Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Người tử tù

Tác giả: 
Trầm Thiên Thu

 

Người tử tù


Quốc gia nào cũng có những tù nhân, đặc biệt là tử tù. Nhưng có một tử tù đặc biệt nhất và là tử tội độc nhất vô nhị: Đức Giêsu Kitô. Nếu ở thời nay thì hẳn là người ta xử bắn Ngài, còn luật Do Thái thời đó là đóng đinh vào Thập giá.

 

Biết mình sắp chết thì đa số đều thấy run sợ, nhưng xử bắn “đùng” một cái thì cũng… không đáng sợ lắm. Vả lại, ngày nay người ta còn cho tử tội ăn thỏa thích trước khi chết. Còn Chúa Giêsu, không được ăn, có chăng là chút giấm chua, lại còn bị sỉ nhục, hành hạ, vác thập giá khi bụng đói – vì bị bắt từ đêm hôm trước, sáng hôm sau bị xử, rồi tự vác thập giá đi đến chiều, không hề được ăn uống gì. “Đặc biệt” hơn là Ngài phải vác thập giá, còn các tử tù khác đâu phải vác. Người ta quá ghét Chúa Giêsu, ghét hết mức, ai cũng ghét!

 

Người Do Thái nói: “Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10:33), và “Chúng tôi có Lề Luật, chiếu theo Lề Luật thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19:7). Có lẽ chúng ta chê dân Do Thái cứng lòng tin và độc ác, nhưng nếu là chúng ta ngày nay thì hẳn là Chúa Giêsu bị đánh tại chỗ chứ không tìm cách bắt lúc khác như dân Do Thái đâu. Họ làm sao hiểu ngay khi con hai ông bà thợ mộc ở một xóm lao động nghèo mà lại bảo là Con Thiên Chúa? Khó tin lắm chứ! Thế nên họ cho là Chúa “lộng ngôn”. Thanh niên ngày nay sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc rút dao đâm ngay nếu ai đó nói “sốc”, thậm chí có người “ra tay” chỉ vì nhìn ngứa mắt, nghĩa là họ không làm gì nên tội cũng đánh chơi vậy!

 

Người ta luôn nói: “Đa số hơn thiểu số”. Nhiều người đồng ý thì đó là đúng, ít người đồng ý thì đó là sai. Đó là luật bất thành văn mà mọi người đều công nhận. Nhưng thực ra đâu phải đa số là đúng. Hạnh tích các thánh cho chúng ta biết đa số vẫn sai, sai vô cùng.

 

Có những con người đầy ác ý. Vì không thỏa mãn nhục dục, hai kỳ mục làm chứng gian cho bà Su-san-na, nhưng Thiên Chúa đã dùng Đa-ni-en minh oan cho bà (x. Đn 13:1-62). Nhiều nhân chứng cũng đâu hẳn là đúng. Người trên muốn đè bẹp người dưới, người ỷ quyền cậy thế muốn chứng tỏ thế lực. Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Nhưng họ quên rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu” (ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước).

 

Ðn 3:1-20 thuật lại: Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo làm một pho tượng bằng vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước, sai người triệu tập các thống đốc, thủ lãnh, tổng trấn, các cố vấn, các quan coi ngân khố, các luật sĩ, thẩm phán và tất cả các quan chức hàng tỉnh đến khánh thành pho tượng. Chính đức vua đã truyền rằng khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn dây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn và đủ thứ nhạc cụ, mọi người phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng, và kẻ nào không sấp mình thờ lạy sẽ bị ném vào đống lửa đang cháy phừng phực. Nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không thờ lạy pho tượng vàng nên vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thịnh nộ. Vua lên tiếng truyền đốt lò lửa mạnh hơn gấp bảy lần và ném họ vào lò lửa, nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không hề hấn gì.

 

Và rồi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói: “Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào Người”.

 

Bà Su-san-na được Đa-ni-en minh oan. Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô được tự do nhờ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo nhận ra Thiên Chúa, và ông đã tuyên bố: “Ta truyền rằng bất cứ người nào thuộc bất cứ dân tộc, giống nòi, ngôn ngữ nào dám nói điều gì sai quấy, phạm đến Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, sẽ bị xử lăng trì, và nhà chúng sẽ trở thành đống bùn, bởi vì không có thần nào khác có thể cứu được như thế”. Những người như vậy được Chúa cứu nhãn tiền.

 

Còn Chúa Giêsu không được minh oan. Mà còn ai dám minh oan, vì ngay các môn đệ thân tín nhất cũng sợ bị liên lụy mà bỏ rơi Ngài rồi. Thế nên, ai có hỏi gì thì Ngài cũng chỉ im lặng, đến nỗi vị thượng tế nói: “Ông không nói lại được một lời sao?” (Mt 26:62). Nói gì khi người ta không muốn nghe, không muốn biết, không muốn hiểu? Làm đúng bị coi là sai, làm gì cũng bị xét nét, cầu nguyện thì như bị làm ngơ, nên Chúa Giêsu đã thốt lên: “Cha ơi! Sao Cha nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:45), nhưng Ngài vẫn nhận ra Ý Cha và sẵn sàng tuân phục. Chỉ khi được hỏi có phải là Con Thiên Chúa hay không thì Chúa Giêsu mới trả lời: “Chính ngài vừa nói” (Mt 26:64).

 

Người ta ghét cay ghét đắng Chúa vì cho rằng Ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, xách động dân chúng. Họ sợ bị lấn quyền mà đổ oan cho Chúa. Cai-pha xác định: Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50). Thật vô lý! Tuy nhiên, đó lại là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm: Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Ga 11:51-52).

 

Trước mắt con người, Giêsu Kitô là một tử tội đáng khinh bỉ, đáng nguyền rủa, đáng bị trừng phạt và “đáng đời” – vì Ngài không bằng tên cướp tử tội Baraba. Nếu chúng ta ở thời đó thì chắc gì chúng ta đã hơn dân Do Thái? Nếu vậy thì thật may là chúng ta có được một đức tin tông truyền hằng ngàn đời qua, thế mà đôi khi chúng ta vẫn không tránh được những lúc chao đảo!

 

Chết không là hết. Chết không là thất bại. Chết là sống muôn đời (Thánh Phanxicô Khó nghèo). La-da-rô đã chết 4 ngày, nặng mùi rồi, thế nhưng ông liền ra khỏi mồ khi Chúa Giêsu gọi đích danh. Và rõ ràng nhất là “người tử tội” Giêsu khả dĩ phục sinh khải hoàn – dù có những người không muốn tin và phao tin đồn nhảm!

 

Lạy Chúa Giêsu, vì vâng lời Chúa Cha và vì muốn cứu độ chúng con mà Ngài phải chết nhục nhã ê chề, xin nâng đỡ và hướng dẫn chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để cùng phục sinh với Ngài. Xin hiệp nhất chúng con và quy chúng con về một mối. Xin cho chúng con nhận ra nhiều cách phụng sự Chúa, và xin đừng để những cách đó trở thành vô ích. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

 

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

============

 Chuyện lịch sự

 

Có những “chuyện lớn” mà không quan trọng, nhưng có những “chuyện nhỏ” mà không hề nhỏ, và rất quan trọng!

 

Lịch sự là lễ phép, và là phép xã giao cơ bản nhất mà ai cũng được giáo dục từ nhỏ, nhưng đôi khi người ta cho là… “chuyện nhỏ”. Ông bà ta nói: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Những “chuyện nhỏ” vậy mà còn phải học! Không ai sinh ra là biết ngay, dù là thiên tài, thế nên ai cũng phải học. Nhưng được học mà có tiếp thu hay không là chuyện khác.

 

Không biết mà không dám nhận mình không biết, đó là “tự ái vặt”. Không biết mà nói mình biết, đó là “chảnh”, là “nổ”. Có những điều nên biết và có những điều không nên biết. La Rochefoucauld nói: Có 3 thứ ngu dốt: Không biết những điều đáng biết, biết không rành mạch những điều phải biết, và biết những điều không cần biết”. Chúa Giêsu nói: “Nếu quý vị đui mù thì quý vị đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây quý vị nói: “Chúng tôi thấy”, nên tội quý vị vẫn còn!” (Ga 9:41).

 

THẤY NGƯỜI…

Alison R. Bishop là người Mỹ nhưng sống tại Việt Nam nhiều năm, và anh thấy “ấn tượng” về cách cư sử của người Việt trong đời sống hàng ngày. Anh than phiền: “Người Việt không biết nói câu ‘xin lỗi’ vì sợ bẽ mặt, mắc cở, dù họ có lỗi rõ ràng. Đó cũng là nguyên nhân gây ra nhiều cuộc cãi vã, ẩu đả vô ích”. Một nhận xét thật xấu hổ và đáng buồn cho chúng ta, những người Việt Nam!

 

Rồi anh kể rằng trên đường đi dự tiệc, anh ngừng xe tại một cây xăng để đổ xăng. Người bán xăng vô ý đổ nhiều quá làm tràn xăng ra ngoài, và xăng bắn lên chiếc áo mới anh đang mặc. Bị dơ áo bất ngờ, anh không biết phải nói sao mà chỉ nhìn chòng chọc vào người đàn ông bán xăng. Người bán xăng cũng không nói lời nào, có vẻ muốn làm ngơ, rồi quay sang phục vụ người khách hàng kế tiếp. Lúc đó, anh cảm thấy rất giận, không hiểu vì sao người bán xăng có thái độ như vậy, không hề nói lời xin lỗi.

 

Lần khác, anh đang ngồi ăn trong tiệm thì thấy miếng nhựa trong bát phở. Anh hỏi nhân viên phục vụ và chủ tiệm nhưng họ chỉ ngây người ra nhìn anh, không nói câu nào. Một lát sau, họ đem cho anh bát phở khác, nhưng họ không thèm nói lời xin lỗi về việc sai sót của mình.

 

Anh nhận xét: “Với thái độ lạnh lùng, vô cảm của người phục vụ và chủ tiệm, tôi ăn mất ngon. Sau khi trả tiền, tôi ra về, trong lòng tự hứa sẽ không bao giờ quay lại tiệm phở này nữa”. Anh cho biết thêm: “Sau khi sống ở Việt Nam nhiều năm, tôi nhận ra được một điều là người Việt không muốn nhận mình làm điều gì sai trái hoặc nói lời xin lỗi. Khi lỗi của họ rõ ràng không thể chối cãi mà họ chỉ phản ứng bằng thái độ lặng thinhné tránh, có khi còn tìm cách cãi lại chứ không nhận trách nhiệm trước mặt người khác”.

 

Những “tội” anh Alison kể ra thật đơn giản: Không lịch sự, không muốn nhận lỗi, không thèm xin lỗi, né tránh trách nhiệm. Thế nhưng “lỗ nhỏ làm đắm thuyền”, lỗi dù nhỏ mà coi thường riết thành quen, khó sửa, và tệ hại hơn là cái sai đó lại nghiễm nhiên được coi là… đúng. Quá nguy hiểm!

 

Anh Alison kể: “Tôi từng phải cãi lộn với những người khác vì họ không chịu nhận mình đã làm điều sai trái. Chuyện này xảy ra tại một bệnh viện khi tôi điền vào biểu mẫu bảo hiểm sức khoẻ. Dù tôi đã điền xong, nhân viên của bệnh viện cứ nhất định cho rằng tôi không thể làm thủ tục bảo hiểm. Về sau tôi được biết rằng cô nhân viên đó đã làm thất lạc mấy biểu mẫu tôi đã điền xong. Lẽ ra, cô ta nên nhận lỗi mình làm mất những mẫu này, nói một câu xin lỗi, và lịch sự đề nghị tôi điền lại các mẫu khác. Tại sao cô ta cứ muốn tranh cãi  về vấn đề này?. Từ nhỏ, cha mẹ tôi đã dạy tôi phải biết nói lời xin lỗi khi mình làm việc gì sai quấy. Trong câu chuyện giữa những người trong gia đình với nhau, cha mẹ tôi vẫn thường nói câu xin lỗi khi làm điều gì sai. Tôi lớn lên trong môi trường mọi người sẵn sàng nói lời xin lỗi để bộc lộ sự quan tâm, sự tử tế, và sự kính trọng lẫn nhau. Thật vậy, việc dạy cách xin lỗi người khác bắt đầu từ trong gia đình và nhà trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tôi thấy nhiều người lớn luôn muốn chứng minh là mình đúng, hiếm khi thấy họ chịu nói câu xin lỗi với trẻ con. Như vậy làm sao họ có thể làm gương cho con cái học cách nói lời xin lỗi được?. Tôi công nhận điều này xảy ra do những dị biệt văn hoá tận căn bản gốc rễ, tôi tin rằng nó bắt nguồn từ tâm lý lo sợ bị mất mặt của dân Việt. Ở Tây phương, chúng tôi cũng coi trọng việc giữ thể diện, nhưng không đến mức giả vờ bỏ qua lỗi lầm của mình, và gây thiệt hại cho người khác”.

 

…MÀ NGHĨ ĐẾN TA

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, nhà đạo đức học thế kỷ XVIII, nói rõ: “Ngọc không mài không thành đồ quí, người không học không biết đạo làm người. Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá, gia vong, mọi tai họa đều bắt đầu từ đó”. Thật đáng quan ngại khi một chuỗi hệ lụy những điều xấu xa và nguy hiểm xảy ra nối tiếp nhau lại được bắt đầu từ những cái rất đơn giản!

 

Hiền triết Khổng Tử xác định: “Có lỗi mà không sửa mới thành ra có lỗi”. Nhân vô thập toàn, không ai lại không có lỗi, hơn thua nhau là biết “đứng dậy”, can đảm nhận lỗi và sửa sai. Biết phục thiện là một nhân đức. Ngạn ngữ Pháp có câu: “Con người ít khi nghĩ mình cần bao nhiêu trí tuệ để đừng bao giờ bị lố bịch”. Vì không “đầu tư” cho phép lịch sự mà người ta dễ mắc sai lầm, dễ bị lố bịch.

 

Dù là ai cũng phải biết nhận lỗi và xin lỗi, vì có khi càng “lớn” càng sai. Càng giấu giếm, càng che đậy, càng tránh né, càng tự hạ giá mình. Nhận lỗi và xin lỗi sẽ được người khác thán phục. Xin lỗi là giao hòa. Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã can đảm xin lỗi công khai về những sai lầm của người Công giáo trước đây. Không ai chê trách mà còn thấy ngài đúng là một vị thánh.

 

Biết nhận lỗi và xin lỗi sẽ giúp chúng ta tìm cách không “lăn vào vết xe cũ”. Né tránh trách nhiệm, không nhận lỗi hoặc đổ lỗi cho người khác sẽ khiến chúng ta càng mất sĩ diện hơn.

 

Chuyện của anh Alison còn “chạm” đến những người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn như gia đình, cha mẹ, phụ huynh, nhà trường, giáo viên,… Chính những người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn cũng phải biết nhận lỗi và xin lỗi, chứ không thể cứ đổ lỗi cho nhau theo “vòng luẩn quẩn”.

 

Không chỉ phải biết nhận lỗi và xin lỗi, chúng ta còn phải biết nói lời cảm ơn, vì đó cũng là một trong những điều cần thiết đối với phép lịch sự cơ bản của con người vậy.

 

Những nhận xét của anh Alison về người Việt Nam chỉ là những điều nhỏ, nhưng chính những điều nhỏ mà chúng ta coi là “chuyện nhỏ” đó lại là “chuyện lớn”, không thể coi thường hoặc làm ngơ! Bạn có cảm thấy “tự ái dân tộc” nổi dậy?

 

TRẦM THIÊN THU