Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Bài 17

   

 

VÀI NÉT VỀ
    CANH TÂN ĐẶC SỦNG CÔNG GIÁO

    TÀI LIỆU * LỜI CHỨNG * CẢM NGHIỆM

 

 

BÀI 17 :LỜI CHỨNG CỦA CHA JOSEPH BENSON

 


Cha Benson, Phó Xứ St. Edward tại New Orleans,
Tổng Giáo Phận New Orleans, Louisiana, USA.



Tôi được thụ phong linh mục tháng 6 năm 1984 tại một thị trán thuộc Belfast, Bắc Ái Nhĩ Lan. Tôi nghĩ rằng mẹ tôi và tất cả mọi người trong cộng đồng đều vui mừng về biến cố này.



Khi mới 16 tuổi tôi đã thưa với bố mẹ tôi là tôi muốn đi tu làm linh mục. Bố tôi là người phu khuân vác bến tàu nên ông kỳ vọng tôi phải làm cái gì cao hơn là linh mục. Mẹ tôi thì thích tôi đi tu, bố tôi mỉm cười và ngồi nhìn vào lò lửa và nói, “Úi dà! Linh Mục!”



Ba năm sau tôi xin vào Dòng Chúa Cứu Thế. Học được ba năm, tôi bỏ về. Khi tôi trở lại, bố tôi là người duy nhất bắt tay tôi vì thương hại. Còn mẹ tôi thì nổi giận vì thằng con bỏ tu. Cái phúc lớn nhất ở Ái Nhĩ Lan là có con đi tu làm linh mục, và cái phúc thứ nhì là có con tàn tật. Tôi nghĩ rằng họ được cả hai trong một! Ở Ái Nhĩ Lan khi đứa con thứ hai tàn tật (đặc biệt là bệnh thần kinh) thì được coi là thật sự có phúc. Theo Gaelic (người thuộc sắc dân Gaelic), điều đó có nghĩa là “Người được Chúa đặt tay lên,” bởi vì được kêu gọi một tình yêu mới, một sức mạnh và sự dấn thân mới cho gia đình. Điều đó luôn làm cho tôi thích thú.



Tôi đã gặp Chúa như thế nào? Tôi lớn lên trong một gia đình cầu nguyện bằng tràng chuỗi Mân Côi. Đó là một gia đình kỳ lạ, có ba người, và tôi là đứa con duy nhất. Đó là một căn nhà với nhiều sự căng thẳng, có những điều tôi hiểu được, có điều không. Bố tôi rất yêu mến tôi và mẹ tôi. Bố tôi cũng yêu ngựa nữa - đặc biệt là con ngựa dùng để đánh “đánh cá,” và ông luôn đánh cá con ngựa về cuối cùng, nhưng không chủ tâm. Khi bị thua mất tiền bạc, ông chuyển sang giai đoạn hai là uống rượu. Vì thế đời sống của tôi luôn căng thẳng, tuần này qua tuần khác.



Sự căng thẳng bắt đầu từ tối Thứ Năm khi bố tôi say rượu về nhà, và kéo dài tới sáng Thứ Bảy thì những tảng băng mới bắt đầu tan chảy. Khi mới 12 tuổi tôi đã gặp một chuyện. Hôm đó là ngày Thứ Bảy, bố mẹ tôi không thể kéo dài sự bất hòa đến buổi chiều, vì đó là lúc phải đi xưng tội. Tôi biết bố mẹ tôi đã làm hòa với nhau tước khi tôi phải cuốc bộ sáu dặm để đi xưng tội nên tôi rất vui mừng. Đó là lần duy nhất bố mẹ tôi được nghỉ ngơi thoải mái.


Tôi học cách phải sống thế nào trong sự căng thẳng, và cũng gặp Chúa thế nào trong tình trạng căng thẳng. Tôi đã nhận ra được quyền năng của Chúa trong những hoàn cảnh không nhìn thấy sự thay đổi.



Thời gian tôi được chữa lành với bố tôi xảy ra ít năm sau (lúc đó tôi 28 tuổi và bố tôi 62), khi ông qua đời vì bệnh ung thư. Bố tôi từ chối không chịu đi bệnh viện. Trong thời gian chăm sóc ở nhà, tôi bắt đầu hiểu biết và yêu mến bố tôi. Bố tôi bị nghẹt van tim chết trong tay mẹ tôi – ông đã xin tha thứ, và nói rằng ông luôn yêu mến bà, và cảm tạ Chúa đã ban cho ông có đời sống và có cơ hội để nói ra cảm nghĩ của mình. Lúc bố tôi chết, tôi không có ở nhà.



Sau những năm tháng cầu nguyện, săn sóc, và hy vọng cho giờ phút này. Hơn 100 người bạn của bố đã tới tham dự đám tang. Họ là những người làm việc cực khổ tại bến tầu, và đã nhiều năm không đến nhà thờ. Họ đã nhìn thấy sự bình an của chúng tôi và được đánh động về tang lễ cử hành cầu cho bố tôi trở về với Chúa.



Ít tháng sau đó có một ông gọi điện thoại rồi đến nói với tôi: “Này cậu, đã hơn 30 năm tôi không đi nhà thờ. Bây giờ tôi đang trở lại nhà thờ và lãnh nhận các bí tích.” Chúng tôi đã nhận ra quyền năng của Chúa. Dường như qua sự qua sự cầu nguyện cho sự hòa giải với một người, một gia đình, mà nhiều người được Chúa đụng chạm tới. Điều đó làm cho tôi ý thức về ván đề gia đình. Tôi có một nhận thức rất mạnh mẽ về gia đình, đặc biệt là vấn đề sống độc thân. Tôi thật sự săn sóc cho đời sống gia đình. Tôi đã nhìn thấy những sự thiếu vắng trong các gia đình, và tôi đã chứng kiến sức mạnh của sự cầu nguyện và đức tin. Chúa đã tỏ hiện cho tôi nhiều điều.


Cảm nghiệm của tôi về sự hiện diện của Chúa giúp tôi trở về với đời sống của Thánh Phaxicô Assisi. Tôi rất cảm phục và yêu mến Thánh Phaxicô. Ngài dạy tôi cầu nguyện: “Lạy Chúa, mọi sự của con là của Chúa.” Tôi còn nhớ, ngay từ tuổi 13, mỗi đêm tôi đã cầu nguyện như vậy cho bố mẹ tôi. Tôi cầu nguyện cho những đau khổ và cô đơn mà tôi phải trải qua. Một đêm nọ vào năm 1967, trong lúc đang cầu nguyện, tôi đã được Chúa đánh động rất mạnh mẽ. Tôi đã thực sự cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa, và ngay sau đó, tôi muốn được hiến dâng đời sống cho Ngài. Tôi cảm tạ Chúa và tiếp tục nuôi dưỡng ý định ấy.


Bắt đầu từ đó, Chúa tỏ lộ tình yêu của Ngài. Tôi bắt đầu thay đổi.


Có rất nhiều thách đố tại quê hương tôi lúc đó. Ái Nhĩ Lan ở trong tình trạng rất căng thẳng, nhân quyền bị tước đoạt. Chúng tôi không có đời sống xã hội tươi đẹp ở tuổi trung học, bởi vì phải tập trung vào chính trị và những thực trạng xã hội.
Để làm người Công Giáo, chúng tôi phải sống đời sống gần như anh hùng. Chúng tôi là gia đình Công Giáo duy nhất trong khu vực đó, và trở thành người Công Giáo có nghĩa là phải đương đầu với việc bị ném đá. Tôi đã bị đánh nhừ tử nhiều lần suýt chết.

Ý thức của tôi về sự sống rất sắc bén trong môi trường đó. Tôi có một nhận thức sâu xa về tội, và tội có thể ảnh hưởng ra sao trên cuộc sống của tôi, đồng thời tôi cũng nhận thức được ân sủng của Chúa.
Một trong những tài năng của bố tôi là ông phối hợp được sự mềm dẻo và cứng rắn. Trong những lúc gặp sự yếu đuối thì bố tôi lại mạnh mẽ. Bố tôi đã dạy tôi rằng có sức mạnh trong sự yếu đuối, và đôi khi yếu đuối lại là mặt khác của sức mạnh.
Là một người Ái Nhĩ Lan tới sống trong một nền văn hóa khác, tôi thường nhìn vào những gì yếu kém trong trận chiến. Tôi vạch chúng ra, và trả giá!



Tôi đã tới tham dự nhiều buổi cầu nguyện chữa lành nội tâm trong giáo xứ. Tôi luôn bị gắng chặt với sự cô đơn và cay đắng, nghĩ mình đáng lẽ phải có được bố mẹ tốt lành hơn v.v… Dù thế nào thì Chúa cũng đã ban cho tôi bố mẹ, Và kết quả là, bố mẹ là bố mẹ, và tôi là tôi. Cảm tạ Chúa.



Tôi được Dòng Chúa Cứu Thế chấp nhận năm 18 tuổi. Họ tưởng rằng tôi sẽ mãi mãi bước theo ơn gọi. Nhưng tôi đã bỏ Dòng trở về nhà cha mẹ với một lô danh sách đủ loại nhu cầu. Bầu khí gia đình lặng câm như chết chóc. Tôi cảm thấy có cái gì sai lầm. Bố tôi không thể đối diện với tôi, vì thế mẹ tôi nói với tôi, “Mày không phải là con ruột. Mày là đứa con nuôi, nhưng còn là đứa con hoang!”


Này tôi đây, tôi đang cố gắng bước vào một tổ chức tu trì dưới lề luật cũ. Khi tôi trở lại với vị linh mục Dòng Chúa Cứu Thế và báo tin cho ngài, ngài nhìn tôi và nói: “Ở đâu có ý muốn, ở đó có con đường.” Tôi quay sang Thánh Alphôngsô là Quan Thầy thần học luân lý, và cầu xin, “Lạy Thánh Alphôngsô, xin chỉ cho con con đường.”


Tôi được phép gia nhập Dòng Chúa Cứu Thế một cách rất thận trọng và sống trong một chủng viện 65 người. Bốn mươi là chủng sinh, số còn lại là linh mục và các thầy. Đó là kinh nghiệm lần đầu tôi sống chung trong một nhóm đông người. Tôi là đứa con một, một thằng ngóc được bố tôi chiều chuộng và yêu thương hơn hết mọi sự. Bố tôi thường uống rượu say và về nhà mỗi Thứ Năm. Ông ném mình ngồi xuống ghế và nghe mẹ tôi giảng thuyết khoảng nửa giờ, rồi với một nụ cười thật lớn, ông thọc tay vào túi lôi ra cho tôi đủ thứ: hoặc mấy lon Coke, kẹo Chocola, hoặc báo tranh chuyện vui, v.v... Mẹ tôi chỉ còn biết kêu lên: “Tao chịu thua!” Bố tôi là loại người như vậy.


Tôi vào chủng viện và sống sự va chạm văn hóa với 65 người khác. Bạn thử tưởng tượng, mỗi sáng đánh răng với hàng chục người khác mà trước đó mình chưa bao giờ làm thế. Tôi quen nếp sống gia đình, trước kia đi tắm tự do thoải mái, bây giờ phải xếp hàng đứng đợi. Phòng óc chật chội, người nọ đụng nách người kia. Một cộng đoàn sinh sống theo kiểu kỳ lạ làm chúng tôi nhận ra thực chất con người của mình.



Khi còn nhỏ tôi thường hay nổi giận. Tôi đã trải qua những năm giận dữ trước khi vào chủng viện. Tôi biết cách phóng một cái búa trúng người ta mà không thể sai trật. Bạn coi đó, tôi phải cần bao nhiêu ơn Chúa để làm cho thay đổi?
Trong thời gian ở chủng viện tôi đã gặp và làm thân với một anh chàng tên là Des. Chúng tôi trở thành những người cấp tiến tại chủng viện trong những năm 1970. Chúng tôi là những kẻ đã đem kinh hoàng cho Dòng Chúa Cứu Thế.
Tôi không kể cho ai biết tôi là con nuôi. Tôi không thể làm điều đó. Thỉnh thoảng Des hỏi tôi có chuyện gì kín ẩn. Một lần nọ anh đến phòng tôi, khóa cửa lại, giữ chìa khóa và bắt tôi phải kể nếu không anh sẽ không ra về. Khi kể cho anh xong, anh nhìn tôi và nói: “Vậy sao? Dù anh là ai tôi vẫn quý mến và kính trọng anh.” Tôi đã đập bể vỏ trứng và chui ra, vì tình bạn.
Khi còn học chung với các chủng sinh Dòng Chúa Cứu Thế, tôi có đọc qua tập sách nhỏ của Ralph Martin tựa đề Unless the Lord Build the House. Tôi rất mê cuốn sách đó, và đưa cho Des để anh duyệt lại cho tôi. Tập sách đó nói về Canh Tân Đặc Sủng Thánh Linh, với những lời chia sẻ của Ralph Martin làm chứng rằng Chúa đã thay đổi đời sống của anh như thế nào. Lời chứng đó đã khuấy động lên trong tôi và tôi nói, “Tôi muốn được như vậy. Tôi muốn được như vậy.” Sau khi đọc xong cuốn sách, Des đem trả lại cho tôi và nói, “Chớ đụng tới nó. Một lũ điên!” Tôi nói, “Ok, tốt.”


Mùa hè năm đó Des được sai đi Nữu Ước và tôi Luân Đôn. Anh cảm thấy vui mừng đi Nữu Ước, còn tôi, một người Ái Nhĩ Lan, cảm thấy như bị án phạt phải đi tới thủ đô nước Anh. Tôi vướng mắc vào công việc mục vụ tại Luân Đôn, còn anh lại vướng mắc vào Canh Tân Đặc Sủng tại Nữu Ước!

Trong chuyến trở về nhà từ Nữu Ước, anh gọi cho tôi từ phi trường và nói, “Joe ơi! Tôi được ơn thanh tẩy trong Chúa Thánh Linh.” Tôi múa tay qua điện thoại rồi la lớn, “Des bị Chúa đập bể rồi!” Từ đầu giây bên kia Des nói tiếp, “Joe, cậu đoán thử xem? Tôi được ơn nói tiếng lạ nữa!” Tôi dám chắc rằng Des đã bị đập bể thật rồi. Anh đã bảo tôi đừng dính líu vào Canh Tân Đặc Sủng Thánh Linh, cả một lũ điên! Thế mà giờ đây anh lại dính líu vào lũ điên và để cho lũ điên bắt chộp!
Anh trở lại chủng viện và trong suốt một tuần lễ mọi người để ý thấy anh chỉ im lặng. Anh không phải là người cấp tiến. Với chiều cao 6 feet và nặng 250 cân Anh, anh không chỉ có thể vượt qua một người bằng sức mạnh thể xác, nhưng còn bằng sự hiểu biết nữa. Thật đáng chú ý khi mọi người thấy anh giờ đây ngồi cầu nguyện trong những lúc không phải là giờ cầu nguyện!


Anh đem đến cho tôi một cuốn nhỏ tựa đề “Khóa Học Hỏi Đời Sống Mới Trong Chúa Thánh Linh” và nói: “Joe, ráng đọc cuốn này và cho tôi biết ý kiến.” Đây là lần đầu trật tự bị đảo ngược. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách đó và ba mươi phút sau anh trở lại phòng tôi và hỏi tôi đã đọc chưa. “Anh nghĩ gì về cuốn sách đó, Joe?” “Rất tốt,”tôi trả lời. Anh nói tiếp: “Để tôi cầu nguyện với anh.” “Được.” Và anh đã cầu nguyện với tôi. Khi đó là tháng Chín năm 1972. Anh bắt đầu cầu nguyện: “Xin ban ơn cho Joe.” Anh ngừng lại và hỏi tôi: “Cậu cảm thấy thế nào?” Rồi anh lại tiếp tục: “Lạy Chúa xin ban ơn, lòng mến và bình an cho Joe.” Rồi anh lại quay sang hỏi tôi: “Cậu cảm thấy thế nào?” Rồi anh lại tiếp tục cầu nguyện: “Xin Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Joe.” Rồi anh lại hỏi: “Cậu cảm thấy thế nào?” Cứ mỗi lần anh cầu nguyện xong một câu lại hỏi tôi: Cậu cảm thấy thế nào?” Anh rất băn khoăn lo lắng. Tôi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin làm việc với con.” Tôi tiếp tục nói với anh, tôi chẳng cảm thấy gì cả. Tôi chẳng cảm thấy gì ngoài sự bình an rất sâu đậm trong tâm hồn.


Phải mất khoảng ba tháng sau tôi mới nhận ra rằng sự bình an đó đã cắt ngang những năm dài lo âu của tôi. Sự bình an đó nói với tôi: “Để Ta thánh hóa con cho Ta.” Sự bình an đó nói: “Tại sao con lo lắng về những gì con không thể kiểm soát được?” Sự bình an đó nói với tôi: “Tại sao con bất an? Người khác chẳng những chấp nhận con mà họ còn khâm phục con nữa mà.”



Des và tôi thành lập một nhóm cầu nguyện tại Galway, nhóm thứ nhì tại Ái-nhĩ-lan bên ngoài Dublin. Vì đó là căn nhà của Dòng Chúa Cứu Thế nên tất cả các thày và các nữ tu đều tới tham dự các buổi cầu nguyện. Nhà dòng cho phép như vậy bởi vì đó là việc tốt. Canh Tân Đặc Sủng đã tràn tới Miền Tây Ái-nhĩ-lan và biến hai ngừơi bất an nhất thành hai ngừơi lãnh đạo.



Hầu hết người ta đi vào Canh Tân với khóa học hỏi kéo dài 7 tuần lễ, nhưng tôi đã không tham dự khóa nàom chỉ đọc cuốn sách của Ralph Martin. Ba tháng sau ngày bắt đầu nhóm cầu nguyện, chúng tôi đi tham dự buổi hội thảo dành cho các cán bộ điều hợp toàn quốc. Chúng tôi tự nhìn vào bản thân mình và nói: “Chúa đang làm gì nữa đây?”


Có một điều là sự vui nhộn. Tôi không muốn được ơn tiếng lạ. Tôi nói: “Lạy Chúa, xin cứ để con mãn nguyện với sự bằng an và thinh lặng gặp gỡ Chúa trong nhà nguyện là đủ rồi. Xin đừng ban cho con cái ơn ngớ ngẩn đó.” Des đã nhiều lần cố gắng cầu nguyện cho tôi được ơn tiếng lạ, nhưng lần nào tôi cũng chặn lại. Một tối nọ trong giờ cầu nguyện họ bắt đầu hát: “For You Are My God,” tôi được đánh động. Tôi đứng giơ hai tay lên và bắt đầu hát trong tiếng lạ. Tất cả mọi ngừơi đều ngưng lại. Tôi nói: “Ô, không! Không! Không!” Tôi đã đi tham dự khóa tĩnh tâm bốn ngày và xin Chúa lấy khỏi tôi cái ơn tiếng lạ đó. Ngài đã làm tôi thỏa lòng. Nhưng tôi lại đi tham dự bốn ngày nữa và xin Chúa ban lại cho tôi cái ơn kỳ lạ đó. Ngài nói với tôi: “Ta sẽ làm cho con theo đường lối của Ta. Con cứ việc mở lòng ra. Ta sẽ đưa con đến nơi nào con muốn.” Tôi đã thưa “Xin vâng” với Chúa.


Tôi đã rời khỏi chủng viện một thời gian, và tôi thật sự đau buồn vì diều đó. Trong vòng ít tháng, Chúa mặc khải cho một vài người thấy trước hình ảnh một chiếc bình đất được nặn ra. Và tôi cũng được một vài người nói cho biết những lời giống như vậy. Một cái gì đó được phục hồi. Tôi trở thành một người dạy môn tôn giáo toán.


Lời hứa của Chúa thực hiện trong đời sống của tôi luôn được liên kết với thánh Phanxicô Assisi. Đã hai lần tôi xin thánh Phanxicô cầu bầu cho tôi, tôi đều được như ý. Lần đầu tôi đến Assisi cầu xin thánh Phanxicô giúp tôi đi tu làm linh mục. Lần thứ hai tôi tới đó cầu xin, và ba năm sau tôi đã quyết định trở thành linh mục.


Lời Chúa đến với tôi đôi khi giống như thế này: “Hãy bỏ thân bằng quyến thuộc và nhà cha ngươi, và hãy tới miền đất Ta sẽ ban cho ngươi." Những lời đó dường như chẳng bao giờ có ý nghĩa gì đối với tôi. Ngày đầu tiên tôi tới nước Anh năm 1982, tôi được một người ra đón tại phi trường, người ấy nói: “Bạn đã bỏ thân bằng quyến thuộc và nhà cha bạn để tới đây?” Người ấy chẳng hiểu điều mình nói gì, tôi trả lời: “Tôi xin bạn thứ lỗi?” Anh lại lập lại câu nói vừa rồi một lần nữa. Tôi nói: “Vâng, lạy Chúa, thật hiển nhiên, Chúa đã đưa con tới nơi mà con phải tới.”


Đó là những phần quan trọng mà Chúa đã làm để Ngài hiện tỏ. Còn những điều khác là những việc hằng ngày thì Chúa nói với tôi: “Khi nào con mới giải quyết vấn đề này?” Hoặc “Con hãy chịu khó kiên nhẫn,” hoặc “Để Ta đem con đến với những người họ sẽ làm điều đó cho con.”

 


Bởi vì qua kinh nghiệm của đời sống tập thể. Tôi hiểu rằng cần phải tìm những người có thể chia sẻ và lớn lên với mình. Tôi có một người bạn linh mục cùng cầu nguyện với tôi mỗi giờ ăn trưa. Chúng tôi khám phá ra rằng chúng tôi cần phải tài bồi cho nhau.


Chúa đã đưa tôi vào cuộc đời và giúp tôi giải quyết rất nhiều công việc. Tôi xin Ngài giúp tôi trong cách cư xử và trong cách nói năng. Và tôi đã đạt được nhiều tiến bộ.



Điều can đảm là bạn có thể để cho người khác cùng chia sẻ đời sống với mình trong các đường lối này. Hãy đi vào, tìm lấy một nhóm, và kiếm những người cùng cầu nguyện với mình. Đừng sợ khi phải mời người khác cầu nguyện với bạn.
Tất cả chúng ta cần phải nhớ tới quyền năng của Chúa. Dôi khi Des gọi điện thoại cho tôi và nói: “Joe ơi, đây là lời của Chúa cho anh.” Và anh đề cập ngay đến việc hối cải mà tôi cần phải đối diện. Cú gọi điện thoại đó có lẽ phải trả tới 20 đô la, nhưng Thiên Chúa dư thừa, Ngài được nói ra cho tôi một cách riêng tư. Tuy cách xa hơn 3000 dặm, nhưng tình anh em thật gần gũi, quan trọng và cần thiết biết bao?


Chúng ta không thể sống cô đơn một mình. Là một linh mục, linh mục của một địa phận, tôi không thể tự sống cô đơn một mình. Chủng viện đã huấn luyện cho tôi để tự sống một mình, nhưng đã thất bại, cảm tạ Chúa. Nó thất bại không nói cho tôi về đời sống tập thể. Chúng ta cần một đời sống cầu nguyện riêng tư không lệ thuộc vào các người anh em, nhưng tôi tưởng tượng có bao nhiêu người anh em và chị em nghĩ rằng sống một mình và làm những công việc riêng của mình là đời sống của người Kitô hữu! Chúa Giêsu đã không như vậy! Ngài là một trong Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Ngài cần Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Chúng ta cần người khác. Chúng ta cần có Chúa ở trong chúng ta, sống trong chúng ta. Tôi cần các anh chị em để chuyện trò và cùng cầu nguyện. Tôi cần cả đến một bà cụ ngồi lần chuỗi không ngừng tay cả trong Thánh Lễ. Bà đến với tôi và hỏi: “Cha đang làm gì đó? Con đã lần hai tràng chuỗi cầu nguyện cho cha mỗi tối.” Chúa đã đem tất cả mọi người đến với nhau và nhận rõ sự cần thiết của đời sống cộng đoàn.



Là một đứa trẻ không hy vọng, Chúa đã nhận tôi, chúc phúc cho tôi với một gia đình, và còn chúc phúc cho tôi với sự hiện diện của Ngài và dân của Ngài. Trong những phúc lành đó, Danh Ngài được vinh hiển qua những gì Ngài thực hiện qua tôi. Chúa cũng đang tiếp nhận bạn dù bạn là gì và đang ở bất cứ đâu. Ngài chúc phúc cho bạn với gia đình của Ngài. Ngài đang làm gì với bạn? Ngài đang làm gì với chúng ta, khi chúng ta qui tụ lại với nhau như là dân của Ngài

 

 

***********************************************