VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
1-
HIẾN
CHẾ
VỀ
PHỤNG
VỤ
THÁNH
(SACROSANCTUM
CONCILIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
Chương
III
Các
Bí
Tích
Khác
Và
Các
Á
Bí
Tích
59.
Bản
tính
các
bí
tích.
Các
Bí
Tích
có
mục
đích
thánh
hóa
con
người,
xây
dựng
thân
thể
Chúa
Kitô,
và
sau
cùng
là
thờ
phương
Thiên
Chúa.
Tuy
nhiên,
là
những
dấu
chỉ,
các
Bí
Tích
còn
giữ
vai
trò
giáo
huấn
nữa.
Không
những
các
Bí
Tích
giả
thiết
phải
có
đức
tin,
mà
còn
dùng
lời
nói
và
sự
vật
để
nuôi
dưỡng,
củng
cố
và
diễn
tả
đức
tin
đó.
Do
đó,
được
gọi
là
các
Bí
Tích
Ðức
Tin.
Thực
ra
các
Bí
Tích
ban
ân
sủng,
nhưng
việc
cử
hành
các
Bí
Tích
còn
là
việc
chuẩn
bị
các
tín
hữu
đón
nhận
ân
sủng
đó
một
cách
hữu
hiệu
để
thờ
phượng
Chúa
đúng
cách
và
để
thực
thi
đức
bác
ái.
Do
đó,
việc
rất
quan
trọng
là
làm
sao
cho
các
tín
hữu
dễ
dàng
hiểu
được
những
dấu
chỉ
của
các
Bí
Tích,
và
hết
sức
siêng
năng
lui
tới
đón
nhận
các
Bí
Tích,
là
những
Bí
Tích
được
lập
ra
để
nuôi
dưỡng
đời
sống
Kitô
hữu.
60.
Các
á
bí
tích.
Ngoài
ra,
Giáo
Hội
Mẹ
Thánh
còn
thiết
lập
những
Á
Bí
Tích.
Ðó
là
những
dấu
chỉ
thánh,
vì
một
phần
nào
phỏng
theo
những
Bí
Tích,
nhờ
đó
biểu
trưng
những
hậu
quả
-
nhất
là
những
hậu
quả
thiêng
liêng
-
và
thông
ban
hậu
quả
đó
nhờ
sự
bầu
cử
của
Giáo
Hội.
Nhờ
các
Á
Bí
Tích
ấy,
con
người
được
chuẩn
bị
lãnh
nhận
hậu
quả
chính
yếu
của
các
Bí
Tích
và
thánh
hóa
những
hoàn
cảnh
khác
biệt
trong
cuộc
sống.
61.
Phụng
vụ
các
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích.
Vì
thế,
phụng
vụ
các
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích
mang
lại
những
hiệu
quả
này
là:
đối
với
các
tín
hữu
đã
được
chuẩn
bị
chu
đáo,
thì
hầu
hết
mọi
biến
cố
trong
đời
sống
sẽ
được
thánh
hóa
nhờ
thánh
ân
xuất
phát
từ
mầu
nhiệm
phục
sinh
của
Chúa
Kitô
chịu
thương
khó,
chịu
chết
và
sống
lại,
vì
Người
là
nguồn
mạch
ban
năng
lực
cho
tất
cả
các
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích.
Hầu
như
không
có
việc
xử
dụng
của
cải
vật
chất
một
cách
chính
đáng
nào
lại
không
có
thể
đưa
tới
mục
đích
thánh
hóa
con
người
và
ca
khen
Thiên
Chúa.
62.
Canh
tân
nghi
thức.
Tuy
nhiên,
trải
qua
các
thời
đại,
có
một
số
yếu
tố
đã
len
lỏi
vào
các
nghi
thức
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích
khiến
cho
bản
chất
và
mục
đích
kém
phần
rõ
ràng
đối
với
thời
đại
chúng
ta.
Vậy
cần
phải
thích
nghi
vài
yếu
tố
trong
các
nghi
thức
đó
cho
hợp
với
nhu
cầu
của
thời
đại
chúng
ta;
nên
trong
việc
duyệt
xét
lại
những
nghi
thức
ấy,
Thánh
Công
Ðồng
quyết
định
các
điều
sau
đây.
63.
Ngôn
ngữ.
Bởi
vì
việc
dùng
tiếng
bản
quốc
trong
khi
cử
hành
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích,
nhiều
lúc
có
thể
rất
hữu
ích
cho
dân
chúng,
nên
sẽ
dành
cho
nó
một
địa
vị
rộng
rãi
hơn,
theo
những
qui
tắc
sau
đây:
a)
Tiếng
bản
quốc
có
thể
được
xử
dụng
trong
khi
cử
hành
các
Bí
Tích
và
Á
Bí
Tích
theo
qui
tắc
khoản
36.
b)
Theo
ấn
bản
mới
của
Sách
Nghi
Lễ
Roma,
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương
phải
soạn
thảo
càng
sớm
càng
hay
các
sách
nghi
lễ
riêng
biệt
thích
nghi
với
nhu
cầu
từng
miền,
cả
về
phương
diện
ngôn
ngữ,
như
đã
bàn
trong
khoản
22-2
của
Hiến
Chế
này.
Sau
khi
đã
được
Tông
Tòa
duyệt
y,
các
sách
này
sẽ
được
xử
dụng
trong
những
miền
đã
soạn
thảo.
Trong
việc
soạn
thảo
các
sách
nghi
lễ
này,
hay
những
sách
đặc
biệt
thu
tập
các
nghi
lễ,
không
được
bỏ
quên
những
huấn
thị
ghi
ở
đầu
từng
nghi
lễ
trong
Sách
Nghi
Lễ
Roma,
dù
là
huấn
thị
về
mục
vụ,
về
qui
tắc
chữ
đỏ,
hay
những
huấn
thị
có
giá
trị
xã
hội
đặc
biệt.
64.
Lớp
dự
tòng.
Phải
cải
tổ
lớp
dự
tòng
cho
người
lớn,
theo
nhiều
giai
đoạn,
và
việc
thực
hiện
phải
tùy
theo
phán
quyết
của
Ðấng
Bản
Quyền
địa
phương.
Nhờ
đó,
thời
gian
dự
tòng
ấn
định
cho
việc
huấn
luyện
tương
xứng
có
thể
được
thánh
hóa
bởi
những
nghi
lễ
thánh
cử
hành
trong
những
thời
gian
kế
tiếp
nhau.
65.
Canh
tân
nghi
lễ
rửa
tội.
Trong
các
xứ
truyền
giáo,
ngoài
những
yếu
tố
đã
có
trong
truyền
thống
Kitô
giáo,
cũng
còn
được
phép
công
nhận
những
yếu
tố
nhập
giáo
khác
vẫn
thấy
xử
dụng
nơi
mỗi
dân
tộc,
miễn
là
các
yếu
tố
đó
có
thể
thích
ứng
với
nghi
lễ
Kitô
giáo,
theo
qui
tắc
khoản
37-40
của
Hiến
Chế
này.
66.
Nghi
lễ
Rửa
Tội
người
lớn.
Phải
duyệt
lại
hai
nghi
lễ
Rửa
Tội
người
lớn,
một
nghi
thức
đơn
giản
và
một
nghi
thức
trọng
thể
tùy
theo
tổ
chức
dự
tòng
được
cải
tổ
lại;
và
sẽ
đem
vào
Sách
Lễ
Roma
một
lễ
đặc
biệt
trong
dịp
"ban
phép
Rửa
Tội".
67.
Nghi
lễ
Rửa
Tội
trẻ
nhỏ.
Phải
duyệt
lại
nghi
lễ
Rửa
Tội
trẻ
nhỏ,
và
thích
nghi
với
thực
trạng
của
trẻ
sơ
sinh.
Hơn
nữa,
vai
trò
và
bổn
phận
của
cha
mẹ
cũng
như
những
người
đỡ
đầu
phải
được
nêu
rõ
hơn
trong
chính
nghi
thức
đó.
68.
Khi
có
đông
người
chịu
phép
Rửa
Tội.
Khi
có
đông
người
chịu
phép
Rửa
Tội,
thì
trong
nghi
lễ
nên
có
những
thích
ứng
tùy
theo
phán
quyết
của
Ðấng
Bản
Quyền
địa
phương.
Ngoài
ra
còn
phải
soạn
thảo
một
nghi
thức
ngắn
hơn,
để
các
thầy
giảng,
nhất
là
trong
các
xứ
truyền
giáo,
và
cách
chung
các
tín
hữu
có
thể
xử
dụng
trong
trường
hợp
nguy
tử
khi
vắng
mặt
linh
mục
hay
các
thầy
phó
tế.
69.
Nghi
thức
bổ
túc.
Thay
vì
nghi
lễ
gọi
là
"nghi
thức
bù
các
phép
cho
các
trẻ
nhỏ
đã
rửa
tội",
phải
soạn
thảo
một
nghi
lễ
mới,
trong
đó
nói
lên
rõ
ràng
và
thích
hợp
hơn
về
điểm
này
là
đứa
nhỏ
được
rửa
tội
theo
nghi
thức
vắn
tắt
cũng
được
nhận
vào
Giáo
Hội
rồi.
Cũng
thế,
phải
soạn
thảo
một
nghi
thức
mới
cho
những
người
trước
kia
đã
chịu
phép
Rửa
Tội
thành
sự,
mà
nay
trở
lại
đạo
thánh
Công
Giáo,
trong
đó
nêu
lên
ý
nghĩa
việc
họ
được
chấp
nhận,
được
hiệp
thông
với
Giáo
Hội.
70.
Ngoài
mùa
Phục
Sinh.
Ngoài
mùa
phục
sinh,
có
thể
làm
phép
nước
rửa
tội
ngay
trong
nghi
lễ
rửa
tội,
theo
một
công
thức
vắn
tắt
hơn
đã
được
chuẩn
nhận.
71.
Canh
tân
nghi
lễ
thêm
sức.
Cũng
phải
duyệt
lại
nghi
lễ
Thêm
Sức
để
làm
sáng
tỏ
hơn
mối
dây
liên
lạc
mật
thiết
của
Bí
Tích
này
với
toàn
thể
nghi
lễ
nhập
Kitô
giáo.
Vì
thế,
nên
lập
lại
lời
hứa
rửa
tội
ngay
trước
khi
nhận
lãnh
Bí
Tích
Thêm
Sức.
Nếu
thấy
tiện,
thì
Bí
Tích
Thêm
Sức
có
thể
cử
hành
trong
Thánh
Lễ.
Còn
khi
cử
hành
ngoài
Thánh
Lễ,
phải
lo
soạn
thảo
một
công
thức
để
mở
đầu
nghi
lễ.
72.
Canh
tân
nghi
lễ
Giải
Tội.
Nghi
Lễ
và
công
thức
Bí
Tích
Giải
Tội
phải
được
duyệt
lại
để
diễn
tả
rõ
ràng
hơn
bản
tính
và
hiệu
quả
của
Bí
Tích
này.
73.
Canh
tân
nghi
lễ
Xức
Dầu
Bệnh
Nhân.
"Bí
Tích
Xức
Dầu
sau
hết"
hay
đúng
hơn
còn
có
thể
gọi
"Bí
Tích
Xức
Dầu
bệnh
nhân"
không
phải
là
Bí
Tích
dành
riêng
cho
những
người
hấp
hối.
Dĩ
nhiên,
thời
gian
thuận
tiện
để
nhận
Bí
Tích
này
chắc
chắn
là
lúc
tín
hữu
bắt
đầu
nguy
tử
vì
bệnh
tật
hay
già
yếu.
74.
Nghi
lễ
liên
tục.
Ngoài
hai
nghi
lễ
tách
biệt
nhau
là
Xức
Dầu
Bệnh
Nhân
và
Trao
Của
Ăn
Ðàng,
phải
soạn
thảo
một
bản
nghi
lễ
liên
tục,
theo
đó
sẽ
xức
dầu
bệnh
nhân
sau
khi
xưng
tội
và
trước
khi
nhận
của
ăn
đàng.
75.
Các
lời
nguyện
trong
nghi
lễ
xức
dầu
bệnh
nhân.
Xức
dầu
mấy
chỗ
là
việc
tùy
nghi,
và
các
lời
nguyện
đọc
trong
nghi
lễ
xức
dầu
bệnh
nhân
phải
được
duyệt
lại
sao
cho
thích
ứng
với
từng
trường
hợp
của
bệnh
nhân
khi
nhận
lãnh
Bí
Tích
này.
76.
Canh
tân
nghi
lễ
Truyền
Chức
Thánh.
Các
Nghi
Lễ
Phong
Chức
phải
được
duyệt
lại
cả
về
nghi
thức
lẫn
bản
văn.
Những
lời
huấn
dụ
của
Ðức
Giám
Mục
ở
đầu
mỗi
nghi
lễ
phong
chức
hay
tấn
phong
có
thể
dùng
tiếng
bản
quốc.
Trong
Nghi
Lễ
Tấn
Phong
Giám
Mục,
tất
cả
các
Giám
Mục
hiện
diện
đều
có
thể
đặt
tay.
77.
Canh
tân
nghi
lễ
Hôn
Phối.
Nghi
lễ
cử
hành
Hôn
Phối,
hiện
có
trong
sách
nghi
lễ
Roma,
phải
được
duyệt
lại
và
làm
phong
phú
hơn,
để
ý
nghĩa
ân
sủng
của
Bí
Tích
này
được
thêm
rõ
ràng
và
nhấn
mạnh
hơn
nữa
bổn
phận
của
hai
vợ
chồng.
"Nếu
ở
miền
nào
có
những
tập
tục
và
nghi
lễ
xứng
đáng
khác
trong
khi
cử
hành
Bí
Tích
Hôn
Phối,
thì
Thánh
Công
Ðồng
tha
thiết
mong
ước
họ
cứ
giữ
nguyên
những
tập
tục
và
nghi
lễ
đó"
1.
Ngoài
ra,
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
bàn
trong
khoản
22?2
của
Hiến
Chế
này,
có
quyền
soạn
thảo,
theo
qui
tắc
khoản
63,
một
nghi
lễ
riêng,
thích
hợp
với
tập
quán
của
các
địa
phương
và
các
dân
tộc.
Tuy
nhiên,
phải
duy
trì
luật
này
là
vị
linh
mục
chủ
tọa
phải
hỏi
và
nhận
lời
ưng
thuận
của
đôi
bên
giao
ước.
78.
Thánh
lễ
cử
hành
Bí
tích
Hôn
Phối.
Theo
thường
lệ,
Hôn
Phối
phải
cử
hành
trong
Thánh
Lễ,
sau
bài
Phúc
Âm
và
bài
giảng
và
trước
"lời
nguyện
giáo
dân".
Lời
nguyện
cho
người
vợ
phải
được
tu
chỉnh
hợp
thời
để
nhấn
mạnh
cả
hai
vợ
chồng
cùng
có
bổn
phận
phải
trung
tín
với
nhau.
Lời
nguyện
này
có
thể
đọc
bằng
tiếng
bản
quốc.
Nhưng
nếu
Bí
Tích
Hôn
Phối
cử
hành
không
Thánh
Lễ,
thì
phải
đọc
bài
Thánh
Thư
và
Phúc
Âm
của
Lễ
Hôn
Phối
trước
khi
bắt
đầu
nghi
lễ
và
luôn
luôn
phải
chúc
lành
cho
đôi
tân
hôn.
79.
Canh
tân
các
á
bí
tích.
Phải
duyệt
lại
các
Á
Bí
Tích,
chú
ý
tới
các
qui
tắc
căn
bản
này,
là
làm
sao
cho
các
tín
hữu
dễ
dàng
tham
dự
một
cách
ý
thức
và
linh
động,
lại
cũng
phải
lưu
tâm
tới
những
nhu
cầu
của
thời
đại
chúng
ta.
Trong
khi
duyệt
lại
các
nghi
thức
theo
qui
tắc
khoản
63,
cũng
có
thể
thêm
các
Á
Bí
Tích
mới
tùy
theo
nhu
cầu
đòi
hỏi.
Sẽ
có
rất
ít
các
nghi
lễ
làm
phép
dành
riêng,
và
khi
đó
chỉ
ưu
tiên
cho
các
Giám
Mục
và
các
Ðấng
Bản
Quyền
thôi.
Phải
dự
liệu
để
những
giáo
dân
nào
có
đủ
các
đức
tính
thích
hợp,
đều
có
thể
cử
hành
một
vài
Á
Bí
Tích,
ít
là
trong
những
hoàn
cảnh
đặc
biệt
và
tùy
theo
phán
đoán
của
Ðấng
Bản
Quyền.
7*
80.
Canh
tân
nghi
lễ
Khấn
Dòng.
Nghi
Lễ
Thánh
Hiến
các
Trinh
Nữ,
đã
có
trong
Sách
Nghi
Lễ
Giám
Mục
Roma,
phải
được
duyệt
lại.
Ngoài
ra,
phải
soạn
thảo
một
nghi
lễ
khấn
dòng
và
tuyên
lại
lời
khấn
sao
cho
có
tính
cách
duy
nhất
hơn,
đơn
giản
hơn
và
trang
nghiêm
hơn.
Những
ai
khấn
dòng
hay
tuyên
lại
lời
khấn
trong
Thánh
Lễ,
phải
dùng
nghi
thức
này,
trừ
khi
có
đặc
quyền
riêng.
Việc
khấn
dòng
cử
hành
trong
Thánh
Lễ
là
một
điều
đáng
khen
ngợi.
81.
Canh
tân
nghe
lễ
An
Táng.
Nghi
lễ
an
táng
phải
diễn
tả
rõ
ràng
hơn
tính
cách
phục
sinh
của
cái
chết
Kitô
hữu,
và
phải
đáp
ứng
hơn
nữa
những
hoàn
cảnh
và
truyền
thống
của
từng
miền,
ngay
cả
về
màu
sắc
phụng
vụ.
82.
Nghi
lễ
an
táng
nhi
đồng.
Phải
duyệt
lại
nghi
lễ
an
táng
nhi
đồng
và
lập
một
Thánh
Lễ
riêng.
Chú
Thích:
1
CÐ
Trentô,
khóa
XXIV,
11-11-1563,
de
reformatione,
ch.
1:
Conc.
Trid.,
x.b.
đã
trích,
IX.
Actorum
phần
VI,
Friburgi
Brisgoviae
1924,
trg
969.
Xem
Rituale
Romanum,
tiết
VIII,
ch
II,
số
6.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Một
vài
Nghị
Phụ
đã
lấy
ví
dụ
các
bậc
cha
mẹ
có
thể
ban
phép
lành
cho
con
cái.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II