Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Cứu chuộc và Phục sinh

Tác giả: 
Nguyễn Ước

 

 

Cứu chuộc và phục sinh

 

Kahlil Gibran

Nguyễn Ước dịch

 

I. Đóng đinh Thập giá

(viết trong ngày Thứ sáu Tuần thánh)

 

Hôm nay, vào đúng ngày này mỗi năm, loài người bừng tỉnh khỏi giấc ngủ say và đứng trước bóng ma của các Thời đại, nhìn với đôi mắt đẫm lệ về Núi Sọ để chứng kiến Giêsu Nadareth bị đóng đinh trên Thập giá. . . Nhưng khi ngày qua đi và tới chiều hôm, loài người lại quay về quì gối cầu nguyện trước ngẫu tượng được dựng lên trên mọi gò đồi, mọi đồng cỏ và mọi nơi đổi chác lấy miếng ăn.

 

           Hôm nay, các linh hồn Kitô hữu cưỡi lên đôi cánh ký ức bay tới Jerusalem. Ở đó, họ sẽ đứng thành những đám đông, đấm ngực mình và đau đáu ngó Ngài đầu đội vòng gai, dang hai tay trước trời cao và nhìn từ đằng sau chiếc mạng của Cái chết vào những chốn thẳm sâu của Sự sống.

 

           Nhưng khi màn đêm buông xuống sân khấu ban ngày và vở kịch ngắn ngủi ấy kết thúc, các Kitô hữu sẽ làm thành từng nhóm, trở về nhà rồi ngã mình trong bóng tối lãng quên giữa những chăn màn của mông muội và lười biếng.

 

           Vào ngày độc nhất này của mỗi năm, các triết gia rời hang động tối tăm, các nhà tư tưởng rời căn buồng lạnh lẽo, và các thi sĩ rời lùm cây tưởng tượng của mình; tất cả đến đứng cung kính trên núi đồi tịch mịch đó, lắng nghe tiếng của một người trẻ tuổi nói về những kẻ giết Ngài: "Cha ơi, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm."

 

           Nhưng sau khi thinh lặng của bóng tối làm lịm tắt tiếng nói của ánh sáng, các triết gia, các nhà tư tưởng và các thi sĩ quay về kẽ nứt chật hẹp và khâm liệm linh hồn mình bằng những trang giấy vô nghĩa.

 

           Hôm nay, những phụ nữ thường ngày bận tâm làm đẹp với Cuộc đời, sẽ xỏa tóc đi gặp một người mẹ đau khổ đang đứng trước Thập giá, trông như thể chiếc cây nhỏ nhoi mỏng mảnh trước bão giông cuồng nộ; và khi tới gần bà, họ sẽ nghe tiếng nức nở rất thẳm sâu và tiếng than thở rất tê tái.

 

           Hôm nay, những thanh niên và những thiếu nữ đang chạy đua với con nước lũ văn minh hiện đại, sẽ tạm dừng chân ngoái mặt nhìn lui để thấy Maria Magdala trẻ trung đang rửa bằng nước mắt các vết máu từ chân của Đấng thiêng liêng bị treo giữa Trời và Đất, và khi ánh mắt hời hợt của tuổi hoa niên thấm mệt với cảnh tượng đó, họ sẽ ra đi và chẳng mấy chốc rộn lên tiếng cười ròn rã.

 

           Vào ngày này mỗi năm, Loài người thức dậy với cơn tỉnh giấc của mùa xuân, tới đứng khóc lóc bên Người Nadareth đang chịu khổ hình, và rồi Loài người sẽ khép cả hai mắt, đầu hàng giấc ngủ say. Nhưng mùa xuân vẫn thức, đang mỉm cười tiến bước cho tới khi quyện vào mùa hạ mang y trang vàng rực ngan ngát hương. Loài người là kẻ than khóc, kẻ thưởng thức sự than khóc những hồi ức và những anh hùng của các Thời đại.

 

           . . . Nếu loài người có sự hiểu biết, hẳn nó tận hưởng vinh quang của mình. Loài người giống như đứa bé đứng với niềm vui sướng bên cạnh con thú chấn thương. Loài người cười thành tiếng trước khi cơn nước lũ ngày càng mãnh liệt mang vào quên lãng những cành khô và cuốn trôi tất cả những gì không gắn bó với sự mạnh mẽ.

 

           Loài người xem Giêsu Nadareth như một kẻ sinh trong nghèo khó, chịu khốn khổ và bị sỉ nhục cùng với hết thảy những kẻ yếu. Và Ngài được thương xót vì Loài người tin rằng Ngài bị đóng đinh đau đớn vô cùng. . . Và tất cả những gì Loài người dâng lên cho Ngài là lời kêu khóc, rên rĩ cùng than van. Suốt rất nhiều thế kỷ, Loài người đã thờ phụng sự yếu đuối trong con người của Đấng Cứu thế.

 

           Không, Người Nadareth ấy không yếu đuối! Ngài mạnh mẽ và là người mạnh! Nhưng người đời không chịu để ý tới ý nghĩa thật sự của sức mạnh ấy.

 

           Giêsu không bao giờ sống cuộc sống sợ hãi. Ngài cũng không chết trong khổ đau than van. . . Ngài sống như một thủ lãnh; Ngài bị đóng đinh như một chiến sĩ đấu tranh. Ngài chết với phong thái anh hùng, làm những kẻ giết Ngài và hành hạ Ngài phải run sợ.

 

Giêsu không là con chim với đôi cánh gãy. Ngài là cơn bão thịnh nộ đánh gãy mọi đôi cánh cong. Ngài không sợ hãi kẻ ngược đãi mình lẫn đối thủ của mình. Ngài không khổ sở trước những kẻ giết Ngài. Ngài tự do, dũng cảm và dám đương đầu. Ngài thách thức hết thảy những kẻ bạo ngược và những kẻ áp bức. Ngài nhìn thấy những mụn nhọt hay lây và Ngài cắt bỏ chúng. . . Ngài làm câm lặng Cái ác, Ngài nghiền nát Dối trá và Ngài làm tắc nghẽn Phản bội.

 

           Giêsu không đến từ tâm điểm của vòng tròn Ánh sáng để phá hủy nhà cửa và xây lên trên đó các nhà dòng hay tu viện. Ngài không thuyết phục kẻ mạnh trở thành một tu sĩ hay một tư tế, Ngài đến để gởi tới thế gian một tinh thần mới, với sức mạnh nghiền nát nền móng của bất cứ đế chế nào xây dựng trên xương người và sọ người. Ngài đến để triệt hạ những cung điện uy nghi được xây cất trên huyệt mộ của kẻ yếu, và nghiền nát các ngẫu tượng được dựng lên trên thân xác của người nghèo. Giêsu không được sai tới chốn này để dạy dân chúng xây lên các thánh đường nguy nga và các đền thờ tráng lệ ở giữa những túp lều lụp xụp lạnh lẽo và những nơi cư ngụ tối tăm ảm đạm . . . Ngài đến để làm cho tâm hồn con người thành đền thờ, linh hồn thành bàn thờ và tâm trí thành tư tế.

 

           Đó là các sứ mệnh của Giêsu Nadareth, và đó là những lời giảng dạy mà vì chúng Ngài bị đóng đinh vào Thập giá. Và nếu Loài người khôn ngoan, ngày hôm nay nó sẽ đứng và hát trong sức mạnh của bài ca chinh phục và khúc ca khải hoàn ấy. . .

           Hỡi Giêsu bị đóng đinh, Đấng từ Núi Sọ đang xót xa nhìn cuộc diễu hành buồn thảm của các Thời đại, đang nghe tiếng huyên náo của các quốc gia tối tăm và đang thấu hiểu các giấc mơ của Vĩnh cửu. . . Trên Thập giá, Ngài vinh quang và uy nghiêm hơn một ngàn hoàng đế ngồi trên một ngàn ngai vàng trong một ngàn đế quốc. . .

 

           Trong khổ hình của cái chết ấy, Ngài có quyền năng hơn một ngàn tướng lãnh trong một ngàn cuộc chiến tranh. . .

           Với xót xa của mình, Ngài vui sướng hơn mùa xuân và các đóa hoa của nó. . .

           Với đau khổ của mình, Ngài thinh lặng dũng cảm hơn các thiên thần đang khóc lóc trên trời. . .

           Trước kẻ đánh đập mình, Ngài vững vàng hơn núi đá. . .

           Vòng gai nhọn của Ngài sáng chói và siêu phàm hơn vương miện của Bhram. . .

           Những cây đinh xuyên qua bàn tay Ngài đẹp đẽ hơn quyền trượng của Jupiter. . .

           Những đốm máu rơi vãi trên bàn chân Ngài rực rỡ hơn chuỗi hạt trên cổ Ishtar. . .

           Xin tha thứ cho những kẻ nhu nhược than khóc Ngài hôm nay vì họ không biết khóc than cho chính họ. . .

           Xin tha thứ cho họ vì họ không biết rằng Ngài đã chinh phục sự chết và tuôn sự sống xuống trên kẻ chết. . .

           Xin tha thứ cho họ vì họ không biết rằng sức mạnh của Ngài vẫn đang chờ họ. . .

           Xin tha thứ cho họ vì họ không biết rằng mọi ngày đều là ngày của Ngài. . .

 

Ghi chú:

* Bhram, Jupiter và Ishtar, tên ba vị thần của người La Mã và Trung Đông thời cổ.

 

II. Chiều hôm lễ Phục sinh

 

Đêm buông xuống và bóng tối tràn ngập thành đô cùng với ánh đèn sáng lấp lánh trong các dinh thự, các túp lều và các cửa hàng. Vô số người mặc quần áo lễ hội tập trung đông đảo ngoài đường phố, trên vẻ mặt mỗi người hiện lên dấu hiệu tán thưởng và hài lòng.

 

           Tránh cơn huyên náo của các đám đông, tôi một mình dạo bước và suy tưởng về Con của Con người* mà sự vĩ đại của ngài lúc này đang được dân chúng vinh danh. Đồng thời tôi chiêm nghiệm về vị Thần linh của Mọi thời đại, đấng sinh ra trong nghèo khó, sống công chính và chết trên Thập giá.

 

           Tôi ngẫm nghĩ tới cây đuốc đang cháy, được Thần khí Thánh linh* thắp sáng trong một thôn làng khiêm tốn* ở Syria... Thần khí Thánh linh ấy – đấng thường được biểu hiện bằng chim bồ câu – đang lơ lửng trên mọi thời đại, thâm nhập từ nền văn minh này sang nền văn minh khác qua chân lý của ngài.

 

           Khi tới công viên, tôi ngồi xuống một băng ghế thô tháp. Đưa mắt nhìn xuyên qua mấy hàng cây trụi lá tới những con phố đông đúc, tôi lắng nghe các điệu nhạc và các khúc hát ngân nga của những người tham gia lễ hội.

 

           Sau một giờ đắm mình trong suy tưởng, tôi ghé mắt nhìn sang bên cạnh và kinh ngạc thấy có một người đàn ông đang ngồi sát bên tôi. Ông cầm trong tay một cành cây ngắn và đang vẽ nguệch ngoạc dưới đất những hình thù mơ hồ. Tôi giật mình vì vừa rồi, tôi không thấy, cũng chẳng nghe có tiếng bước chân nào đi tới gần mình. Tuy thế, tôi tự nhủ trong lòng rằng:

 

           “Người này cũng cô đơn chẳng kém gì mình!”

 

           Sau khi quan sát ông ấy từ đầu tới chân, tôi nhận thấy mặc dù tóc để dài và mặc y phục thuộc loại rất cổ lổ, ông có vẻ là người đàng hoàng, đáng cho mình chú ý. Dường như cảm nhận được ý nghĩ bên trong tôi, người ấy nói với giọng trầm lắng:

 

           “Chào con.”

           Tôi lễ phép đáp lại:      

           “Xin chào ông.”

           Ông tiếp tục vẽ và trong tai tôi còn vọng đầy ứ âm thanh dịu dàng lạ thường của lời ông vừa chào tôi. Tôi nói thêm với ông rằng:

           “Có phải ông là người lạ trong thành phố này?”

           Ông đáp:

           “Đúng vậy, ta là người lạ đối với thành phố này và đối với mọi thành phố.”

           Để an ủi ông, tôi tiếp lời:

           “Dân chúng ở đây rất quảng đại và tử tế vì thế người lạ cũng nên quên chỗ đứng bên lề của mình trong các dịp hội hè lễ lạt như thế này.”

           Ông đáp lời tôi bằng giọng mỏi mệt:

           “Trong những ngày như thế này ta là người lạ, hơn bất cứ kẻ nào khác.”

           Nói xong, người ấy ngước nhìn bầu trời trong trẻo. Đôi mắt ông thăm dò các ngôi sao và đôi môi ông mấp máy, như thể đang tìm thấy trên trời cao hình ảnh một quê nhà xa thẳm. Lời nói lạ thường vừa rồi của ông khơi động mối quan tâm của tôi. Tôi nói với ông:

           “Đây là thời điểm trong năm mà dân chúng sống tử tế với nhau; kẻ giàu nhớ tới người nghèo và kẻ mạnh tỏ lòng từ bi đối với người yếu.”

           Ông đáp lại:

           “Quả thật lòng thương xót trong chốc lát của kẻ giàu đối với người nghèo thì cay đắng, và tình cảm của kẻ mạnh dành cho người yếu thì chẳng là gì cả mà chỉ nhắc cho người yếu nhớ tới ưu thế của kẻ mạnh.”

           Tôi khẳng định:

           “Lời nói ấy của ông có giá trị. Tuy thế, người nghèo không cần biết cái gì đang xảy ra trong tâm hồn kẻ giàu, và người đói chỉ mơ tưởng bánh mì mình đang thèm muốn, họ không cần nghĩ tới việc người ta nhào bột và nướng chiếc bánh đó như thế nào.”

           Ông đáp lại:

           “Người nhận thì không bận tâm, nhưng kẻ cho mới là người mang gánh nặng. Kẻ cho phải tự cảnh giác mình rằng tặng phẩm cần đi đôi với một quan điểm về tình yêu mang tính huynh đệ, về sự giúp đỡ trong tình bằng hữu và về việc đừng tự đánh giá mình cao.”

           Tôi kinh ngạc trước sự khôn ngoan của người đàn ông này. Thêm lần nữa, tôi lại bắt đầu ngẫm nghĩ tới vẻ bên ngoài cổ lổ và y phục khác thường của ông. Rồi bỗng dưng nổi cơn rồ dại, tôi nói:

           “Dường như ông đang cần tới sự giúp đỡ. Ông có muốn tôi cho một ít tiền không?”

           Ông trả lời tôi, với nụ cười buồn bã:

           “Đúng, ta đang cần, cần kinh khủng, nhưng không phải cần tiền.”

           Ngạc nhiên, tôi hỏi:

           “Vậy chứ ông cần cái gì?”

           Ông đáp ngay:

           “Ta đang cần một nơi trú ngụ. Ta đang cần một chỗ mình có thể đặt xuống đó chiếc đầu cùng các ý nghĩ của mình.”

           Tôi nhất quyết:

           “Xin ông vui lòng nhận hai đồng đi-na bạc này và tới ở một lữ quán nào đó.”

           Ông trả lời với vẻ hối tiếc:

           “Ta đã thử mọi lữ quán, ta đã gõ lên mọi cánh cửa, nhưng hết thảy đều vô ích. Ta đã vào các cửa hàng bán thức ăn nhưng không một ai lưu tâm giúp đỡ ta. Ruột ta quặn thắt nhưng không phải vì đói. Ta mỏi rã rời nhưng không phải vì mệt. Ta không đang kiếm một mái nhà mà là tìm một nơi ẩn náu có tình người.”

           Tôi nói trong lòng mình rằng:

           “Người này lạ lùng biết mấy! Lần đầu, mình nghe ông ấy nói như một nhà hiền triết; lần thứ hai thì như một kẻ điên khùng.”

           Trong khi tôi thầm thì các ý nghĩ ấy cho cái tai bên trong tôi nghe, ông đăm đăm nhìn tôi. Kế đó, với giọng xuống rất mực buồn phiền, ông nói:

           “Đúng vậy, ta là một kẻ điên khùng. Có điều ngay cả kẻ khùng điên cũng thấy được hắn là một người lạ không nơi cư ngụ, bụng đói không có gì ăn vì trái tim của con người trống rỗng.”

           Tôi tỏ ý xin lỗi ông rằng:

           “Tôi rất tiếc về ý nghĩ thiếu ý thức vừa rồi của mình. Không biết ông có chấp nhận lòng hiếu khách của tôi mà đến ở tạm tại nhà tôi không?”

           Ông trang trọng trả lời:

           “Ta đã từng gõ lên cửa nhà con và lên hết thảy mọi cửa nhà khác một ngàn lần. Ta không nhận được sự đáp trả nào cả.”

           Tới đây, tôi tin chắc đây là một kẻ điên khùng. Và tôi đề nghị:

           “Thế thì chúng ta hãy đi tới nhà tôi ngay!”

           Ông chầm chậm ngẩng đầu lên và nói:

           “Nếu anh biết được thân thế của ta, anh sẽ không mời ta tới nhà mình.”

           Tôi kinh hãi, hỏi lại từng tiếng một:

           “Vậy ông là ai?”

           Bằng cung giọng thét gào của biển cả, người ấy nói nghe như tiếng sấm động nhưng không kém phần cay đắng:

           “Ta là cuộc cách mạng xây dựng những cái bị các dân tộc hủy diệt. . . Ta là cơn bão đánh trốc rễ những cây cối được trồng bởi các thời đại. . . Ta là kẻ đến để gieo rắc chiến tranh trên thế gian chứ không phải hòa bình, vì loài người chỉ bằng lòng sống trong khốn khổ!”

           Với nước mắt chảy ròng ròng trên má, người ấy đứng dậy, thật cao. Sương ánh sáng bốc lên quanh thân ông. Khi ông chìa tay ra, tôi thấy trong lòng bàn tay có dấu đinh đóng. Rối loạn và run lẩy bẩy, tôi phủ phục xuống chân ngài, gào lên rằng:

           “Ôi Giêsu Nadareth!”

           Và tôi nghe ngài nói tiếp:

           “Dân chúng đang ăn mừng lễ hội nhân danh ta và đang đi theo truyền thống được các thời đại thêu dệt quanh tên của ta. Nhưng về phần ta, ta là người lạ lang thang từ phương đông sang phương tây, khắp cả trái đất, và không một ai biết tới ta. Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có chỗ gối đầu.”

           Tới lúc đó, tôi mở mắt, ngước mặt lên nhìn quanh nhưng chỉ thấy một cột khói trước mặt mình. Và tôi chỉ nghe giọng nói run rẩy của trời đêm thinh lặng, đến từ những chốn sâu thẳm của Vĩnh cửu. Trấn tĩnh lại, thêm lần nữa tôi nhìn các đám đông đang ca hát ở đằng xa. Bên trong tôi có giọng nói rằng:

           “Chính sức mạnh bảo vệ con tim đừng bị chấn thương là sức mạnh cản trở con tim dàn rộng tới sự vĩ đại đã được thiết kế bên trong nó. Bài hát có lời thì êm ái, nhưng bài hát của tâm hồn là giọng thuần khiết của trời.”

          

Ghi chú:

* Con của Con người. Son of Man. Tức Giêsu Nadareth, hay Đức Giêsu Kitô. Danh hiệu Con của Người có gốc từ Kinh thánh, được Kahlil Gibran dùng để làm nổi bật bản tính con người trong Giêsu. Theo thần học Kitô giáo, trong Giêsu có hai bản tính: một của Thượng đế và một của Con người. K. Gibran cũng viết riêng một cuốn Jesus the Son of Man, gồm những lời kể của người đương thời với Giêsu về ngài.   

 

* Thần khí Thánh linh. Holy Spirit. Tức Đức Chúa Thánh thần, Ngôi ba Thiên chúa và cũng là Thiên chúa - Tam vị Nhất thể.

 

* Một thôn làng khiêm tốn. Tức Nadareth ở Palestine. Dưới thời cai trị của Đế quốc Ottoman từ thế kỷ 16 tới đầu thế kỷ 20, tỉnh Syria gồm có Syria, Li-băng và Palestine, đất sinh thành của Giêsu.

 

III. Khi Giêsu gõ cổng Thiên đường

 

Cha ơi, cha của con ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Con đang mang theo với con

người bạn đường rất tốt lành.

Hãy mở cổng ra

để chúng con có thể cùng vào.

Chúng con mỗi người và tất cả

đều là con cái của trái tim Cha.

 

Hãy mở cha ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Cha ơi, cha của con ơi,

con đang gõ cổng cha!

Con mang theo với con kẻ trộm

bị đóng đinh với con vào đúng hôm nay,

cho dẫu như thế

hắn là một linh hồn dịu dàng,

và hắn là khách của cha.

Hắn ăn cắp bánh mì vì cơn đói của con cái hắn,

nhưng con biết ánh sáng trong đôi mắt hắn

sẽ làm vui lòng cha.

 

 Cha ơi, cha của con ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Con mang theo với con người đàn bà

đã hiến mình cho tình yêu

và người ta cầm đá lên

để ném vào nàng.

Nhưng vì biết trái tim sâu xa hơn của cha

nên con ngăn họ lạiï.

Trong đôi mắt nàng

những đóa hoa tím không bao giờ héo,

và trên đôi môi nàng

vẫn ở Tháng tư Nisan mùa xuân của cha,

và hai bàn tay nàng

vẫn giữ những ngày mùa gặt của cha

và giờ đây,

nàng sẽ cùng con vào trong nhà cha.

 

Cha ơi, cha của con ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Con mang tới cha kẻ sát nhân,

với ánh chiều tà trên khuôn mặt hắn.

Hắn đi săn vì lũ con thơ

nhưng hắn đã săn thiếu khôn ngoan.

Trên đôi cánh tay hắn

đã ở hơi ấm của mặt trời,

trong mạch máu hắn

đã chảy nhựa của lòng đất,

và hắn thèm muốn bữa ăn cho người thân

nơi bữa ăn bị chối từ.

Nhưng cung tên của hắn đã quá sẵn sàng

và hắn phạm tội giết người,

vì vậy giờ đây

hắn đang ở với con.

 

Cha ơi, cha của con ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Con mang theo với con người nghiện rượu

kẻ khát cái khác hơn thế giới này.

Chính cái khát ấy của hắn

đang ngồi bên bàn ăn của cha.

Nơi bàn tay phải của hắn

có nỗi cô đơn,

bên bàn tay trái của hắn

có cơn hiu quạnh.

Và hắn đăm đăm nhìn vào chiếc cốc,

trong men rượu đó

hắn thấy phản chiếu các ngôi sao của cha.

Hắn uống rất sâu

vì muốn với tới bầu trời của cha

và muốn với tới bản ngã lớn lao hơn của hắn

nhưng trên lối đi ấy hắn lạc đường

và ngã xuống.

Từ bên ngoài quán rượu, cha ơi,

con vực hắn dậy

và hắn đến với con khi đang cười giữa đường đi.

Giờ đây dù làm bạn đồng hành với con

hắn khóc

bởi tâm từ bi làm hắn đau lòng

và vì thế,

con mang hắn tới cổng của cha.

 

Cha ơi, cha của con ơi,

hãy mở cổng cha ra!

Con mang theo với con người cờ bạc

kẻ muốn biến chiếc muỗng bạc của hắn

thành mặt trời bằng vàng.

Hắn y như một con nhện của cha

muốn dệt lưới và chờ đợi

một con mồi cũng đang săn

những con ruồi nhỏ hơn.

Nhưng như mọi kẻ cờ bạc,

hắn trắng tay.

Khi tìm thấy hắn lang thang trên đường phố

và nhìn vào đôi mắt hắn

con biết rằng bạc của hắn chẳng biến thành vàng

và sợi tơ các giấc mộng của hắn đã đứt.

Và con bảo hắn hãy làm bạn đồng hành với con.

Con đã nói với hắn:

"Hãy nhìn gương mặt các anh em của anh

và gương mặt của tôi.

Hãy đến với chúng tôi để cùng đi

tới vùng đất phì nhiêu

ở quá bên kia những ngọn đồi cuộc đời.

Hãy đến với chúng tôi."

Và hắn đến.

 

Cha ơi, cha của con ơi,

Cha đã mở cổng!

Nhìn kìa, các bạn bè của con,

Con đã tìm kiếm họ

nơi gần cùng với nơi xa,

Nhưng họ sợ hãi chẳng dám đến với con

cho tới khi con bộc lộ với họ

lời hứa và ân sủng của cha.

Giờ đây

cha đã mở cổng cha ra

nhận vào và tiếp đón các bạn đồng hành của con.

Trên trần thế không còn những kẻ phạm tội

bị nghiêm cấm

khỏi cửa của cha cùng sự tiếp đón của cha.

Cũng không có hỏa ngục hay luyện ngục.

Chỉ có cha và thiên đường hiện hữu

Và Trần thế, Con người

đứa con tâm hồn của cha già thiên cổ.