VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
1-
HIẾN
CHẾ
VỀ
PHỤNG
VỤ
THÁNH
(SACROSANCTUM
CONCILIUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
ChươngVII
|
Khóa
III
Ngày
04
tháng
12
Năm
1963
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Lời
Mở
Ðầu
1.
Lời
Mở
Ðầu.
Thánh
Công
Ðồng
chủ
tâm
phát
huy
hằng
ngày
đời
sống
Kitô
giáo
nơi
các
tín
hữu,
thích
ứng
hơn
nữa
với
những
định
chế
nào
có
thể
thay
đổi
cho
hợp
với
những
nhu
cầu
của
thời
đại
chúng
ta,
cổ
xúy
những
gì
khả
dĩ
góp
phần
hiệp
nhất
mọi
người
đã
tin
theo
Chúa
Kitô,
và
kiện
cường
những
gì
qui
trợ
cho
việc
mời
gọi
mọi
người
vào
lòng
Giáo
Hội.
Vì
những
lý
do
đặc
biệt
đó,
Thánh
Công
Ðồng
thấy
có
bổn
phận
phải
lo
canh
tân
và
cổ
xúy
Phụng
Vụ.
2.
Vai
trò
của
Phụng
Vụ
trong
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Thật
vậy,
nhờ
Phụng
Vụ,
nhất
là
trong
hiến
tế
tạ
ơn,
mà
"công
cuộc
cứu
chuộc
chúng
ta
được
thực
hiện"
1.
Phụng
Vụ
góp
phần
rất
nhiều
để
giúp
các
tín
hữu
đem
cuộc
sống
mình
diễn
tả
và
biểu
lộ
cho
những
người
khác
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
và
bản
tính
đích
thực
của
Giáo
Hội
chân
chính,
một
Giáo
Hội
có
đặc
tính
vừa
nhân
loại
vừa
thần
linh,
vừa
hữu
hình
vừa
hàm
chứa
những
thực
tại
vô
hình,
vừa
nhiệt
thành
hoạt
động
vừa
chiêm
niệm,
vừa
hiện
diện
nơi
trần
gian
nhưng
đồng
thời
cũng
là
lữ
khách.
Tuy
nhiên,
trong
Giáo
Hội,
yếu
tố
nhân
loại
cũng
qui
hướng
và
lệ
thuộc
vào
yếu
tố
thần
linh,
những
thực
tại
hữu
hình
phải
qui
hướng
về
những
thực
tại
vô
hình,
những
hoạt
động
phải
hướng
về
việc
chiêm
niệm,
và
những
gì
hiện
tại
phải
hướng
về
thành
đô
tương
lai
là
nơi
chúng
ta
đang
tìm
kiếm
2.
Hằng
ngày,
Phụng
Vụ
kiến
tạo
những
người
bên
trong
Giáo
Hội
thành
đền
thánh
trong
Chúa,
thành
nơi
cư
ngụ
của
Thiên
Chúa
trong
Thánh
Thần
3
để
đạt
tới
mức
tuổi
sung
mãn
của
Chúa
Kitô
4.
Nhờ
đó,
Phụng
Vụ
còn
kiện
cường
sức
lực
cho
họ
cách
lạ
lùng
để
rao
giảng
Chúa
Kitô;
và
như
vậy
Phụng
Vụ
cũng
bày
tỏ
cho
những
kẻ
bên
ngoài
thấy
Giáo
Hội
như
một
dấu
chỉ
nêu
cao
trước
mặt
các
dân
nước
5
ngõ
hầu
con
cái
Thiên
Chúa
đang
tản
mác
được
qui
tụ
nên
một
6
cho
tới
khi
thành
một
đàn
chiên
theo
một
Chúa
chiên
7.
3.
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
và
các
Nghi
Lễ
khác.
Vì
vậy
để
cổ
xúy
và
canh
tân
Phụng
Vụ,
Thánh
Công
Ðồng
thấy
cần
nhắc
lại
những
nguyên
tắc
sau
đây
và
thiết
định
những
tiêu
chuẩn
thực
hành.
Trong
những
nguyên
tắc
và
tiêu
chuẩn
này,
có
một
số
không
những
có
thể
và
cần
phải
áp
dụng
cho
Nghi
Lễ
Roma
mà
cho
hết
mọi
Nghi
Lễ
khác,
mặc
dầu
những
tiêu
chuẩn
thực
hành
sau
này
chỉ
phải
hiểu
là
có
liên
quan
tới
Nghi
Lễ
Roma
thôi,
ngoại
trừ
những
gì
tự
bản
chất
là
có
liên
hệ
đến
những
Nghi
Lễ
khác.
4.
Tôn
trọng
tất
cả
các
Nghi
Lễ
được
chính
thức
công
nhận.
Sau
hết,
vẫn
trung
thành
vâng
phục
truyền
thống,
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
rằng:
Giáo
Hội
Mẹ
Thánh
coi
tất
cả
những
Nghi
Lễ
đã
được
chính
thức
công
nhận
đều
bình
đẳng
trên
pháp
lý
và
được
tôn
trọng
như
nhau,
lại
muốn
các
Nghi
Lễ
ấy
được
duy
trì
trong
tương
lai
và
được
cổ
võ
bằng
mọi
cách.
Thánh
Công
Ðồng
cũng
ước
mong,
nơi
nào
cần,
các
Nghi
Lễ
ấy
phải
được
cẩn
thận
tu
chỉnh
cho
toàn
vẹn
theo
tinh
thần
của
truyền
thống
lành
mạnh
và
được
bổ
sung
một
sinh
khí
mới
mẻ
hầu
phù
hợp
với
hoàn
cảnh
và
nhu
cầu
hiện
tại.
Chương
I
Những
Nguyên
Tắc
Tổng
Quát
Ðể
Canh
Tân
Và
Cổ
Võ
Phụng
Vụ
Thánh
I.
Bản
Tính
Và
Tầm
Quan
Trọng
Của
Phụng
Vụ
Thánh
Trong
Ðời
Sống
Giáo
Hội
5.
Thiên
Chúa
muốn
mọi
người
được
cứu
rỗi.
Thiên
Chúa
"muốn
cho
mọi
người
được
cứu
rỗi
và
nhận
biết
chân
lý"
(1Tm
2,4).
"Trước
kia
Ngài
đã
dùng
các
tiên
tri
mà
phán
bảo
tổ
phụ
nhiều
lần,
nhiều
cách"
(Dth
1,1),
và
khi
đã
đến
thời
kỳ
viên
mãn,
Ngài
đã
sai
Con
mình,
Ngôi
Lời
nhập
thể,
được
Thánh
Thần
xức
dầu,
để
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
người
nghèo,
cứu
chữa
những
người
khổ
tâm
8,
như
là
"thầy
thuốc
của
thể
xác
và
tinh
thần"
9,
cũng
là
Trung
Gian
giữa
Thiên
Chúa
và
nhân
loại
10.
Vì
thế,
chính
bản
tính
nhân
loại
của
Người,
hiệp
làm
một
với
Ngôi
Lời,
đã
nên
khí
cụ
phần
rỗi
chúng
ta.
Cho
nên,
nhờ
Chúa
Kitô
"Thiên
Chúa
đã
hoàn
toàn
nguôi
lòng
để
chúng
ta
được
giao
hòa
với
Ngài,
và
cho
chúng
ta
được
phụng
thờ
Ngài
một
cách
hoàn
bị"
11.
Công
cuộc
cứu
chuộc
nhân
loại
và
tôn
vinh
Thiên
Chúa
cách
hoàn
bị
như
thế
đã
được
tiên
báo
trong
dân
Cựu
Ước
qua
những
kỳ
công
vĩ
đại
của
Chúa
nay
lại
được
Chúa
Kitô
hoàn
tất,
nhất
là
nhờ
mầu
nhiệm
phục
sinh
của
cuộc
Khổ
Nạn
hồng
phúc,
việc
Sống
Lại
từ
cõi
chết
và
Lên
Trời
vinh
hiển
của
Người.
Nhờ
đó
"Người
đã
chết
để
tiêu
diệt
sự
chết
cho
chúng
ta
và
sống
lại
để
tái
lập
sự
sống"
12.
Vì
chính
từ
cạnh
sườn
Chúa
Kitô
chịu
chết
trên
thập
giá,
đã
phát
sinh
bí
tích
nhiệm
lạ
là
Giáo
Hội
13.
6.
Công
cuộc
cứu
chuộc
tiếp
nối
do
Giáo
Hội
được
thực
hiện
trong
phụng
vụ.
Vì
vậy,
như
Chúa
Kitô
được
Chúa
Cha
sai
đi
thế
nào,
thì
chính
Người
cũng
sai
các
Tông
Ðồ
đầy
tràn
Thánh
Thần
đi
như
vậy,
không
những
để
trong
khi
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
thụ
tạo
14
các
Ngài
loan
báo
Con
Thiên
Chúa
đã
dùng
cái
chết
và
sự
sống
lại
của
Người
để
giải
thoát
chúng
ta
khỏi
quyền
lực
Satan
15
và
sự
chết,
đồng
thời
dẫn
đưa
chúng
ta
vào
nước
Chúa
Cha,
nhưng
còn
để
các
Ngài
thực
thi
công
cuộc
cứu
chuộc
mà
các
Ngài
đã
loan
báo,
nhờ
Hiến
Tế
và
các
Bí
Tích,
trung
tâm
điểm
của
toàn
thể
đời
sống
phụng
vụ.
Như
vậy,
nhờ
phép
Rửa
Tội,
con
người
được
tháp
nhập
vào
mầu
nhiệm
phục
sinh
của
Chúa
Kitô:
cùng
chết,
cùng
chịu
mai
táng,
cùng
sống
lại
16,
được
lãnh
nhận
tinh
thần
dưỡng
tử,
"do
đó
chúng
ta
xưng
hô
Chúa
là
Abba,
Cha"
(Rm
8,15)
và
như
thế
được
trở
nên
kẻ
phụng
thờ
đích
thực
mà
Chúa
Cha
tìm
kiếm
17.
Cũng
thế,
mỗi
khi
ăn
tiệc
của
Chúa,
họ
loan
truyền
việc
Chúa
chịu
chết
cho
tới
khi
Chúa
lại
đến
18.
Do
đó,
chính
trong
ngày
Hiện
Xuống,
ngày
Giáo
Hội
xuất
hiện
nơi
trần
gian,
"những
người
suy
phục
lời
giảng"
của
Phêrô,
"đều
chịu
phép
Rửa
Tội".
Họ
"kiên
tâm
theo
lời
giáo
huấn
của
Tông
Ðồ,
thông
công
trong
việc
bẻ
bánh
và
cầu
nguyện...
ngợi
khen
Thiên
Chúa,
lại
được
lòng
toàn
dân"
(CvTđ
2,41-42;
47).
Kể
từ
đấy,
Giáo
Hội
không
bao
giờ
bỏ
việc
cùng
nhau
qui
tụ
để
cử
hành
mầu
nhiệm
phục
sinh:
bằng
việc
đọc
"những
lời
chỉ
về
Người
trong
bộ
Thánh
Kinh"
(Lc
24,27),
bằng
việc
cử
hành
Lễ
Tạ
Ơn
trong
đó
hiện
tại
hóa
"sự
vinh
thắng
và
khải
hoàn
nhờ
cái
chết
của
Người"
19,
đồng
thời
"cảm
tạ
Thiên
Chúa
về
ân
điển
khôn
tả
của
Ngài"
(2Cor
9,15)
trong
Chúa
Giêsu
Kitô,
"để
ca
tụng
sự
vinh
hiển
của
Ngài"
(Eph
1,12)
nhờ
quyền
năng
Chúa
Thánh
Thần.
7.
Sự
hiện
diện
của
Ðức
Kitô
trong
phụng
vụ.
Ðể
chu
toàn
công
việc
lớn
lao
ấy,
Chúa
Kitô
hằng
hiện
diện
trong
Giáo
Hội,
nhất
là
trong
các
hoạt
động
phụng
vụ.
Người
hiện
diện
thực
sự
trong
Hy
Lễ,
không
những
trong
con
người
của
thừa
tác
viên,
vì
"như
xưa
chính
Người
đã
tự
dâng
mình
trên
thập
giá
thì
nay
chính
Người
cũng
dâng
mình
nhờ
thừa
tác
vụ
của
các
linh
mục"
20,
nhất
là
hiện
diện
thực
sự
dưới
hai
hình
thái
Thánh
Thể.
Người
hiện
diện
thiết
thực
trong
các
Bí
Tích
nhờ
quyền
năng
của
Người;
vì
thế,
ai
rửa
tội
thì
chính
là
Chúa
Kitô
rửa
21.
Người
hiện
diện
thiết
thực
trong
lời
của
Người
vì
chính
Người
nói
khi
người
ta
đọc
Thánh
Kinh
trong
Giáo
Hội.
Sau
hết
Người
hiện
diện
khi
Giáo
Hội
khẩn
cầu
và
hát
Thánh
Vịnh,
như
chính
Người
đã
hứa:
"Ðâu
có
hai,
ba
người
nhân
danh
Thầy
mà
họp
lại,
Thầy
sẽ
ở
giữa
họ"
(Mt
18,20).
Thực
vậy,
trong
công
cuộc
vĩ
đại
tôn
vinh
Thiên
Chúa
cách
hoàn
hảo
và
thánh
hóa
mọi
người,
Chúa
Kitô
hằng
kết
hiệp
với
Giáo
Hội
là
hiền
thê
rất
quý
yêu
và
Giáo
Hội
kêu
cầu
Người
như
Chúa
mình
và
nhờ
chính
Người
phụng
thờ
Chúa
Cha
Hằng
Hữu.
Vì
thế,
Phụng
Vụ
đáng
được
xem
là
việc
thực
thi
chức
vụ
tư
tế
của
chính
Chúa
Giêsu
Kitô,
trong
đó
công
cuộc
thánh
hóa
con
người
được
biểu
tượng
nhờ
những
dấu
chỉ
khả
giác
và
được
thể
hiện
hữu
hiệu
cách
khác
nhau
theo
từng
dấu
chỉ,
và
trong
đó
việc
phụng
tự
công
cộng
1*
vẹn
toàn
cũng
được
thực
thi
nhờ
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
nghĩa
là
gồm
cả
Ðầu
cùng
các
chi
thể
của
Người.
Do
đó,
vì
là
công
việc
của
Chúa
Kitô
tư
tế
và
Thân
Thể
của
Người
là
Giáo
Hội,
nên
mọi
việc
cử
hành
phụng
vụ
đều
là
hành
vi
chí
thánh,
và
không
một
hành
vi
nào
khác
của
Giáo
Hội
có
hiệu
lực
bằng,
xét
cả
về
danh
hiệu
lẫn
đẳng
cấp.
8.
Phụng
vụ
trần
gian
và
phụng
vụ
trên
trời.
Phụng
Vụ
trần
gian
là
nơi
chúng
ta
tham
dự
bằng
cảm
nếm
trước
Phụng
Vụ
trên
trời,
được
cử
hành
trong
thánh
đô
Giêrusalem,
nơi
chúng
ta
là
những
lữ
khách
đang
tiến
về,
ở
đó
Chúa
Kitô
đang
ngự
bên
hữu
Thiên
Chúa
như
một
thừa
tác
viên
của
cung
thánh,
của
nhà
tạm
đích
thực
22;
Phụng
Vụ
trần
gian
là
nơi
chúng
ta
hợp
cùng
toàn
thể
đạo
binh
trên
trời
đồng
thanh
ca
ngợi
tôn
vinh
Chúa:
trong
khi
kính
nhớ
các
Thánh,
chúng
ta
hy
vọng
được
thông
phần
và
đoàn
tụ
với
các
Ngài;
chúng
ta
mong
đợi
Ðấng
Cứu
Thế
là
Chúa
Giêsu
Kitô
Chúa
chúng
ta,
cho
đến
khi
chính
Người
là
sự
sống
chúng
ta
sẽ
xuất
hiện
và
chúng
ta
cũng
sẽ
xuất
hiện
với
Người
trong
vinh
quang
23.
9.
Phụng
vụ
không
phải
là
hoạt
động
duy
nhất
của
Giáo
Hội.
Phụng
Vụ
Thánh
không
làm
trọn
mọi
hoạt
động
của
Giáo
Hội.
Vì,
con
người
cần
phải
được
mời
gọi
để
tin
và
hoán
cải
trước
khi
có
thể
đến
tham
gia
Phụng
Vụ:
"Làm
sao
họ
kêu
khấn
được
Ðấng
họ
không
tin?
Làm
sao
họ
tin
Ðấng
họ
không
được
nghe?
Làm
sao
họ
nghe
được,
nếu
không
có
người
rao
giảng?
Làm
sao
mà
rao
giảng,
nếu
không
được
sai
đi?"
(Rm
10,14-15).
Vì
thế,
Giáo
Hội
loan
truyền
sứ
điệp
cứu
rỗi
cho
những
kẻ
không
tin,
để
mọi
người
nhận
biết
một
Thiên
Chúa
duy
nhất
và
chân
thật,
đồng
thời
cũng
nhận
biết
Ðấng
Ngài
sai
là
Chúa
Giêsu
Kitô,
và
thống
hối,
hoán
cải
con
đường
của
họ
24.
Còn
đối
với
các
tín
hữu,
Giáo
Hội
phải
luôn
luôn
rao
giảng
đức
tin
và
lòng
thống
hối;
giúp
họ
sẵn
sàng
đón
nhận
các
Bí
Tích,
dạy
họ
giữ
trọn
những
điều
Chúa
Kitô
đã
phán
25,
thúc
giục
họ
tham
gia
mọi
công
cuộc
bác
ái,
đạo
đức
và
tông
đồ;
những
công
cuộc
này
biểu
lộ
rằng:
dầu
các
tín
hữu
không
thuộc
về
thế
gian
nhưng
lại
là
ánh
sáng
thế
gian
và
chính
họ
tôn
vinh
Chúa
Cha
trước
mặt
mọi
người.
10.
Phụng
vụ
là
tột
đỉnh
và
nguồn
mạch
đời
sống
Giáo
Hội.
Tuy
nhiên,
Phụng
Vụ
là
tột
đỉnh
qui
hướng
mọi
hoạt
động
của
Giáo
Hội,
đồng
thời
là
nguồn
mạch
tuôn
trào
mọi
năng
lực
của
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
các
công
lao
khó
nhọc
trong
việc
tông
đồ
đều
nhằm
làm
cho
mọi
người,
nhờ
đức
tin
và
phép
rửa,
trở
nên
con
cái
Thiên
Chúa,
cùng
nhau
qui
tụ
ngợi
khen
Chúa
giữa
lòng
Giáo
Hội,
thông
phần
Hiến
Tế
và
ăn
tiệc
của
Chúa.
Ðáp
lại,
chính
Phụng
Vụ
thúc
giục
các
tín
hữu
đã
được
no
thỏa
"nhiệm
tích
phục
sinh",
phải
trở
nên
"những
người
sống
phối
hợp
trong
tình
yêu"
26.
Phụng
Vụ
nguyện
cầu
"cho
họ
ăn
ở
xứng
đáng
và
trung
thành
giữ
nhiệm
tích
họ
đã
lĩnh
nhận
với
lòng
tin
tưởng"
27.
Việc
tái
lập
giao
ước
của
Chúa
với
con
người
trong
Lễ
Tạ
Ơn
nung
nấu
và
lôi
cuốn
các
tín
hữu
vào
trong
tình
yêu
thúc
bách
của
Chúa
Kitô.
Vì
thế,
chính
Phụng
Vụ,
nhất
là
Lễ
Tạ
Ơn,
như
là
nguồn
mạch
chảy
tràn
ân
sủng
vào
trong
chúng
ta
và
làm
cho
con
người
được
thánh
hóa
trong
Chúa
Kitô
một
cách
hữu
hiệu
đồng
thời
Thiên
Chúa
được
vô
cùng
tôn
vinh;
đó
là
điều
mà
mọi
công
việc
khác
của
Giáo
Hội
đều
qui
hướng
về
như
là
cứu
cánh.
11.
Cần
thiết
chuẩn
bị
tâm
linh
mỗi
người.
Nhưng
muốn
thâu
đạt
được
hiệu
năng
toàn
vẹn
ấy,
tín
hữu
cần
đến
tham
dự
Phụng
Vụ
Thánh
với
tâm
hồn
chuẩn
bị
sẵn
sàng,
ngay
thẳng,
hòa
hợp
tâm
trí
mình
với
ngôn
ngữ,
và
cộng
tác
với
ân
sủng
trên
trời,
để
đừng
nhận
lãnh
ân
sủng
đó
một
cách
vô
ích
28.
Vì
vậy,
các
mục
tử
không
phải
chỉ
chủ
tâm
tuân
giữ
các
lề
luật
trong
các
hoạt
động
phụng
vụ
để
cử
hành
thành
sự
và
hợp
pháp
mà
thôi,
nhưng
còn
phải
làm
cho
các
tín
hữu
tham
dự
Phụng
Vụ
một
cách
ý
thức,
linh
động
và
hữu
hiệu.
12.
Phuụg
vụ
và
sự
cầu
nguyện
cá
nhân.
Tuy
nhiên,
đời
sống
thiêng
liêng
không
chỉ
bao
trùm
trong
việc
tham
dự
Phụng
Vụ
Thánh
mà
thôi.
Bởi
vì
người
Kitô
hữu
được
mời
gọi
cầu
nguyện
chung,
nhưng
cũng
phải
vào
phòng
riêng
âm
thầm
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Cha
29,
hơn
nữa
phải
cầu
nguyện
không
ngừng
30
như
lời
vị
Tông
Ðồ
đã
dạy.
Chính
vị
Tông
Ðồ
này
còn
dạy
chúng
ta
hằng
phải
ôm
ấp
sự
khổ
chế
của
Chúa
Giêsu
được
phô
diễn
trong
xác
thể
hay
chết
của
chúng
ta
31.
Vì
vậy,
trong
Hy
Lễ,
chúng
ta
nguyện
xin
Chúa
"khi
chấp
nhận
của
lễ
linh
thiêng
được
dâng
lên",
Chúa
biến
chính
chúng
ta
trở
nên
"lễ
vật
vĩnh
cửu"
32
của
Chúa.
13.
Các
việc
đạo
đức
khơi
nguồn
từ
phụng
vụ.
Những
việc
đạo
đức
của
dân
Kitô
giáo
bao
lâu
còn
được
thích
hợp
với
các
lề
luật
và
qui
tắc
của
Giáo
Hội
thì
còn
được
khích
lệ
rất
nhiều,
nhất
là
khi
thi
hành
theo
chỉ
thị
của
Tông
Tòa.
Những
việc
thánh
thiện
của
các
Giáo
Hội
địa
phương
cũng
được
đặc
biệt
tôn
trọng,
khi
được
thi
hành
theo
các
chỉ
thị
của
Giám
Mục,
hợp
với
tập
tục
hoặc
các
sách
đã
được
chính
thức
phê
chuẩn.
Nhưng
phải
chiếu
theo
các
mùa
phụng
vụ
để
xếp
đặt
các
việc
ấy
cho
hòa
hợp
với
Phụng
Vụ
Thánh,
để
có
thể
được
coi
là
phát
xuất
từ
Phụng
Vụ
và
để
tiến
dẫn
dân
chúng
đến
Phụng
Vụ,
vì
tự
bản
chất,
Phụng
Vụ
vượt
xa
các
việc
ấy.
II.
Công
Cuộc
Huấn
Luyện
Phụng
Vụ
Và
Tham
Dự
Linh
Ðộng
14.
Tham
dự
các
việc
cử
hành
phụng
vụ
cách
trọn
vẹn.
Mẹ
Giáo
Hội
tha
thiết
ước
mong
toàn
thể
các
tín
hữu
được
hướng
dẫn
tham
dự
các
việc
cử
hành
phụng
vụ
cách
trọn
vẹn
ý
thức
và
linh
động.
Việc
tham
dự
ấy
do
chính
bản
tính
Phụng
Vụ
đòi
hỏi;
lại
nữa,
nhờ
phép
Rửa
Tội,
việc
tham
dự
Phụng
Vụ
trở
thành
quyền
lợi
và
bổn
phận
của
dân
Kitô
giáo,
"là
giòng
giống
được
lựa
chọn,
là
tư
tế
vương
giả,
là
dân
thánh,
là
con
dân
được
tuyển
chọn"
(1P
2,9;
x.
2,4-5).
Trong
việc
canh
tân
và
cổ
võ
Phụng
Vụ
Thánh,
cần
phải
hết
sức
để
tâm
đến
việc
tham
dự
trọn
vẹn
và
linh
động
của
toàn
dân:
vì
Phụng
Vụ
là
nguồn
mạch
trước
tiên
và
thiết
yếu,
từ
đó
các
tín
hữu
phải
múc
lấy
tinh
thần
Kitô
giáo
đích
thực.
Vì
thế,
nhờ
việc
huấn
luyện
cần
thiết,
các
mục
tử
chăn
dắt
các
linh
hồn
phải
nhiệt
tâm
tìm
đạt
được
điều
đó
trong
mọi
hoạt
động
phụng
vụ.
Tuy
nhiên,
sẽ
không
có
một
tia
hy
vọng
nào
đạt
tới
kết
quả
đó,
nếu
trước
tiên
chính
những
mục
tử
chăn
dắt
các
linh
hồn
không
thấm
nhuần
sâu
rộng
tinh
thần
và
năng
lực
của
Phụng
Vụ
cũng
như
không
thành
những
bậc
thầy
trong
lãnh
vực
ấy.
Vì
vậy,
rất
cần
phải
chú
trọng
đến
việc
huấn
luyện
Phụng
Vụ
cho
hàng
giáo
sĩ.
Do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
đã
ra
lệnh
thiết
lập
những
điều
sau
đây.
15.
Huấn
luyện
giáo
sư
phụng
vụ.
Các
giáo
sư
được
ủy
nhiệm
giảng
huấn
môn
Phụng
Vụ
Thánh
trong
các
chủng
viện,
các
học
viện
dòng
tu,
và
các
phân
khoa
thần
học,
phải
được
đào
tạo
đầy
đủ
về
phận
vụ
của
họ
tại
các
trường
chuyên
môn
đặc
biệt.
16.
Việc
giảng
dạy
phụng
vụ.
Trong
các
chủng
viện
và
các
học
viện
dòng
tu,
môn
Phụng
Vụ
Thánh
phải
được
đặt
vào
hàng
các
môn
cần
thiết
và
quan
trọng;
còn
trong
các
phân
khoa
thần
học,
phải
được
đặt
vào
hàng
các
môn
chính.
Hơn
nữa,
môn
Phụng
Vụ
phải
được
giảng
huấn
dưới
khía
cạnh
vừa
thần
học
và
lịch
sử,
vừa
tu
đức,
mục
vụ
và
luật
pháp.
Ngoài
ra
giáo
sư
của
các
môn
học
khác,
nhất
là
tín
lý
thần
học,
Thánh
Kinh,
thần
học
tu
đức
và
mục
vụ,
phải
chú
tâm
làm
nổi
bật
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
và
lịch
sử
cứu
rỗi
theo
những
đòi
hỏi
nội
tại
của
từng
môn
riêng
biệt,
ngõ
hầu
làm
sáng
tỏ
rõ
ràng
mối
liên
hệ
giữa
các
môn
ấy
với
Phụng
Vụ
và
tính
cách
duy
nhất
trong
việc
đào
tạo
linh
mục.
17.
Huấn
luyện
phụng
vụ
cho
chủng
sinh.
Các
giáo
sĩ
trong
các
chủng
viện
và
tu
viện
phải
được
huấn
luyện
về
Phụng
Vụ
cho
đời
sống
thiêng
liêng.
Muốn
được
như
vậy,
họ
cần
phải
được
dẫn
dắt
thích
đáng
để
có
thể
lĩnh
hội
và
tham
dự
những
nghi
lễ
thánh
với
trọn
tâm
hồn,
cả
trong
việc
cử
hành
các
mầu
nhiệm
thánh,
cũng
như
thực
hành
các
việc
đạo
đức
khác
đã
được
thấm
nhiễm
tinh
thần
Phụng
Vụ
Thánh;
cũng
thế,
họ
phải
tập
quen
tuân
giữ
các
lề
luật
phụng
vụ
sao
cho
tinh
thần
phụng
vụ
ảnh
hưởng
sâu
rộng
trên
đời
sống
tại
các
chủng
viện
và
tu
viện.
18.
Trợ
giúp
các
linh
mục
có
trách
nhiệm
mục
vụ.
Các
linh
mục
triều
hay
dòng
đã
làm
việc
trong
vườn
nho
Chúa
phải
được
trợ
giúp
bằng
mọi
phương
tiện
thích
hợp
để
luôn
luôn
lĩnh
hội
đầy
đủ
hơn
những
gì
họ
thi
hành
trong
các
công
việc
thánh,
ngõ
hầu
sống
đời
sống
phụng
vụ
và
thông
ban
đời
sống
ấy
cho
các
tín
hữu
đã
được
ủy
thác
cho
họ.
19.
Huấn
luyện
phụng
vụ
cho
các
tín
hữu.
Những
mục
tử
chăn
dắt
các
linh
hồn
phải
chú
trọng
và
kiên
tâm
theo
đuổi
việc
huấn
luyện
phụng
vụ
cho
các
tín
hữu
và
cho
họ
tích
cực
tham
dự
bên
trong
lẫn
bên
ngoài,
tùy
theo
tuổi
tác,
hoàn
cảnh,
cách
sống
và
trình
độ
văn
hóa
tôn
giáo
của
họ.
Nhờ
vậy
các
mục
tử
sẽ
chu
toàn
được
một
trong
những
trọng
trách
chính
yếu
của
người
trung
thành
phân
phát
các
mầu
nhiệm
Thiên
Chúa.
Ðồng
thời,
trong
công
tác
đó,
các
ngài
phải
dẫn
dắt
đoàn
chiên
mình
bằng
cả
lời
nói
lẫn
gương
lành.
20.
Các
phương
tiện
truyền
thông
và
phụng
vụ.
Các
công
tác
truyền
thanh
và
truyền
hình
về
những
hoạt
động
thánh,
đặc
biệt
về
việc
cử
hành
Thánh
Lễ,
phải
được
thận
trọng
thực
hiện
cách
xứng
đáng
dưới
sự
hướng
dẫn
và
bảo
lãnh
của
người
đủ
khả
năng
do
các
Giám
Mục
ủy
thác.
III.
Việc
Canh
Tân
Phụng
Vụ
Thánh
21.
Canh
tân
toàn
diện
Phụng
Vụ.
Giáo
Hội
hiền
mẫu,
vì
muốn
cho
dân
Kitô
giáo
thâu
đạt
được
dồi
dào
những
ân
sủng
trong
Phụng
Vụ
Thánh
cách
chắc
chắn
hơn,
nên
ước
mong
nhiệt
thành
đảm
trách
việc
canh
tân
toàn
diện
Phụng
Vụ.
Bởi
vì,
Phụng
Vụ
gồm
phần
bất
biến,
do
Thiên
Chúa
thiết
lập,
và
những
phần
có
thể
thay
đổi.
Phần
này
có
thể
hoặc
cũng
phải
sửa
đổi
theo
dòng
thời
gian,
nếu
tình
cờ
có
len
lỏi
vào
những
yếu
tố
rất
ít
đáp
ứng
hoặc
ít
phù
hợp
với
bản
tính
thâm
sâu
của
Phụng
Vụ.
Trong
việc
canh
tân
này,
phải
tu
chính
các
bản
văn,
và
các
nghi
lễ
làm
sao
cho
chúng
diễn
tả
rõ
ràng
hơn
những
thực
tại
thánh
mà
chúng
biểu
thị,
và
để
dân
Kitô
giáo
có
thể
dễ
dàng
thấu
triệt
các
thực
tại
ấy
càng
nhiều
càng
tốt,
cũng
như
có
thể
tham
dự
bằng
việc
cử
hành
những
nghi
lễ
ấy
một
cách
trọn
vẹn,
linh
động
và
cộng
đồng.
Vì
vậy,
Thánh
Công
Ðồng
ấn
định
những
qui
tắc
tổng
quát
sau
đây.
A.
Các
qui
tắc
tổng
quát
22.
Việc
điều
hành
phụng
vụ
thuộc
thẩm
quyền
hàng
Giáo
Phẩm.
1
Việc
điều
hành
Phụng
Vụ
Thánh
tùy
thuộc
thẩm
quyền
duy
nhất
của
Giáo
Hội:
nghĩa
là
thuộc
quyền
Tông
Tòa
và
chiếu
theo
qui
tắc
luật
pháp,
cũng
thuộc
quyền
Giám
Mục.
2
Chiếu
theo
quyền
hạn
đắc
thượng
của
luật
pháp,
việc
điều
hành
phụng
vụ,
trong
các
giới
hạn
đã
định,
cũng
tùy
thuộc
các
loại
hội
đồng
Giám
Mục
khác
nhau,
đã
được
thiết
định
hợp
pháp,
có
thẩm
quyền
trong
từng
địa
phương.
3
Vì
vậy,
tuyệt
đối
không
ai
khác,
dầu
là
linh
mục,
được
lấy
quyền
riêng
tư
thêm
bớt
hay
thay
đổi
một
điều
gì
trong
Phụng
Vụ.
2*
23.
Truyền
thống
và
tiến
bộ.
Ðể
duy
trì
truyền
thống
lành
mạnh
nhưng
đồng
thời
vẫn
mở
rộng
đường
cho
những
tiến
bộ
chính
đáng,
khi
phải
tu
chỉnh
từng
phần
riêng
biệt
của
Phụng
Vụ
phải
luôn
luôn
tiến
hành
việc
nghiên
cứu
kỹ
lưỡng
thần
học,
lịch
sử
và
mục
vụ.
Hơn
nữa
còn
phải
lưu
tâm
đến
những
luật
lệ
tổng
quát
về
cơ
cấu
và
tinh
thần
Phụng
Vụ
cũng
như
kinh
nghiệm
xuất
phát
do
việc
canh
tân
Phụng
Vụ
mới
đây
và
do
các
đặc
miễn
đã
ban
cho
nhiều
nơi.
Sau
hết,
chỉ
nên
thực
hiện
những
đổi
mới
nhất
thời
khi
lợi
ích
thiết
thực
và
chắc
chắn
của
Giáo
Hội
đòi
hỏi
và
sau
khi
đã
cân
nhắc
thấy
rằng
những
hình
thái
mới,
một
cách
nào
đó,
phải
được
triển
nở
có
hệ
thống
từ
những
hình
thái
sẵn
có.
Ngoài
ra,
còn
cần
phải
đề
phòng
hết
sức
có
thể
để
tránh
những
dị
biệt
đáng
kể
của
các
nghi
lễ
giữa
các
miền
lân
cận.
24.
Thánh
Kinh
và
phụng
vụ.
Trong
việc
cử
hành
Phụng
Vụ,
Thánh
Kinh
giữ
vai
trò
tối
quan
trọng.
Thực
vậy,
người
ta
trích
từ
Thánh
Kinh
những
bài
để
đọc,
những
bài
để
dẫn
giải
trong
bài
giảng,
cũng
như
những
ca
vịnh
để
hát.
Chính
nguồn
cảm
hứng
và
sức
phấn
khởi
của
Thánh
Kinh
cũng
làm
xuất
phát
những
lời
kinh,
lời
nguyện
và
những
bài
phụng
ca,
đồng
thời
còn
làm
cho
những
động
tác
và
các
biểu
hiệu
trở
thành
ý
nghĩa.
Vì
vậy,
để
xúc
tiến
việc
canh
tân,
phát
triển
và
thích
ứng
Phụng
Vụ,
cần
phải
phát
huy
lòng
mộ
mến
Thánh
Kinh
đậm
đà
và
sống
động,
đã
được
truyền
thống
khả
kính
của
các
nghi
lễ
Ðông
phương
và
Tây
phương
minh
chứng.
25.
Tu
chỉnh
sách
phụng
vụ.
Cần
phải
nhờ
đến
các
chuyên
viên
và
tham
khảo
ý
kiến
các
Giám
Mục
thuộc
moị
miền
khác
nhau
trên
thế
giới
để
tu
chỉnh
các
sách
phụng
vụ
càng
sớm
càng
hay.
B.
Các
qui
tắc
riêng
biệt
do
bản
chất
Phụng
Vụ
xét
về
phương
diện
hoạt
động
phẩm
trật
và
cộng
đoàn
26.
Bí
tích
hiệp
nhất.
Các
hoạt
động
phụng
vụ
không
phải
là
những
hoạt
động
riêng
tư,
nhưng
là
những
cử
hành
của
Giáo
Hội,
là
"bí
tích
hiệp
nhất",
nghĩa
là
dân
thánh
được
qui
tụ
và
hướng
dẫn
dưới
quyền
của
Giám
Mục
33.
Vì
vậy,
các
hoạt
động
đó
thuộc
về
Thân
Thể
phổ
quát
của
Giáo
Hội,
diễn
tả
và
ảnh
hưởng
trên
Giáo
Hội;
tuy
nhiên
còn
có
liên
quan
khác
nhau
với
từng
chi
thể
riêng
biệt
của
Thân
Thể,
tùy
theo
khác
biệt
về
phẩm
trật,
phận
vụ,
và
sự
tham
dự
hiện
thực.
27.
Ưu
tiên
cho
việc
cử
hành
cộng
đồng.
Khi
các
nghi
lễ,
tùy
theo
bản
chất
riêng
tư
của
chúng,
được
cử
hành
chung
với
sự
tham
dự
đông
đảo
và
linh
hoạt
của
giáo
dân,
nên
ghi
nhớ
rằng
phải
quý
chuộng
việc
cử
hành
cộng
đồng
hơn
việc
cử
hành
đơn
độc
và
có
vẻ
riêng
tư.
Ðiều
này
có
giá
trị
đặc
biệt
cho
việc
cử
hành
Thánh
Lễ,
cho
dầu
bản
tính
công
cộng
và
xã
hội
của
mỗi
Thánh
Lễ
vẫn
luôn
luôn
được
duy
trì;
điều
này
còn
có
giá
trị
cho
việc
ban
phát
các
Bí
Tích.
28.
Cử
hành
phụng
vụ
nghiêm
chỉnh.
Là
thừa
tác
viên
hay
là
tín
hữu,
trong
các
việc
cử
hành
phụng
vụ,
mỗi
người
khi
chu
toàn
phận
vụ,
chỉ
thi
hành
trọn
những
gì
thuộc
lãnh
vực
mình
tùy
theo
bản
chất
sự
việc
và
những
qui
tắc
phụng
vụ.
29.
Chu
toàn
phận
sự
phụng
vụ
đích
thực.
Cả
những
người
giúp,
đọc
dẫn
giải
và
những
người
thuộc
ca
đoàn
cũng
chu
toàn
phận
sự
phụng
vụ
đích
thực.
Vì
vậy,
họ
phải
thi
hành
phận
vụ
mình
với
lòng
đạo
đức
chân
thành
và
trật
tự,
phù
hợp
với
thừa
tác
vụ
trọng
đại
ấy,
và
là
điều
dân
Chúa
có
quyền
đòi
hỏi
nơi
họ.
Vì
vậy,
tùy
theo
năng
cách
mỗi
người,
họ
phải
nhiệt
tâm
thấm
nhuần
tinh
thần
Phụng
Vụ
và
học
hỏi
để
hoàn
tất
các
phần
vụ
mình
theo
đúng
nghi
thức
và
có
trật
tự.
30.
Giáo
dân
tham
dự
linh
động.
Ðể
phát
huy
việc
tham
gia
linh
động,
cần
phải
cổ
xúy
những
lời
tung
hô
của
dân
chúng,
những
lời
đối
đáp,
những
bài
ca
vịnh,
tiền
khúc,
thánh
ca,
và
cả
những
động
tác
hoặc
cử
chỉ,
thái
độ
của
thân
xác.
Cũng
cần
phải
giữ
sự
thinh
lặng
linh
thiêng
đúng
lúc
của
nó.
31.
Vai
trò
của
các
tín
hữu.
Trong
khi
tu
chỉnh
các
sách
phụng
vụ,
cần
phải
thận
trọng
lưu
tâm
để
những
qui
tắc
chữ
đỏ
cũng
tiên
liệu
cả
vai
trò
của
các
tín
hữu.
32.
Phụng
vụ
và
giai
cấp
xã
hội.
Trong
Phụng
Vụ,
ngoại
trừ
sự
biệt
đãi
do
phận
vụ
phụng
vụ
và
Chức
Thánh,
cũng
như
vinh
dự
phải
dành
cho
các
viên
chức
dân
sự
hợp
theo
qui
tắc
các
luật
phụng
vụ,
sẽ
không
có
một
thiên
vị
nào
đối
với
các
tư
nhân
hay
địa
vị,
hoặc
trong
các
nghi
lễ
hoặc
trong
các
việc
long
trọng
bên
ngoài.
C.
Các
qui
tắc
do
bản
chất
giáo
dục
và
mục
vụ
của
Phụng
Vụ
33.
Trong
Phụng
Vụ,
Thiên
Chúa
nói
với
dân
Ngài.
Cho
dầu
Phụng
Vụ
Thánh
đặc
biệt
là
việc
phụng
thờ
Thiên
Chúa
uy
quyền,
nhưng
còn
bao
hàm
việc
giáo
dục
lớn
lao
cho
dân
chúng
trung
thành
34.
Thực
vậy,
trong
Phụng
Vụ,
Thiên
Chúa
nói
với
dân
Ngài;
đồng
thời
Chúa
Kitô
cũng
rao
giảng
Phúc
Âm.
Còn
dân
chúng
đáp
lại
Thiên
Chúa
qua
tiếng
hát
lời
kinh.
Hơn
nữa,
linh
mục,
là
hiện
thân
Chúa
Kitô,
chủ
tọa
cộng
đoàn,
đọc
những
lời
kinh
trực
tiếp
dâng
lên
Thiên
Chúa
nhân
danh
toàn
thể
dân
thánh
và
mọi
người
tham
dự.
Sau
hết,
những
biểu
hiệu
hữu
hình
được
dùng
trong
Phụng
Vụ
Thánh
để
diễn
tả
những
thực
tại
vô
hình
của
Thiên
Chúa
là
những
biểu
hiệu
đã
được
Chúa
Kitô
hoặc
Giáo
Hội
tuyển
chọn.
Do
đó,
không
những
chỉ
đọc
"những
gì
đã
chép
cốt
để
dạy
ta"
(Rm
15,4)
mà
cả
việc
Giáo
Hội
cầu
nguyện,
ca
hát,
hay
hành
động,
đều
nuôi
dưỡng
đức
tin
của
những
người
tham
dự,
nâng
tâm
trí
họ
lên
cùng
Chúa,
để
họ
sáng
suốt
tuân
phục
Ngài,
và
để
lãnh
nhận
ân
sủng
của
Ngài
cách
dồi
dào
hơn.
Vì
vậy,
trong
khi
canh
tân
Phụng
Vụ,
cần
phải
tuân
giữ
những
qui
tắc
tổng
quát
sau
đây.
34.
Hòa
hợp
các
nghi
lễ.
Các
nghi
lễ
cần
phải
chiếu
tỏa
nét
đơn
sơ
cao
quý,
trong
sáng,
vắn
gọn;
phải
tránh
những
lập
đi
lập
lại
vô
ích;
phải
thích
ứng
với
tầm
lĩnh
hội
của
các
tín
hữu,
cách
chung
không
cần
nhiều
lời
giải
thích.
35.
Thánh
Kinh,
bài
giảng
và
bài
giáo
lý
về
phụng
vụ.
Ðể
việc
liên
kết
mật
thiết
giữa
nghi
lễ
và
ngôn
ngữ
được
phát
lộ
rõ
ràng
trong
Phụng
Vụ:
1)
Trong
việc
cử
hành
thánh,
cần
phải
tu
chỉnh
bài
đọc
Thánh
Kinh
cho
dồi
dào
hơn,
thay
đổi
hơn
và
thích
hợp
hơn.
2)
Vì
bài
giảng
là
thuộc
phần
hoạt
động
phụng
vụ,
nên
thời
gian
thích
hợp
để
giảng
giải,
theo
như
nghi
lễ
cho
phép,
phải
được
ghi
trong
các
qui
tắc
chữ
đỏ.
Phải
hết
sức
trung
thành
chu
toàn
thừa
tác
vụ
giảng
giải
đúng
với
nghi
lễ.
Tiên
vàn
bài
giảng
phải
được
múc
lấy
từ
nguồn
Thánh
Kinh
và
Phụng
Vụ,
vì
như
là
việc
rao
truyền
các
việc
kỳ
diệu
của
Thiên
Chúa
trong
lịch
sử
cứu
rỗi
hay
trong
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô.
Chính
mầu
nhiệm
này
hằng
hiện
diện
thiết
thực
và
tác
động
trong
chúng
ta,
nhất
là
trong
các
cử
hành
phụng
vụ.
3)
Còn
phải
dùng
mọi
cách
để
các
bài
giáo
lý
trực
tiếp
nói
về
Phụng
Vụ
hơn.
Và
trong
chính
các
nghi
lễ,
nếu
cần,
linh
mục
hay
thừa
tác
viên
có
thẩm
quyền,
phải
dự
liệu
để
nói
ít
lời
giáo
huấn
vắn
tắt,
nhưng
chỉ
nói
vào
những
lúc
thuận
tiện
nhất,
bằng
những
lời
đã
ấn
định
hay
những
lời
tương
tự.
4)
Phải
cổ
võ
việc
suy
tôn
lời
Chúa
vào
những
ngày
áp
lễ
cả,
cũng
như
trong
vài
ngày
lễ
Mùa
Vọng,
Mùa
Chay,
những
ngày
Chúa
nhật
và
những
ngày
lễ
trọng,
nhất
là
ở
những
nơi
thiếu
linh
mục:
trong
trường
hợp
này,
hoặc
vị
phó
tế
hoặc
ai
khác
được
Giám
Mục
ủy
nhiệm
sẽ
điều
khiển
việc
suy
tôn
lời
Chúa.
36.
Việc
dùng
Latinh
và
việc
dùng
tiếng
bản
quốc.
1
Việc
dùng
tiếng
La
tinh,
trừ
luật
riêng,
phải
được
duy
trì
trong
các
Nghi
Lễ
La
tinh.
2
Tuy
nhiên,
có
thể
sinh
lợi
rất
nhiều
cho
dân
chúng
nếu
dùng
tiếng
bản
quốc
hoặc
trong
Thánh
Lễ
hoặc
trong
việc
Cử
Hành
các
Bí
Tích,
hoặc
trong
những
phần
khác
của
Phụng
Vụ;
cho
nên
việc
dùng
tiếng
bản
quốc
này
cũng
dễ
dàng
được
chấp
thuận
hơn,
đặc
biệt
trong
các
bài
đọc
và
các
bài
giáo
huấn,
một
số
lời
nguyện
và
bài
hát,
tùy
theo
những
qui
tắc
đã
được
ấn
định
cho
mỗi
trường
hợp
trong
những
chương
sau
đây.
3
Khi
đã
tuân
giữ
những
qui
tắc
này
thì
việc
ấn
định
xử
dụng
và
cách
dùng
tiếng
bản
quốc
thuộc
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
bàn
trong
khoản
22-2;
nếu
gặp
trường
hợp
đó,
phải
hội
ý
với
các
Giám
Mục
trong
những
miền
lân
cận
cùng
một
thứ
tiếng.
Mọi
quyết
nghị
cần
phải
được
Tông
Tòa
chấp
thuận
hay
chuẩn
y.
4
Việc
phiên
dịch
bản
văn
La
tinh
ra
tiếng
bản
quốc
để
dùng
trong
Phụng
Vụ
phải
được
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương
nói
trên
chuẩn
y.
3*.
D.
Các
qui
tắc
để
thích
nghi
với
tâm
tính
và
truyền
thống
của
dân
tộc
37.
Giáo
Hội
tôn
trọng
những
vẻ
đẹp
tinh
thần
của
những
dân
nước
khác
nhau.
Ngay
cả
trong
Phụng
Vụ,
Giáo
Hội
không
muốn
ấn
định
một
hình
thái
cứng
rắn,
thẳng
mạch
nào,
trong
những
điều
không
liên
quan
đến
đức
tin
và
thiện
ích
của
toàn
thể
cộng
đoàn.
Hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
tôn
trọng
cũng
như
phát
huy
những
vẻ
đẹp
tinh
thần,
những
đặc
tính
của
những
dân
nước
khác
nhau.
Bất
cứ
những
gì
trong
những
tập
tục
của
các
dân
tộc,
không
liên
quan
chặt
chẽ
đến
những
điều
dị
đoan
và
lầm
lạc,
đều
được
Giáo
Hội
thẩm
định
với
lòng
đầy
thiện
cảm,
và
nếu
có
thể,
còn
được
gìn
giữ
vẹn
toàn
và
vững
chắc.
Hơn
nữa,
đôi
khi
những
tập
tục
đó
còn
được
Giáo
Hội
nhận
vào
trong
Phụng
Vụ,
miễn
sao
cho
chúng
hòa
hợp
với
những
nguyên
tắc
của
tinh
thần
phụng
vụ
đích
thực
và
chân
chính.
38.
Những
khác
biệt
trong
các
xứ
truyền
giáo.
Dầu
vẫn
duy
trì
tính
cách
duy
nhất
thuộc
bản
chất
của
nghi
lễ
Roma,
những
biến
dị
chính
đáng
và
những
thích
nghi
với
các
cộng
đoàn,
các
miền,
các
dân
tộc
khác,
nhất
là
trong
các
Xứ
Truyền
Giáo,
đều
vẫn
được
chấp
nhận,
cả
khi
tu
chỉnh
các
sách
Phụng
Vụ.
Nên
để
ý
đến
qui
tắc
này
trong
việc
ấn
định
cơ
cấu
các
nghi
lễ
và
việc
thiết
lập
các
qui
tắc
chữ
đỏ.
39.
Thẩm
quyền
giáo
hội
địa
phương.
Giữa
những
giới
hạn
được
ấn
định
trong
các
bản
mẫu
của
các
sách
Phụng
Vụ,
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
bàn
trong
khoản
22-2,
có
quyền
xác
định
những
việc
thích
nghi,
đặc
biệt
việc
cử
hành
các
Bí
Tích,
Á
Bí
Tích,
rước
kiệu,
ngôn
ngữ
phụng
vụ,
thánh
nhạc
và
nghệ
thuật.
Tuy
nhiên,
phải
theo
đúng
những
qui
tắc
căn
bản
trong
Hiến
Chế
này.
40.
Phương
cách
thích
nghi
phụng
vụ.
Nhưng
trong
nhiều
nơi
và
trong
nhiều
hoàn
cảnh
khác
nhau,
phải
cấp
bách
thích
nghi
Phụng
Vụ
sâu
xa
hơn,
và
do
đó
gây
nên
nhiều
khó
khăn
hơn,
nên:
1)
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
bàn
trong
khoản
22-2,
phải
thận
trọng
và
khôn
ngoan
cứu
xét
trong
công
việc
này,
những
yếu
tố
nào
thuộc
các
truyền
thống
và
tâm
tính
của
từng
dân
tộc
có
thể
được
chấp
nhận
thích
đáng
vào
việc
phụng
thờ
Thiên
Chúa.
Những
thích
nghi
được
thẩm
định
là
lợi
ích
hay
cần
thiết,
phải
đệ
trình
lên
Tông
Tòa
để
được
kết
nạp
và
chuẩn
y.
2)
Ðể
việc
thích
nghi
được
thực
hiện
với
sự
cẩn
trọng
cần
thiết,
Tông
Tòa
sẽ
ban
phép
cho
Giáo
Hội
địa
phương
để,
nếu
gặp
trường
hợp
đó,
cho
phép
và
điều
khiển
các
cuộc
thí
nghiệm
sơ
khởi
cần
thiết,
trong
vài
cộng
đoàn
hợp
với
mục
tiêu
và
trong
một
thời
gian
hạn
định.
3)
Vì
các
luật
lệ
phụng
vụ
thường
mang
nhiều
khó
khăn
đặc
biệt
cho
việc
thích
nghi,
nhất
là
trong
các
Xứ
Truyền
Giáo,
nên
để
thiết
lập
các
luật
lệ
này,
cần
phải
có
mặt
các
nhà
chuyên
môn
trong
lãnh
vực
đó.
IV.
Việc
Cổ
Võ
Ðời
Sống
Phụng
Vụ
Trong
Giáo
Phận
Và
Trong
Giáo
Xứ
41.
Hiệp
thông
với
giám
mục
giáo
phận.
Giám
Mục
phải
được
xem
như
thượng
tế
của
đoàn
chiên
Ngài;
có
thể
nói
rằng
sự
sống
nơi
các
tín
hữu
của
Ngài
trong
Chúa
Kitô
cũng
phát
xuất
tự
Ngài
và
lệ
thuộc
Ngài.
Vì
vậy,
mọi
người
phải
hết
sức
mến
chuộng
đời
sống
phụng
vụ
của
giáo
phận
chung
quanh
Giám
Mục,
nhất
là
tại
nhà
thờ
chánh
tòa:
họ
phải
xác
tín
rằng
Giáo
Hội
được
đặc
biệt
biểu
lộ
khi
toàn
thể
dân
thánh
Chúa
tham
dự
trọn
vẹn
và
linh
động
vào
những
cử
hành
Phụng
Vụ,
đặc
biệt
trong
cùng
một
Lễ
Tạ
Ơn,
trong
một
lời
nguyện
duy
nhất,
ở
đó
Giám
Mục
chủ
tọa
giữa
linh
mục
đoàn
và
các
thừa
tác
viên
bao
quanh
Ngài
35.
42.
Ðời
sống
phụng
vụ
của
giáo
xứ.
Vì
chính
Giám
Mục
không
thể
đích
thân
hiện
diện
mọi
nơi
mọi
lúc
trong
toàn
thể
đoàn
chiên
thuộc
Giáo
Hội
Ngài,
nên
cần
phải
thiết
lập
các
cộng
đoàn
tín
hữu.
Trong
đó,
nổi
bật
hơn
cả
là
các
giáo
xứ
được
thiết
lập
tại
địa
phương
dưới
quyền
một
mục
tử
thay
mặt
Ðức
Giám
Mục:
bởi
vì
một
cách
nào
đó,
các
giáo
xứ
phản
ảnh
Giáo
Hội
hữu
hình
đã
được
thiết
lập
trên
toàn
cõi
trái
đất.
Vì
thế
phải
cổ
võ
đời
sống
phụng
vụ
của
giáo
xứ
và
mối
liên
hệ
giữa
đời
sống
ấy
với
Giám
Mục
trong
tâm
trí
cũng
như
trong
hành
vi
của
các
tín
hữu
và
của
hàng
giáo
sĩ;
còn
phải
ra
sức
làm
triển
nở
ý
thức
cộng
đoàn
giáo
xứ,
nhất
là
trong
việc
cử
hành
Thánh
Lễ
cộng
đồng
ngày
Chúa
Nhật.
V.
Việc
Phát
Huy
Hoạt
Ðộng
Về
Mục
Vụ
Phụng
Vụ
43.
Canh
tân
Phụng
Vụ
Thánh.
Lòng
nhiệt
thành
cổ
xúy
và
canh
tân
Phụng
Vụ
Thánh
đáng
được
xem
như
một
dấu
chỉ
của
các
ý
định
quan
phòng
của
Thiên
Chúa
trên
thời
đại
chúng
ta,
và
như
cuộc
viếng
thăm
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
Giáo
Hội;
sự
kiện
này
còn
là
một
đặc
điểm
nổi
bật
của
đời
sống
Giáo
Hội,
cũng
như
của
mọi
cách
thế
suy
tư
và
hoạt
động
đầy
tinh
thần
đạo
giáo
của
thời
đại
chúng
ta.
Vì
thế,
để
cổ
võ
hoạt
động
về
mục
vụ
phụng
vụ
tiến
xa
hơn
trong
Giáo
Hội,
Thánh
Công
Ðồng
quyết
định:
44.
Ủy
ban
phụng
vụ
toàn
quốc.
Thẩm
Quyền
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
bàn
trong
khoản
22-2,
nên
thiết
lập
một
ủy
ban
phụng
vụ
với
sự
trợ
lực
chuyên
môn
của
các
chuyên
gia
về
khoa
phụng
vụ,
Âm
Nhạc,
Nghệ
Thuật
Thánh,
cũng
như
mục
vụ.
Nếu
có
thể,
ủy
ban
này
phải
được
một
viện
Mục
Vụ
Phụng
Vụ
nào
đó
giúp
đỡ.
Viện
này
gồm
nhiều
thành
phần,
và
nếu
cần
kể
cả
giáo
dân
xuất
sắc
trong
lãnh
vực
đó.
Dưới
sự
hướng
dẫn
của
Giáo
Hội
địa
phương,
như
đã
nói
trên,
chính
ủy
ban
này
sẽ
phải
điều
hành
hoạt
động
về
mục
vụ
phụng
vụ
trong
phạm
vi
quyền
hạn
mình,
cũng
như
phải
phát
huy
các
cuộc
nghiên
cứu
và
thí
nghiệm
cần
thiết
mỗi
khi
phải
đệ
trình
những
việc
thích
nghi
lên
Tông
Tòa.
45.
Ủy
ban
phụng
vụ
giáo
phận.
Cũng
vậy,
trong
mỗi
giáo
phận
phải
có
một
Ủy
Ban
Phụng
Vụ
Thánh
để
phát
huy
hoạt
động
phụng
vụ,
dưới
quyền
điều
khiển
của
Giám
Mục.
Hơn
nữa,
đôi
khi
cũng
là
việc
chính
đáng
nếu
nhiều
giáo
phận
phối
hợp
với
nhau
thiết
lập
một
Ủy
Ban
duy
nhất
để
cùng
hội
ý
phát
triển
Phụng
Vụ.
46.
Các
ủy
ban
khác.
Ngoài
Ủy
Ban
Phụng
Vụ
Thánh,
trong
mỗi
giáo
phận,
khi
có
thể,
cũng
phải
thiết
lập
các
Ủy
Ban
Thánh
Nhạc
và
Nghệ
Thuật
Thánh.
Ba
Ủy
Ban
này
cần
phải
hiệp
lực
với
nhau
làm
việc,
và
nếu
liên
kết
thành
một
Ủy
Ban
duy
nhất
cũng
là
điều
thích
hợp.
Chú
Thích:
1
Kinh
Dâng
lễ
Chúa
Nhật
thứ
9
sau
lễ
Hiện
Xuống.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Dth
13,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Eph
2,21-22.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Eph
4,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Is
11,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Gio
11,52.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gio
10,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Is
61,1;
Lc
4,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
T.
Ignatiô
thành
Antiokia,
Ad
Ephesios,
VII,
2 :
x.b.
F.X.
Funk,
Patres
Apostolici,
I,
Tubinga
1901,
trg
218.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
1Tm
2,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Sacramentarium
Veronense
(Leonianum):
x.b.
C.
Mohlberg,
Roma,
1956,
số
1265,
trg
162.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Kinh
Tiền
Tụng
Lễ
Phục
Sinh
trong
Sách
Lễ
Roma.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
T.
Augustinô,
Enarr.
in
Ps
CXXXVIII,
2 :
Corpus
Christianorum,
XL,
Turnholti,
1956,
trg
1991
và
lời
nguyện
sau
bài
đọc
thứ
hai
ngày
thứ
bảy
Tuần
Thánh
trong
Sách
Lễ
Roma,
trước
khi
cải
tổ
Tuần
Thánh.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Mc
16,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
CvTđ
26,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Rm
6,4;
Eph
2,6;
Col
3,1;
2Tm
2,11.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Gio
4,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
1Cor
11,26.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
CÐ
Trentô,
khóa
13,
11-10-1551,
Sắc
lệnh
De
SS.
Euch.,
ch.
5:
Concilium
Tridentinum,
Diariorum
Actorum,
Epistolarum,
Tractatuum
nova
collectio,
x.b.
Soc.
Goerresiana,
bộ
VII.
Actorum
phần
IV,
Friburgi
Brisgoviae
1961,
trg
202.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
CÐ
Trentô,
khóa
22,
17-9-1562,
giáo
thuyết
De
SS.
Missae
Sacrificio,
ch.
2:
Concilium
Tridentinum,
x.b.
đã
trích,
bộ
VIII.
Actorum
phần
V,
Friburgi
Brisgoviae
1919,
trg
960.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
T.
Augustinô,
In
Joannis
Evangelium
Tractatus
VI,
ch.
I.
số
7:
PL
35,
1428.
(Trở
lại
đầu
trang)
1*
Các
động
tác
Phụng
Vụ
đều
không
phải
là
động
tác
riêng
thuộc
về
một
cá
nhân
hay
một
nhóm
người
nào
(phụng
tự
riêng
tư)
nhưng
là
động
tác
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Nói
đúng
hơn
đó
là
động
tác
của
chính
Chúa
Kitô,
Thủ
Lãnh
Giáo
Hội
và
của
tất
cả
mọi
chi
thể
trong
Nhiệm
Thể.
Ðầu
và
tất
cả
chi
thể
đều
cầu
nguyện,
đều
hoạt
động
qua
cử
chỉ
và
việc
làm
của
thừa
tác
viên.
Từ
ngữ
"công
cộng"
trong
Phụng
Vụ
hàm
chứa
ý
nghĩa
hoàn
hảo,
nó
chỉ
việc
phụng
tự
của
toàn
thể
một
xã
hội
(ở
đây
tức
là
Giáo
Hội)
với
tư
cách
là
một
xã
hội.
Ví
dụ:
việc
lần
chuỗi
có
thể
được
đọc
chung
nhưng
thực
ra
đó
không
phải
là
lời
cầu
nguyện
phụng
vụ,
mà
vẫn
là
một
động
tác
phụng
tự
"riêng
tư".
Nói
cách
khác
đó
là
việc
cầu
nguyện
của
một
cá
nhân
hay
của
một
nhóm
người.
Trái
lại
Thánh
Lễ,
các
Bí
Tích,
Á
Bí
Tích
và
Kinh
Nhật
Tụng,
dù
chỉ
được
thừa
tác
viên
cử
hành
một
mình
hay
đọc
riêng,
luôn
luôn
vẫn
là
động
tác
phụng
tự
"công
cộng",
là
động
tác
của
Chúa
Kitô
và
của
Giáo
Hội
Người
mà
thừa
tác
viên
cử
hành
là
đại
diện.
Do
đó
sự
công
hiệu
của
lời
nguyện
phụng
vụ
không
do
huân
công
của
thừa
tác
viên
nhưng
do
chính
những
huân
công
vô
bờ
bến
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Kh
21,2
;
Col
3,1
;
Dth
8,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Ph
3,20
;
Col
3,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Gio
17,3
;
Lc
24,27
;
CvTđ
2,38.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Mt
28,20.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Kinh
tạ
lễ
ngày
vọng
lễ
Phục
Sinh
và
Chúa
Nhật
Phục
Sinh
trong
Sách
Lễ
Roma.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
n.v.t.
Kinh
cầu
nguyện
thứ
ba
tuần
Phục
Sinh.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
2Cor
6,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
Mt
6,6.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
1Th
5,17.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
2Cor
4,10-11.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Kinh
dâng
lễ
thứ
hai
tuần
Hiện
Xuống,
trong
Sách
Lễ
Roma.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Phụng
Vụ
là
công
cuộc
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
phổ
quát,
chứ
không
thuộc
về
một
Giáo
Hội
địa
phương
hay
đoàn
thể
đặc
biệt
nào
(x.
số
7).
Do
đó,
tất
cả
mọi
sự
liên
quan
tới
việc
điều
hành
Phụng
Vụ
chỉ
lệ
thuộc
thẩm
quyền
tối
cao
của
Giáo
Hội
mà
thôi.
Các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
và
các
Giám
Mục
nói
chung
chỉ
có
thẩm
quyền
do
Giáo
Hội
thừa
ủy.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
T.
Cyprianô,
De
Cath.
Eccl.
Unitate,
7 :
x.b.
G.
Hartel,
trong
CSEL,
bộ
III,
1
Vienna
1868,
trg
215-216.
Xem
Ep.
66,
số
8,
3:
nhà
xuất
bản
đã
trích,
bộ
III,
2
Vienna
1871,
trg
732-733.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
CÐ
Trentô,
khóa
XXII,
17-9-1562,
Giáo
thuyết
De
SS.
Missae
Sacrif.,
ch.
8:
Concilium
Tridentinum,
nhà
xuất
bản
đã
trích,
bộ
VIII,
trg
961.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Vấn
đề
dùng
tiếng
bản
xứ
trong
Phụng
Vụ
đã
là
một
đề
tài
thảo
luận
sôi
nổi
trong
Công
Ðồng
Trentô.
Công
Ðồng
bấy
giờ
cũng
nhìn
thấy
rõ
ràng
tầm
quan
trọng
của
nó
(x.
DS
1749
và
1759).
Tuy
nhiên
có
Nghị
Phụ
thấy
chưa
phải
là
lúc
"thuận
tiện"
để
thay
đổi
ngôn
ngữ
Phụng
Vụ.
Lập
trường
này
nhằm
chống
lại
phái
Tin
Lành
chủ
trương
phải
dùng
tiếng
bản
xứ
vì
các
Bí
Tích
chẳng
qua
là
phương
tiện
để
khơi
dậy
hoặc
để
tuyên
xưng
đức
tin
(DS
1749).
Vì
lý
do
trên,
La
ngữ
vẫn
được
xử
dụng
trong
các
nghi
lễ
Roma
cho
tới
ngày
nay.
Ðiều
này
được
coi
như
một
dấu
hiệu
hiệp
nhất
rõ
ràng
và
cụ
thể,
và
là
một
bảo
vệ
hữu
hiệu
chống
lại
mọi
sai
lạc
của
nền
giáo
lý
tinh
tuyền
(Mediator
Dei
số
58).
Dầu
sao
Công
Ðồng
Trentô
và
Thông
Ðiệp
Mediator
Dei
cũng
nhận
sự
kiện
La
ngữ
ngăn
trở
giáo
dân
tham
dự
chủ
động
và
tích
cực
vào
các
nghi
lễ
Phụng
Vụ,
nhất
là
để
hiểu
những
bài
đọc
và
những
nghi
thức
hàm
chứa
nhiều
giáo
huấn
cho
giáo
dân.
Vì
vậy
Công
Ðồng
Vaticanô
II
đã
giải
quyết
vấn
đề
đến
nơi
đến
chốn
và
nêu
ra
những
qui
tắc
thiết
thực
cho
việc
xử
dụng
tiếng
bản
xứ
(x.
số
54
và
63).
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
T.
Ignatiô
Antiokia,
Ad
Magn.
7;
Ad
Philm.
4:
Ad
Smyrn.
8 :
x.b.
F.X.
Funk,
đã
trích
dẫn,
I,
trg
236,
266,
281.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II