
ta
ở
trong
Người;
và
không
có
Người,
chúng
ta
không
thể
làm
gì
được
(x.
Gio
15,1-5).
Giáo
Hội
cũng
thường
được
gọi
là
tòa
nhà
của
Thiên
Chúa
(x.
1Cor
3,9).
Chúa
Kitô
đã
tự
ví
Người
như
viên
đá
mà
các
thợ
xây
loại
bỏ,
nhưng
đã
trở
thành
viên
đá
góc
(x.
Mt
21,42
song
song;
CvTđ
4,11;
1P
2,7;
Tv
117,22).
Trên
nền
móng
này,
các
Tông
Ðồ
đã
xây
dựng
Giáo
Hội
(x.
1Cor
3,11),
và
Giáo
Hội
được
bền
vững,
liên
kết
nhờ
nền
móng
đó.
Tòa
nhà
này
còn
được
gọi
bằng
nhiều
tên
khác:
Nhà
Thiên
Chúa
(x.
1Tm
3,15),
nơi
gia
đình
Ngài
cư
ngụ.
Nhà
Thiên
Chúa
trong
Chúa
Thánh
Thần
(x.
Eph
2,19-22),
"Lều
Tạm
của
Thiên
Chúa
giữa
loài
người"
(Kh
21,3),
và
nhất
là
Ðền
Thánh,
tiêu
biểu
bằng
các
cung
thánh
bằng
đá,
đã
từng
được
các
Thánh
Giáo
Phụ
ca
tụng,
và
được
Phụng
Vụ
sánh
ví
rất
chính
xác
với
Thành
thánh,
thành
Giêrusalem
mới
5.
Thực
vậy,
trong
Giáo
Hội
tại
thế,
chúng
ta
là
những
viên
đá
sống
động
dùng
vào
việc
xây
cất
(x.
1P
2,5).
Thánh
Gioan
đã
chiêm
ngưỡng
Thành
thánh
ấy
từ
trời
nơi
Thiên
Chúa
mà
xuống
trong
ngày
cải
tạo
vũ
trụ,
"sẵn
sàng
như
hiên
thê
trang
điểm
để
đón
tân
lang
mình"
(Kh
21,1tt).
Giáo
Hội
còn
được
gọi
là
"thành
Giêrusalem
trên
trời"
là
"mẹ
chúng
ta"
(Gal
4,26;
x.
Kh
12,17),
được
mô
tả
như
hiền
thê
tinh
tuyền
của
Con
Chiên
không
tì
ố
(x.
Kh
19,7;
21,2
và
9;
22,17)
được
Chúa
Kitô
yêu
mến
"và
hiến
thân
để
thánh
hóa"
(Eph
5,25-26),
được
Người
kết
hợp
bằng
một
giao
ước
bất
khả
phân
ly,
được
"nuôi
dưỡng
và
săn
sóc"
không
ngừng
(Eph
5,29).
Sau
khi
thanh
tẩy
hiền
thê,
Chúa
Kitô
muốn
hiền
thê
ấy
kết
hợp
và
vâng
phục
mình
trong
tình
yêu
và
trung
tín
(x.
Eph
5,24).
Sau
cùng,
Người
vĩnh
viễn
ban
cho
dư
tràn
ơn
thiêng
trên
trời
để
chúng
ta
hiểu
thế
nào
là
tình
yêu
Thiên
Chúa
và
Chúa
Kitô
đối
với
chúng
ta,
tình
yêu
ấy
vượt
trên
mọi
hiểu
biết
(x.
Eph
3,19).
Bao
lâu
còn
là
lữ
hành
trên
dương
thế
xa
cách
Chúa
(x.
2Cor
5,6),
Giáo
Hội
nhận
mình
bị
lưu
đày,
nên
luôn
tìm
kiếm
và
nếm
hương
vị
trên
trời,
nơi
Chúa
Kitô
ngự
bên
hữu
Thiên
Chúa;
nơi
tiềm
ẩn
sự
sống
của
Giáo
Hội
cùng
Chúa
Kitô
trong
Thiên
Chúa,
cho
đến
ngày
xuất
hiện
với
Phu
Quân
mình
trong
vinh
quang
(x.
Col
3,1-4).
6*
7.
Giáo
Hội,
thân
thể
Ðức
Kitô.
Khi
Con
Thiên
Chúa
chiến
thắng
sự
chết
bă讧
cái
chết
và
phục
sinh,
trong
nhân
tính
mà
Người
kết
hợp,
Người
đã
cứu
chuộc
và
biến
con
người
thành
một
tạo
vật
mới
(x.
Gal
6,15;
2Cor
5,17).
Thực
vậy,
Người
tạo
lập
cách
mầu
nhiệm
các
em
Người,
tụ
họp
từ
muôn
nước
thành
thân
thê半Người,
bằng
cách
thông
truyền
Thánh
Thần
cho
họ.
Trong
thân
thể
ấy,
sự
sống
Chúa
Kitô
tràn
lan
trên
các
tín
hữu.
Nhờ
các
bí
tích,
các
tín
hữu
được
kết
hợp
thực
sự
và
cách
mầu
nhiệm
với
Chúa
Kitô
đau
khổ
và
vinh
hiển
6.
Quả
thực,
nhờ
phép
thánh
tẩy
chúng
được
nên
giống
Chúa
Kitô:
"Vì
tất
cả
chúng
ta
được
tẩy
rửa
trong
một
Chúa
Thánh
Thần
để
nên
một
thân
thể"
(1Cor
12,13).
Nghi
thức
thánh
thiện
ấy
diễn
tả
và
thực
hiện
sự
hiệp
nhất
với
cái
chết
và
sự
phục
sinh
của
Chúa
Kitô:
"Nhờ
phép
thánh
tẩy,
chúng
ta
được
mai
táng
cùng
Người
trong
cái
chết";
và
nếu
"chúng
ta
liên
kết
với
Người
trong
cuộc
tử
nạn
thế
nào
thì
cũng
sẽ
được
sống
lại
với
Người
như
vậy"
(Rm
6,4-5).
Khi
bẻ
bánh
tạ
ơn,
chúng
ta
thực
sự
thông
dự
vào
Thân
Thể
của
Chúa
nên
chúng
ta
được
nâng
lên
để
hiệp
thông
với
Người
và
với
nhau.
"Chúng
ta
tuy
nhiều,
nhưng
là
một
tấm
bánh,
một
thân
thể,
vì
hết
thảy
chúng
ta
đồng
thông
hưởng
cũng
một
tấm
bánh"
(1Cor
10,17).
Thế
nên
tất
cả
chúng
ta
trở
thành
chi
thể
của
Thân
Thể
ấy
(x.
1Cor
12,27),
"vì
mỗi
người
là
chi
thể
của
nhau"
(Rm
12,5).
Thật
vậy,
tất
cả
các
chi
thể
tuy
nhiều,
nhưng
chỉ
tạo
thành
một
thân
thể;
cũng
thế,
các
tín
hữu
hợp
thành
một
thân
thể
trong
Chúa
Kitô
(x.
1Cor
12,12).
Trong
việc
xây
dựng
thân
thể
Chúa
Kitô,
cần
có
nhiều
chi
thể
với
phận
vụ
khác
nhau.
Chỉ
có
một
Chúa
Thánh
Thần
ban
những
ân
sủng
khác
nhau
để
làm
ích
cho
Giáo
Hội
theo
sự
sung
mãn
của
Ngài
và
tùy
nhu
cầu
của
công
việc
(x.
1Cor
12,1-11).
Trong
các
ân
sủng
ấy,
ơn
ban
cho
các
Tông
Ðồ
đứng
hàng
đầu:
chính
Chúa
Thánh
Thần
đặt
dưới
quyền
các
ngài
cả
những
người
lãnh
nhận
những
ơn
đặc
biệt
(x.
1Cor
14).
Cũng
chính
Thánh
Thần
ấy
tự
mình
hợp
nhất
thân
thể
bằng
thần
lực
Ngài
và
bằng
sự
liên
kết
tinh
thần
các
chi
thể
lại
với
nhau;
như
thế
Ngài
làm
phát
sinh
và
thúc
bách
đức
ái
giữa
các
tín
hữu.
Vì
thế,
nếu
một
chi
thể
nào
đau
đớn
thì
tất
cả
các
chi
thể
khác
đều
bị
đau
đớn;
và
nếu
một
chi
thể
nào
được
vinh
dự
thì
tất
cả
các
chi
thể
khác
cùng
chung
vui
(x.
1Cor
12,26).
Chúa
Kitô
là
Ðầu
của
Thân
Thể
này.
Chính
Người
là
hình
ảnh
Thiên
Chúa
vô
hình,
và
trong
Người
mọi
vật
được
tác
thành.
Người
có
trước
mọi
người
và
mọi
sự
được
bền
vững
trong
Người.
Người
là
Ðầu
của
Thân
Thể
là
Giáo
Hội.
Người
là
nguyên
lý,
là
anh
cả
của
những
kẻ
phải
chết,
hầu
nắm
quyền
thủ
lãnh
mọi
sự
(x.
Col
1,15-18),
Người
thống
trị
mọi
vật
trên
trời
dưới
đất
bằng
thần
lực
lớn
lao,
và
ban
dư
tràn
sự
vinh
hiển
phong
phú
của
Người
cho
toàn
thân
thể
nhờ
sự
toàn
thiện
và
hoạt
động
siêu
đẳng
của
Người
(x.
Eph
1,18-23)
7.
Mọi
chi
thể
phải
nên
giống
Chúa
Kitô
cho
đến
khi
Người
hình
thành
trong
họ
(x.
Gal
4,19).
Vì
thế,
chúng
ta
được
kết
nạp
vào
mầu
nhiệm
sự
sống
của
Người,
trở
nên
giống
Người,
cùng
chết
và
sống
lại
với
Người,
cho
đến
khi
cùng
cai
trị
với
Người
(x.
Ph
3,21;
2Tm
2,11;
Eph
2,6;
Col
2,12;
v.v?).
Ðang
khi
còn
là
lữ
hành
trên
mặt
đất,
bước
theo
vết
chân
Người
trong
đau
thương
và
bách
hại,
chúng
ta
cùng
thông
hiệp
với
những
đau
khổ
của
Người
như
thân
thể
kết
hợp
với
đầu,
hiệp
với
sự
thương
khó
của
Người
để
được
cùng
Người
vinh
hiển
(x.
Rm
8,17).
Trong
Người,
"toàn
thân
tìm
được
lương
thực
và
sự
liên
kết
nhờ
các
mối
dây
ràng
buộc
cấu
kết
với
nhau,
để
lớn
lên
trong
Thiên
Chúa"
(Col
2,19).
Trong
thân
thể
Người
là
Giáo
Hội,
Người
luôn
ban
ơn
huệ
là
các
chức
vụ,
nhờ
đó,
với
thần
lực
Người,
chúng
ta
giúp
nhau
cứu
rỗi,
hầu
khi
thực
hiện
chân
lý
trong
bác
ái,
chúng
ta
lớn
lên
về
mọi
phương
diện
trong
Người,
là
Ðầu
của
chúng
ta
(x.
Eph
4,11-16,
bản
Hy
lạp).
Ðể
chúng
ta
không
ngừng
canh
tân
trong
Người
(x.
Eph
4,23),
Người
đã
cho
thông
dự
vào
Thánh
Thần
Người,
cũng
một
Ðấng
duy
nhất
hiện
hữu
trên
Ðầu
cũng
như
trong
các
chi
thể,
làm
sống
động,
liên
kết
và
thúc
giục
toàn
thân,
đến
nỗi
các
thánh
Giáo
Phụ
đã
ví
nhiệm
vụ
của
Chúa
Thánh
Thần
với
công
việc
mà
nguyên
lý
sự
sống,
tức
là
linh
hồn,
hoàn
thành
trong
thân
xác
8.
Chúa
Kitô
yêu
thương
Giáo
Hội
như
hiền
thê
Người,
Người
trở
thành
gương
mẫu
của
người
chồng
yêu
vợ
mình
như
yêu
chính
bản
thân
(x.
Eph
5,25-28);
phần
Giáo
Hội
thì
tùng
phục
Ðầu
(n.v.t,
23-24);
"Vì
tất
cả
sự
sung
mãn
về
bản
tính
Thiên
Chúa
ở
trong
Người
cách
hữu
hình"
(Col
2,9),
nên
Người
đổ
tràn
ơn
thiêng
trên
Giáo
Hội,
là
thân
thể,
là
sự
sung
mãn
của
Người
(x.
Eph
1,22-23)
để
Giáo
Hội
cố
gắng
đạt
tới
sự
viên
mãn
hoàn
toàn
của
Thiên
Chúa
(x.
Eph
3,19).
7*
8.
Giáo
Hội,
thực
tại
hữu
hình
và
thiêng
liêng.
8*
Chúa
Kitô,
Ðấng
Trung
Gian
duy
nhất,
đã
thiết
lập
Giáo
Hội
thánh
thiện,
một
cộng
đoàn
đức
tin,
cậy
và
mến,
như
một
toàn
bộ
cấu
trúc
hữu
hình
trên
trần
gian
mà
Người
không
ngừng
bảo
vệ
9.
Qua
Giáo
Hội,
Người
đổ
tràn
chân
lý
và
ân
sủng
cho
mọi
người.
Giáo
Hội
là
xã
hội
có
tổ
chức
qui
củ,
và
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
đoàn
thể
hữu
hình
và
cộng
đoàn
thiêng
liêng,
Giáo
Hội
tại
thế
và
Giáo
Hội
dư
tràn
của
cải
trên
trời
không
được
quan
niệm
như
hai
thực
thể
nhưng
chỉ
là
một
thực
thể
phức
tạp,
duy
nhất,
do
yếu
tố
nhân
loại
và
thần
linh
kết
thành
10.
Vì
thế,
nhờ
loại
suy
xác
thực,
chúng
ta
có
thể
ví
Giáo
Hội
với
mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
nhập
thể.
Thực
vậy,
nhân
tính
mà
Ngôi
Lời
mặc
lấy
phục
vụ
Người
như
cơ
quan
cứu
rỗi
sống
động
và
kết
hợp
với
Người
cách
bất
khả
phân
ly;
cũng
thế,
toàn
thể
cơ
cấu
xã
hội
của
Giáo
Hội
phục
vụ
Thánh
Thần
Chúa
Kitô,
Ðấng
làm
cho
Giáo
Hội
sống
động
để
tăng
triển
thân
thể
(x.
Eph
4,16)
11.
Ðó
là
Giáo
Hội
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
mà
trong
Kinh
Tin
Kính
chúng
ta
tuyên
xưng
là
duy
nhất,
thánh
thiện,
công
giáo
và
tông
truyền
12.
Sau
khi
phục
sinh,
Ðấng
cứu
chuộc
chúng
ta
đã
trao
phó
cho
Phêrô
chăn
dắt
Giáo
Hội
đó
(Gio
21,17);
Người
phó
thác
cho
Phêrô
cũng
như
cho
các
Tông
Ðồ
khác
truyền
bá,
cai
quản
(x.
Mt
28,18tt),
và
thiết
lập
Giáo
Hội
nên
"rường
cột
và
nền
tảng
chân
lý"
đến
muôn
đời
(x.
1Tm
3,15).
Như
một
xã
hội
được
thiết
lập
qui
củ
trên
trần
gian,
Giáo
Hội
ấy
tồn
tại
trong
Giáo
Hội
Công
Giáo,
do
Ðấng
kế
vị
Phêrô
và
các
giám
mục
hiệp
thông
với
Ngài
điều
khiển
13,
và
mặc
dù
bên
ngoài
cơ
cấu
của
Giáo
Hội
còn
có
nhiều
yếu
tố
thánh
hóa
và
chân
lý,
nhưng
những
yếu
tố
ấy
là
những
ơn
riêng
của
Giáo
Hội
Chúa
Kitô,
thúc
bách
đến
sự
hiệp
nhất
công
giáo.
Như
Chúa
Kitô
đã
hoàn
tất
công
trình
cứu
chuộc
trong
khó
nghèo
và
bách
hại,
Giáo
Hội
cũng
được
mời
gọi
đi
cùng
đường
lối
ấy
hầu
thông
ban
ơn
cứu
rỗi
cho
loài
người.
Chúa
Giêsu
Kitô
"vốn
có
hình
thể
Thiên
Chúa...
tự
hủy
mình,
tự
nhận
thân
phận
tôi
tớ"
(Ph
2,6-7),
và
"vốn
giàu
có,
Người
đã
hóa
ra
nghèo
hèn"
vì
chúng
ta
(2Cor
8,9):
cũng
thế,
tuy
cần
đến
những
phương
tiện
nhân
loại
để
chu
toàn
sứ
mệnh
mình,
Giáo
Hội
được
thiết
lập
không
phải
để
tìm
kiếm
vinh
quang
trần
thế,
nhưng
để
truyền
bá
khiêm
nhường
và
từ
bỏ,
bằng
gương
lành
của
chính
mình.
Chúa
Kitô
được
Chúa
Cha
phái
đến
"rao
truyền
Phúc
Âm
cho
kẻ
bần
cùng...
cứu
chữa
các
tâm
hồn
đau
khổ"
(Lc
4,18),
"tìm
kiếm
và
cứu
vớt
những
gì
đã
hư
mất"
(Lc
19,10).
Cũng
thế,
Giáo
Hội
trìu
mến
và
ấp
ủ
tất
cả
những
ai
đau
khổ
vì
sự
yếu
hèn
của
con
người,
nhất
là
nhận
biết
nơi
những
kẻ
nghèo
khó
và
đau
khổ
hình
ảnh
Ðấng
Sáng
Lập
khó
nghèo
và
khổ
đau,
ra
sức
giảm
bớt
nỗi
cơ
cực
của
họ
và
nhằm
phụng
sự
Chúa
Kitô
trong
họ.
Nhưng
Chúa
Kitô
"thánh
thiện,
vô
tội,
tinh
tuyền"
(Dth
7,26),
không
hề
phạm
tội
(x.
2Cor
5,21),
chỉ
đến
để
đền
tội
lỗi
dân
chúng
(x.
Dth
2,17),
còn
Giáo
Hội,
vì
ôm
ấp
những
kẻ
có
tội
trong
lòng,
nên
vừa
thánh
thiện
vừa
phải
luôn
thanh
tẩy
mình.
Do
đó,
Giáo
Hội
luôn
thực
hiện
việc
sám
hối
và
canh
tân.
"Lữ
hành
giữa
cơn
bách
hại
của
thế
gian
và
trong
niềm
an
ủi
của
Thiên
Chúa"
14,
Giáo
Hội
rao
truyền
cái
chết
và
thánh
giá
Chúa,
cho
đến
khi
Người
trở
lại
(x.
1Cor
11,26).
Giáo
Hội
vững
mạnh
nhờ
thần
lực
của
Chúa
phục
sinh,
để
toàn
thắng
các
khó
khăn
và
sầu
muộn
từ
bên
trong
cũng
như
bên
ngoài
bằng
yêu
thương
và
kiên
trì,
và
trung
thành
mạc
khải
cho
thế
gian
mầu
nhiệm
của
Chúa
còn
giấu
trong
bóng
tối,
cho
đến
khi
được
phô
bày
dưới
ánh
sáng
vẹn
toàn
trong
ngày
sau
hết.
Chú
Thích:
1*
Hai
chương
đầu
của
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
nhằm
trình
bày
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
trong
ý
định
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa
như
Thánh
Kinh
đã
mạc
khải,
trước
khi
phân
tích
cơ
cấu
phẩm
trật
(ch.
III)
và
tác
động
siêu
nhiên.
Sau
khi
đã
xác
định
Giáo
Hội
khai
sinh
từ
Mầu
Nhiệm
Ba
Ngôi,
chương
I
của
Hiến
Chế
tìm
hiểu
những
danh
xưng
và
những
hình
ảnh
khác
nhau
mà
Thánh
Kinh
xử
dụng
để
chỉ
Giáo
Hội,
đặc
biệt
nhấn
mạnh
tới
danh
xưng
của
Thánh
Phaolô
gọi
Giáo
Hội
là
"Thân
Thể
Chúa
Kitô"
(các
số
5-7),
nhưng
không
tuyệt
đối
theo
cách
gọi
đó.
Sau
cùng,
chương
I
còn
cắt
nghĩa
thực
tại
Giáo
Hội
trong
tình
trạng
cụ
thể
(số
8).
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Số
1:
Nhập
đề
Ðây
là
phần
nhập
đề
tổng
quát,
nói
lên
chiều
hướng
riêng
biệt
của
Hiến
Chế.
Công
Ðồng
quả
quyết
sứ
mệnh
cứu
rỗi
phổ
quát
của
Giáo
Hội
đã
được
Chúa
Kitô
trao
phó,
qua
ý
niệm
bí
tích
phổ
quát
của
ơn
cứu
rỗi.
Ở
đây,
sự
cứu
rỗi
được
quan
niệm
dưới
hình
thức
hợp
thông
với
Ba
Ngôi.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Các
số
2-4:
Giáo
Hội
từ
Mầu
Nhiệm
Chúa
Ba
Ngôi.
Các
số
này
có
sự
thống
nhất
khá
chặt
chẽ
về
đề
mục
và
cơ
cấu,
nói
lên
hoạt
động
của
Ba
Ngôi
trong
đời
sống
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
khai
sinh
từ
ý
định
tự
do
của
Chúa
Cha
hằng
hữu
(số
2),
ý
định
đó
được
thực
hiện
qua
sứ
mệnh
của
Chúa
Con
(số
3),
và
được
bổ
túc
nhờ
sự
thánh
hóa
mà
Chúa
Thánh
Thần
đem
đến
(số
4).
Như
vậy
chúng
ta
thấy
rõ
Giáo
Lý
Công
Giáo
về
Giáo
Hội
được
xây
dựng
trên
tín
điều
căn
bản
của
Kitô
giáo.
Công
Ðồng
nói
theo
kiểu
nói
của
Thánh
Kinh
chứ
không
theo
kiểu
nói
thần
học.
Và
không
muốn
giải
quyết
vấn
đề:
phải
hiểu
những
hoạt
động
của
Ba
Ngôi
như
thế
nào.
Câu
sau
cùng
của
số
4
bao
gồm
chủ
đích
và
nội
dung
của
số
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
T.
Cyprianô,
Epist.
64,4:
PL
3,1017;
CSEL
(Hartel),
III
B,
trg
720.
T.
Hilariô
Pict.,
In
Mt.
23,6:
PL
9,1047.
T.
Augustinô,
nhiều
chỗ
khác.
T.
Cyrillô
Alex.
Glaph.
in
Gen.
2,
10:
PG
69,
110A.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
T.
Gregoriô
Cả.
Hom.
in
Evang.
19,1:
PL
76,1154
B.
Xem
T.
Augustinô,
Serm.
341,
9,11:
PL
39,1499t.
T.
Gio.
Damascenô,
Adv.
Iconoct.
11:
PG
96,1357.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
24,
1:
PG
7,
966
B;
Harvey
2,
131;
x.
b.
Sagnard,
Sources
Chr.,
trg
398.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
T.
Cyprianô,
De
Orat.
Dom.
23
:
PL
4,
553:
Hartel,
III
A,
trg
285.
T.
Augustinô,
Serm.
71,
20,
33:
PL
38,
463t.
T.
Gioan
Damascenô,
Adv.
Iconocl.
12:
PG
96,
1358
D.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Các
số
5-7:
Giáo
Hội
trong
lịch
sử
cứu
rỗi.
Các
số
này
trình
bày
sự
hiện
diện
và
hoạt
động
siêu
nhiên
của
Thiên
Chúa
qua
Giáo
Hội
trong
công
cuộc
cứu
độ.
Công
Ðồng
muốn
giải
thích
ý
định
cứu
rỗi
của
Ba
Ngôi
thực
hiện
qua
Giáo
Hội
(các
số
2-4)
tiến
triển
như
thế
nào
trong
lịch
sử
cứu
rỗi.
Việc
đó
phải
nhờ
vào
sự
phân
tích
tỉ
mỉ
những
cách
diễn
tả
của
mạc
khải
Thánh
Kinh.
Như
thế
trong
số
5,
Công
Ðồng
nói
về
Giáo
Hội
như
một
Nước
Thiên
Chúa
ở
trần
gian;
số
6
trình
bày
những
hình
ảnh
và
những
hình
bóng
khác
nhau
mà
Thánh
Kinh
xử
dụng
để
mô
tả
Giáo
Hội
như
là
việc
của
Thiên
Chúa;
và
sau
cùng,
trong
số
7,
Công
Ðồng
giải
thích
sâu
xa
hơn
về
Giáo
Hội
là
Thân
Thể
Chúa
Kitô,
theo
sát
với
giáo
lý
của
Thánh
Phaolô.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Số
5:
Giáo
Hội
là
Nước
Chúa.
Nước
phải
hiểu
theo
nghĩa
Thánh
Kinh
chứ
không
chỉ
nguyên
nghĩa
xã
hội,
tức
là
phải
hiểu
như
là
một
hành
động
cai
trị
(chính
sự
thống
trị)
hơn
là
sự
nới
rộng
đất
đai
(hiệu
quả
của
hành
động
thống
trị).
Trong
viễn
tượng
ấy,
Công
Ðồng
quả
quyết
có
hai
sự
kiện
tạo
nên
Giáo
Hội,
tức
là
Nước
Thiên
Chúa:
hoạt
động
của
Chúa
Kitô
trước
Phục
Sinh
trong
đó
Nước
Thiên
Chúa
(theo
ý
nghĩa
đã
giải
thích)
đã
được
biểu
lộ,
và
việc
Chúa
thiết
lập
qua
Mầu
Nhiệm
Phục
Sinh.
Như
thế,
ngay
cả
những
yếu
tố
giúp
Nước
Thiên
Chúa
thực
hiện
cũng
đã
được
phác
họa:
a/
Yếu
tố
siêu
nhiên:
Là
những
hồng
ân
mà
Vị
Sáng
Lập
Giáo
Hội
ban
cho
(tổng
kết:
là
ơn
trọng
đại
của
Chúa
Thánh
Thần);
b/
Yếu
tố
luân
lý:
Chấp
nhận
những
đòi
hỏi
tinh
thần
về
việc
Chúa
thống
trị
trên
con
người,
một
cách
tự
do
và
toàn
vẹn;
c/
Yếu
tố
thừa
sai:
Giáo
Hội
lãnh
nhận
từ
Ðấng
Sáng
Lập
sứ
mệnh
loan
báo
và
tạo
lập
sự
thống
trị
này
của
Thiên
Chúa
trên
mọi
người;
d/
Yếu
tố
cánh
chung:
Việc
thống
trị
ấy
còn
bất
toàn
trên
trần
gian,
bởi
vậy
khuynh
hướng
cánh
chung
của
toàn
thể
Giáo
Hội
hướng
tới
một
Nước
hoàn
hảo
phải
được
thực
hiện
trong
thời
sau
hết
(x.
số
48c).
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Origenê,
In
Mat
16,21:
PG
13,
1443
C.
Tertullianô,
Adv.
Marc.
3,7:
PL
2,
357
C;
CSEL
47,3
trg
380.
Về
tài
liệu
phụng
vụ,
xem
Sacramentarium
Gregorianum:
PL
78,160
B.
Hoặc
C.
Mohlberg,
Liber
Sacramentorum
Romanae
Ecclesiae,
Roma,
1960,
trg
111,
XC:
"Thiên
Chúa
không
bị
ràng
buộc
đã
ban
cho
ngươi
nơi
cư
ngụ
vĩnh
cửu
của
các
thánh...".
Ca
ngợi
Urbs
Jerusalem
beata
trong
sách
kinh
nhật
tụng
đan
viện,
và
Coelestis
urbs
Jerusalem
trong
sách
kinh
nhật
tụng
Roma.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Số
6:
Những
hình
ảnh
về
Giáo
Hội
theo
Thánh
Kinh.
Sau
đây
là
những
khẳng
định
của
Công
Ðồng:
a/
Những
hình
ảnh
và
hình
bóng
ấy
là
mạc
khải
thực
về
Giáo
Hội
nhờ
đó
chúng
ta
hiểu
rõ
hơn
bản
tính
sâu
xa
của
Giáo
Hội.
Hơn
nữa
chúng
ta
còn
bầy
tỏ
sự
thống
nhất
và
tiến
triển
của
một
mạc
khải
được
chuẩn
bị
trong
Cựu
Ước
và
được
hoàn
tất
trong
Tân
Ước.
b/
Giáo
thuyết
đại
cương
trong
số
5b
được
giải
thích
rõ
rệt
hơn
theo
tiến
trình
tiệm
tiến
và
năng
động.
Những
hình
ảnh
về
đời
sống
du
mục
bày
tỏ
sự
khởi
xướng
của
Thiên
Chúa
trong
Giáo
Hội,
luôn
tiến
triển
để
đạt
tới
kết
quả
sau
cùng,
những
hình
ảnh
về
xây
cất
chứng
tỏ
sự
kiên
cố,
và
những
hình
ảnh
gia
đình
nói
lên
sự
kết
hợp
thân
mật
giữa
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.
62,
a.5,
ad
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
XII:
Tđ.
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
208.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Divinum
illud,
9-5-1897:
AAS
29
(1896-97),
trg
650.
Piô
XII
Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg
219-220;
Dz
2288
(3808).
T.
Augustinô,
Serm.
268,
2:
PL
38,
1232,
và
nơi
khác.
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Eph.
bài
giảng
9,
3:
PG
62.
72.
Didymô
Alex.,
Trin,
2,
1:
PG
39,
449t.
T.
Tôma,
In
Col.
1,
18,
lect.
5:
x.b.
Marietti,
II,
số
46:
Thân
thể
được
tạo
thành
nên
một
do
sự
thống
nhất
của
linh
hồn,
cũng
thế
Giáo
Hội
được
tạo
thành
nên
một
do
sự
thống
nhất
của
Thánh
Thần..."
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Số
7:
Giáo
Hội
là
thân
thể
Chúa
Kitô.
Người
ta
có
thể
nhận
thấy
rằng,
để
khai
triển
ý
niệm
này,
những
bản
văn
của
Phaolô
đã
được
lập
lại
một
cách
phong
phú,
chứ
không
chỉ
được
sắp
xếp
theo
thứ
tự.
Những
nhà
soạn
thảo
lưu
tâm
đến
việc
trưng
dẫn
cho
"hòa
hợp"
hơn
là
đến
việc
khai
triển
cho
hợp
lý.
Bởi
vậy
người
ta
đã
đi
theo
tiến
trình
lịch
sử
của
tư
tưởng
Phaolô:
các
đoạn
a-c
trích
những
thư
lớn
nhiều
hơn;
các
đoạn
khác
trích
các
thư
thời
lưu
đày.
Nhưng
cũng
nên
lưu
ý
Công
Ðồng
không
muốn
trực
tiếp
gọi
Giáo
Hội
là
"nhiệm
thể",
nhưng
quả
quyết
rằng
Chúa
Kitô
phục
sinh
đã
tạo
cho
các
anh
em
mình
thành
thân
thể
riêng
mình,
theo
một
cách
thức
bí
nhiệm.
Có
hai
lý
do:
a)
Thánh
Phaolô
không
bao
giờ
nói
về
nhiệm
thể.
Ngài
chỉ
quả
quyết
là
các
tín
hữu
trở
nên
cùng
một
thân,
một
người,
một
thân
thể
của
Chúa
Kitô.
b)
Ý
kiến
Thần
học
bất
đồng
về
vấn
đề
này.
Ðây
là
tư
tưởng
chính
yếu
hướng
dẫn
tất
cả
tiến
trình:
ơn
cứu
rỗi
biến
cải
con
người
thành
một
tạo
vật
mới.
Chính
Chúa
Kitô
là
tạo
vật
mới
ấy
trong
thân
xác
vinh
hiển
của
Người,
trong
đó
Người
triệu
tập
và
nối
kết
mọi
anh
em
nhờ
sức
mạnh
của
Thần
Khí
Người
(7a).
Ý
tưởng
ấy
được
khai
triển
trong
hai
chủ
đề:
a)
Chủ
đề
"thân
xác":
(7b-c):
nhấn
mạnh
tới
hai
đặc
điểm:
-
Một
cộng
đoàn
sinh
hoạt
thiêng
liêng
được
bí
tích
nuôi
dưỡng
(7b).
-
Sự
khác
biệt
giữa
các
chi
thể
nhưng
cùng
"hiệp
sức"
trong
sinh
hoạt
nhờ
cùng
một
Thánh
Thần
khích
động,
vì
lợi
ích
toàn
thể
(7c).
b)
Chủ
đề
"Ðầu"
(7d-g).
Ðiều
khẳng
định
chính
yếu
là
sự
trổi
vượt
của
Chúa
Kitô,
Ðấng
tạo
thành
và
cứu
chuộc,
theo
như
đoạn
đầu
của
các
thư
gửi
tín
hữu
Ephêsô
và
Colosê,
sự
trổi
vượt
được
Người
trang
bị
cho
toàn
thân
(7d).
Chúa
Kitô
là
Nguyên
Lý,
là
Thủ
Lãnh
Giáo
Hội
được
trình
bày
dưới
ba
khía
cạnh:
-
sự
hòa
hợp
các
chi
thể
với
Ðầu
nhờ
tham
dự
cuộc
tử
nạn
và
phục
sinh
của
Người
(7c).
-
sự
tăng
triển
của
toàn
thân
hướng
về
Chúa
Kitô
là
Ðầu:
như
vậy
Chúa
Kitô
là
Nguyên
Lý
hợp
nhất
và
tăng
triển
có
cơ
cấu
và
có
hòa
hợp
(7f).
-
sự
tăng
triển
này
là
công
trình
của
Thánh
Thần
Chúa
Kitô,
luôn
làm
sống
động,
nối
kết
và
hướng
dẫn
Giáo
Hội
(7g).
Vài
hàng
kết
luận
nói
lên
chủ
đề
Giáo
Hội
là
một
Hiền
thê
(7h).
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Số
8:
Bản
tính
nhân
thần
của
Giáo
Hội.
Trong
Giáo
Hội,
phải
phân
biệt
-
nhưng
không
được
phân
tán
-
hai
khía
cạnh,
có
thể
so
sánh
với
hai
bản
tính
của
Ngôi
Lời
nhập
thể:
một
khía
cạnh
nhân
loại
và
một
khía
cạnh
thần
linh.
Giáo
Hội
như
một
mầu
nhiệm
thực
sự
xuất
hiện
trên
trái
đất
dưới
hình
thức
cụ
thể
và
hiển
nhiên,
và
Giáo
Hội
vẫn
hiện
diện,
nếu
không
chúng
ta
không
thể
nói
tới
mầu
nhiệm
(Giáo
Hội
là
bí
tích
cứu
rỗi,
là
dấu
hiệu
hữu
hình
của
ơn
cứu
rỗi
vô
hình
và
là
dụng
cụ
của
quyền
năng
Thiên
Chúa,
xem
số
1).
Mầu
nhiệm
là
chương
trình
cứu
rỗi
được
Chúa
mạc
khải
ở
trần
gian
này
dưới
những
tấm
màn
trong
suốt
(8a).
Vậy
Giáo
Hội
được
Thiên
Chúa
triệu
tập
và
qui
tụ,
phù
hợp
với
Chúa
Kitô,
là
thân
thể
của
Chúa
Kitô
và
được
Chúa
Thánh
Thần
làm
cho
hoạt
động.
Tuy
nhiên
Giáo
Hội
vẫn
là
nơi
qui
tụ
mọi
người
với
tất
cả
những
yếu
tố
mà
nơi
qui
tụ
đó
bao
gồm,
không
những
về
tổ
chức,
cơ
cấu,
thế
lực
xã
hội,
mà
cả
những
yếu
đuối
và
tội
lỗi.
Thực
tế
phức
tạp
của
Giáo
Hội
là
như
thế,
nhưng
cũng
đừng
nên
tách
biệt
hay
đối
kháng
mà
phải
nhìn
với
con
mắt
đức
tin
như
một
công
trình
của
lòng
nhân
hậu
Chúa
muốn
xử
dụng
mọi
yếu
tố
nhân
loại,
không
khinh
chê
sự
yếu
hèn
của
nó.
Sự
thống
nhất
có
tính
cách
nền
tảng
của
Giáo
Hội
sống
động
được
xác
quyết
qua
ba
cách
thức
khác
nhau:
không
thể
có
sự
đoạn
giao
giữa
từng
hai
ý
niệm
đi
với
nhau:
"Xã
hội
phẩm
trật
-
Nhiệm
thể
Chúa
Kitô";
"Công
hội
hữu
hình
-
Cộng
đoàn
thiêng
liêng";
"Giáo
Hội
trần
gian
-
Giáo
Hội
tô
điểm
bằng
hồng
ân
thiên
quốc".
Chúng
ta
đứng
trước
một
thực
tại
phức
tạp
không
chia
cắt,
nhưng
lại
bao
gồm
một
yếu
tố
nhân
loại
và
một
yếu
tố
thần
linh.
Trong
thực
tại
phức
tạp
này,
Giáo
Hội
là
dấu
hiện
có
Chúa
Thánh
Thần
hiện
diện
và
chính
Ngài
sẽ
hoàn
tất
trong
Giáo
Hội
và
nhờ
Giáo
Hội
ơn
cứu
độ
của
những
người
được
tuyển
chọn.
Sự
kiện
vừa
là
dấu
hiệu
vừa
là
lý
do
sinh
ra
ơn
thánh
cấu
tạo
nên
chính
yếu
tính
của
bí
tích
hay
mầu
nhiệm:
dấu
hiệu
hữu
hình
của
thần
lực
vô
hình
(8b).
Giáo
Hội
thánh
thiện
thật,
nhưng
một
trật
cũng
luôn
đòi
được
thanh
tẩy;
tội
lỗi
tồn
tại
trong
Giáo
Hội,
nhưng
Giáo
Hội
lại
được
Chúa
Thánh
Thần
thánh
hóa
sâu
xa.
Do
hai
đặc
tính
này
mà
công
cuộc
cứu
độ
luôn
được
thực
hiện
dưới
dấu
chỉ
khó
nghèo
và
bách
hại:
đó
chính
là
con
đường
mà
Giáo
Hội
phải
dấn
thân
để
theo
gương
Chúa
Giêsu;
đường
riêng
của
Chúa
luôn
là
đường
Thánh
Giá.
Giáo
Hội
là
Giáo
Hội
của
tội
nhân
nên
luôn
luôn
cần
được
thanh
tẩy.
Nhưng
nếu
từ
đó
mà
vội
kết
luận
rằng
Giáo
Hội
như
thế
không
còn
thánh
thiện
là
kết
luận
sai,
bởi
vì
như
vậy
là
chỉ
nhìn
toàn
bộ
con
số
những
chi
thể
chứ
không
nhìn
đến
một
cái
gì
khác
trong
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
là
một
xã
hội
do
Chúa
Kitô
thiết
lập
và
được
Chúa
Thánh
Thần
làm
cho
sống
động
chỉ
với
mục
đích
tranh
đấu
và
chiến
thắng
tội
lỗi.
Ðó
chính
là
lý
do
và
là
cách
thức
thánh
thiện
tinh
tuyền
của
Giáo
Hội:
Chắc
hẳn
không
phải
nơi
chi
thể
hay
thủ
lãnh,
nhưng
là
trong
chính
yếu
tính.
Giáo
Hội
là
Hiền
thê
không
tì
ố,
không
bụi
nhơ,
nhưng
chỉ
hiện
hữu
nơi
trần
gian
này
trong
tình
trạng
chuẩn
bị
(8c).
Giáo
Hội
sẽ
toàn
thắng
trên
chặng
đường
nguy
khó
này,
nhưng
chỉ
có
thể
nhờ
sự
bác
ái
và
nhẫn
nại
của
Thánh
Thần
mới
có
thể
lướt
thắng
được
những
trở
ngại
dồn
dập.
Những
yếu
đuối,
những
khó
khăn,
những
thiếu
sót
của
Giáo
Hội,
của
một
xã
hội
trần
gian,
không
phải
là
những
ảo
tưởng,
nhưng
chúng
có
thực.
Cuộc
chiến
thắng
của
Giáo
Hội
Chúa
trên
tất
cả
những
nghịch
cảnh
này
cũng
không
phải
là
giả
tưởng,
nhưng
là
cuộc
chiến
thắng
thực
sự
cho
người
có
lòng
tin.
Như
vậy,
Giáo
Hội
thực
sự
mạc
khải
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
dù
vẫn
còn
mây
đen
mờ
tối
cho
tới
khi
có
ánh
sáng
huy
hoàng
chiếu
soi
(8d).
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Leô
XIII,
Tđ.
Sapientiae
christianae.
10-1-1890:
AAS
22
(1889-90),
trg
392.
n.t.,
Tđ.
Satis
cognitum
29-6-1896:
AAS
28
(1895-96),
trg
710
và
724
tt.
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg
199-200.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Piô
XII
Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg
221
tt.
n.t.,
Tđ.
Humani
generis,
12-8-1950:
AAS
42
(1950),
trg
571.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Leô
XIII,
Tđ.
Satis
Cognitum,
n.v.t.,
trg
713.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Symbolum
Apostolicum:
Dz.
6-9
(10-13).
Symb.
Ni.-Const.
:
Dz.
86
(150).
So
sánh
với
Prof.
fidei
Trid.
:
Dz.
994
và
999
(1862
và
1868).
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Ðọc
"Giáo
Hội
Rôma
thánh
thiện
(công
giáo
và
tông
truyền)":
trong
Prof.
fidei
Trid.,
n.v.t.,
và
CÐ
Vat
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
công
giáo,
Dei
Filius
:
Dz.
1782
(3001).
(Trở
lại
đầu
trang)
14
T.
Augustinô,
De
Civ.
Dei,
XVIII,
51,
2 :
PL
41,
614.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II