Cuộc
hiện ra
của Đức
Mẹ được
Giáo Hội
công
nhận gần
đây
nhất:
ĐỨC MẸ
LAUS,
PHÁP:
NƠI ẨN
NÁU CỦA
CÁC LINH
HỒN TỘI
LỘI
CUỘC
HIỆN RA
VỚI CHÂN
PHƯỚC
BENOITE
RENCUREL
(TẠM
DỊCH:
ĐỨC MẸ
HỒ LỤA –
PHÁP
QUỐC)
Cát Minh
chuyển
dịch cho
thanhlinh.net
Lời
Ngỏ:
Giáo hội
Pháp vừa
mới
chính
thức
công
nhận
ngày
7/5/2008
cuộc
hiện ra
của Đức
Mẹ Laus
ở Pháp
cách đây
3 thế kỷ
với một
cô bé
chăn
chiên.
Mục đích
của cuộc
hiện ra
là giúp
hoán cải
các tội
nhân.
Ngoài
ra,
lời tiên
báo của
Đức Mẹ
về thông
điệp
được
loan đi
vào thời
cuối
cùng.
Phải
chăng
đây là
thông
điệp mà
Thiên
Chúa
cũng
muốn gởi
tới nhân
loại hôm
nay, khi
thế giới
đang rời
xa Thiên
Chúa.
Tỗi lội
đang lan
tràn
khắp thế
giới qua
internet,
phá
thai,
buôn
người,
khủng bố
và các bệnh
dịch,
thiên
tai dồn
dập… Thế
nhưng
con
người
vẫn còn
hy vọng,
khi họ biết sám
hối trở
về với
Thiên
Chúa.
Xin tiếp
tay phổ
biến
thông
điệp Đức
Mẹ Laus
đến với
mọi
người.
Chân
thành
cám ơn.
Download
Acrobat
pdf
gởi cho
bạn bè.
=======
Sau hơn
3 thế
kỷ, Đức
Mẹ hiện
ra ở
Laus
(tạm
dịch Hồ
Lụa),
một
thành
phố dưới
chân
rặng núi
Alps,
nước
Pháp có
lẽ mang
đến một
thông
điệp cho
thế giới
hôm nay.
Một
trong
những
lời tiên
báo của
Đức Mẹ
Laus là
một
thông
điệp
được ban
ở đó sẽ
tái xuất
hiện vào
thời kỳ
cuối
cùng của
thế
giới.
Đức Mẹ
Laus,
nơi ẩn
náu của
các linh
hồn tội
lỗi được
các Giám
Mục Pháp
chính
thức
công
nhận vào
ngày 7
tháng 5
năm 2008
vừa qua.
Tọa lạc
tại
Dauphiné
thuộc
miền Nam
nước
Pháp
dước
chân
rặng núi
Alps,
nằm về
phía
Đông Nam
của
thành
phố Gap
là thung
lũng
Laus.
Laus
tiếng
địa
phương
có nghĩa
là hồ
nước, vì
đã từng
có một
cái hồ ở
dưới
thung
lũng
này. Vào
năm
1666,
làng này
gồm
khoảng
20 gia
đình
sống rải
rác
trong
những
túp lều
nhỏ. Dân
cư ở đây
đã xây
một
nguyện
đường
tận hiến
cho
Thánh
Mẫu
Truyền
Tin.
Chính
tại nơi
này, Đức
Mẹ đã
chọn để
hiện ra
trong
một cuộc
gặp gỡ
tốt đẹp,
ý nghĩa
với một
cô gái
khiêm
nhường,
thất học
tên là
Benoite
Rencurel.
Đức
Trinh Nữ
nói với
cô bé
chăn
chiên:
- Ta đã
xin Con
của Ta
cho những
người kẻ
tội lỗi
ở Laus được ơn hoán cải,
và Ngài
đã ban
cho Ta
điều đó.
Benoite
đã học
chịu
đựng đau
khổ từ
thời thơ
ấu, khi
cô sinh
ra trong
cảnh rất
nghèo
khổ, mà
hoàn
cảnh
càng trở
nên tồi
tệ hơn
lúc cha
của cô
qua đời
khi cô
mới lên
bảy.
Benoite
ra đời
vào
tháng 9,
năm
1647, và
2 tháng
trước
ngày
sinh
nhật của
thánh nữ
Mađalêna
Maria,
người nữ
yêu mến
của
Thánh
Tâm
Chúa,
các chủ
nợ không
ngừng
xiết nợ
người mẹ
góa phụ
của
Benoite,
và vì
thế các
con của
bà phải
đi lao
động để
nuôi
sống và
giúp đỡ
gia
đình.
Benoite
không
những là
một sự
trợ giúp
mà còn
là một
sự bảo
vệ cho
mẹ của
cô,
người đã
trung
thành
dạy dỗ
các con
cái của
bà thuộc
kinh Lạy
Cha,
Kính
Mừng và
kinh Tin
Kính.
Một ngày
nọ, cô
thấy một
số đàn
ông đang
đi về
phía nhà
của
mình, và
cô đã
chạy về
cảnh báo
cho mẹ,
và chống
lại một
người
trong
bọn họ
đã cả
gan dám
mua
chuộc
bằng
tiền bạc
để đổi
lấy tiết
nghĩa
của mẹ
cô.
Khi
Benoite
lên 12
tuổi,
gia đình
cô bị
rơi vào
thảm
cảnh tồi
tệ nhất,
vì thế
cô đã
xin làm
việc
chăn
chiên
cho hai
tá điền
cùng một
lúc. Vì
vậy,
giữa sự
mất mát,
hy sinh
và cầu
nguyện
mà vị
thánh
tương
lai đã
chuẩn bị
cho sứ
mệnh
được
tiền
định cho
cô.
Vào
tháng 5,
năm
1664, cô
được 17
tuổi,
khi đang
cầu
nguyện
lần
chuỗi
Mân Côi,
kinh mà
cô yêu
thích
nhất
trong
khi chăn
sóc đàn
chiên,
thì bỗng
nhiên
một
người
đàn ông
khả
kính,
mặc áo
của Đức
Giám Mục
thời
Giáo hội
sơ khai,
đến với
cô và
nói:
- Con
gái của
Ta, con
làm gì ở
đây vậy?
Cô trả
lời:
- Con
đang
trông
coi đàn
chiên
của con,
và đang
đi tìm
nước để
uống.
Ông già
trả lời:
- Ta đi
lấy nước
cho con.
Và ông
đi đến
bên bờ
giếng mà
Benoite
chưa
thấy bao
giờ.
Cô nói:
- Ông
đẹp quá,
ông ơi!
Ông là
thiên
thần hay
là Chúa
Giêsu
vậy?
Người
đàn ông
trả lời:
-
Ta là
Maurice,
người mà
nhà
nguyện ở
gần đây
đã dùng
để đặt
tên… Con
gái của
ta, đừng
trở lại
nơi đây
nữa. Nó
thuộc về
lãnh thổ
của
người
khác,
những
lính
canh sẽ
tịch thu
đàn
chiên
của con,
nếu họ
thấy nó
ở đây.
Hãy đến
thung
lũng
trên đồi
Saint
Étienne.
Nơi đó,
con sẽ
gặp Mẹ
Thiên
Chúa.
Cô gái
nói
tiếp:
- Nhưng
thưa
ông, Đức
Mẹ ở
trên
thiên
đàng cơ
mà. Làm
sao con
gặp Mẹ ở
đó được
chứ?
Ông nói:
- Đúng
thế, Đức
Mẹ ở
thiên
đàng, và
cũng ở
dưới đất
nữa, khi
Mẹ muốn.
Vào sáng
sớm ngày
hôm sau,
Benoite
vội vã
dẫn đàn
chiên
tới nơi
đã chỉ
định là
Vallon
des
Fours,
được gọi
như vậy
bởi vì
ngọn đồi
trên
thung
lũng này
có chất
thạch
cao, mà
người
trong
làng gạn
lọc và
nung vào
lửa làm
chất
thạch
cao cho
các căn
nhà của
họ.
Benoite
vừa đến
trước
một cái
hang nhỏ
ở nơi
ấy, khi
cô thấy
một Phụ
Nữ đẹp
khôn
sánh
đang ẵm
một Hài
Nhi
trong
vòng tay
cũng
không
kém vẻ
đẹp của
Thiếu
Nữ. Cô
say đắm
trước
những gì
mình
đang
thấy.
Mặc dù
thánh
Maurice
đã báo
trước,
thế
nhưng cô
bé chăn
chiên
ngây thơ
không
nghĩ ra
rằng cô
đang ở
trước sự
hiện
diện của
Mẹ Thiên
Chúa.
Nghĩ
rằng
mình
đang
thấy một
người
nhân thế
bình
thường,
cô nói
rất ngây
thơ:
- Bà yêu
qúi ơi,
bà làm
gì ở đây
vậy? Bà
đến để
mua chất
thạch
cao à?
Và rồi
không
đợi được
trả lời,
cô nói
tiếp:
- Bà làm
ơn có
thể cho
chúng
tôi Em Bé này không? Em Bé này sẽ
làm
chúng
tôi vui
mừng
lắm.
Người
Thiếu Nữ
mỉm
cười
không
nói gì.
Ngây
ngất và
khâm
phục,
Benoite
ngưỡng
mộ vẻ
đẹp của
người
Thiếu
Nữ. Vào
giờ ăn,
cô lấy
một
miếng
bánh mì
và hỏi:
- Bà có
muốn ăn
với con
không?
Con có
một ít
bánh mì
ngon
lắm.
Chúng ta
có thể
chấm
xuống
dòng
suối”.
Người
Thiếu Nữ
mỉm cười
lần nữa,
và tiếp
tục để
cô tận
hưởng sự
hiện
diện của
mình, Bà
đi vào
và đi ra
khỏi
hang đá,
đi đến
với
Benoite
và lúc
thì rời
xa cô.
Và rồi,
khi trời
tối,
người
Thiếu Nữ
ẵm lấy
Hài Nhi
đi vào
trong
hang
biến
mất.
Ngày
kế tiếp
và liên
tục
trong 4
tháng
liên
tiếp,
Benoite
chiêm
niệm ở
nơi đó,
Niềm Vui
của Các
Thiên
Thần và
Trang
Cảnh của
Thiên
Đàng.
Mặt cô
bé chăn
chiên
biến
dạng
ngay từ
lúc đầu
gặp
Người
Thiếu
Nữ. Cô
chia sẻ
niềm vui
của cô
với mọi
người
trong
niềm vui
đơn sơ.
Thấy sự
thay đổi
nơi cô,
người ta
bắt đầu
thắc
mắc,
“nếu như
người cô
thấy có
phải là
Mẹ Thiên
Chúa
không?”
Benoite
không
biết về
điều
này, và
cô không
bao giờ
dám hỏi
người
Thiếu Nữ
đã cho
cô tất
cả niềm
vui này,
rằng Bà
là ai?
Trước
khi cho
Benoite
là bạn
của Bà,
và là
người
trao ban
hồng ân
của Bà,
Đức
Trinh Nữ
đã gắn
chặt
linh hồn
cô bé
chăn
chiên
với
Người,
bằng sự
lôi cuốn
không
thể
khước
từ. Thế
rồi sau
hai
tháng
yên
lặng,
Đức Mẹ
đã làm
cho cô
trở nên
người
học trò,
và bắt
đầu nói
để dạy,
để thử
và
khuyến
khích
cô.
Đức Mẹ
đã hạ
mình
xuống
trình độ
của một
cô gái
thất học
miền
rừng
núi, Nữ
Vương
Thiên
Đàng đã
hạ mình
xuống
với
những
người
thấp kém
điều đó
sẽ làm
ngạc
nhiên
chúng
ta, nếu
chúng ta
không
biết
rằng sự
tốt lành
của Mẹ
Maria
không có
biên
giới.
Một ngày
nọ,
Người Mẹ
dịu dàng
của
chúng ta
mời
Benoite
an nghỉ
bên cạnh
Mẹ, và
người
con mệt
mỏi này
đã ngủ
an bình
trên tà
áo
choàng
của Đức
Trinh
Nữ. Lần
khác,
giống
như
những
người mẹ
dạy con
cái mình
cầu
nguyện,
Mẹ dạy
cô lập
lại từng
chữ, đọc
kinh cầu
Đức Mẹ
Loreto,
và ra
chỉ thị
cho cô
về dạy
cho các
cô gái ở
làng
Saint
Étienne,
và đi
nhà thờ
với họ
mỗi tối
để ca
hát ở
đó.
Với sự
dịu hiền
và kiên
nhẫn của
một
người
mẹ, Đức
Mẹ đã
uốn nắn
cô từ từ
trong
viễn ảnh
sứ mệnh
tương
lai của
Mẹ dành
cho cô.
Cô gái
ngoan
đạo vẫn
chưa
quen
thuộc,
không
lay
chuyển
và thiếu
kiên
nhẫn.
Trước
khi Đức
Trinh Nữ
tự mình
tiết lộ
danh
tánh của
Mẹ, Mẹ
bắt đầu
cho
Benoite
trong
vai trò
mà cô sẽ
thi hành
suốt
cuộc đời
của cô:
đó là
làm việc
để hoán
cải
những
người
tội lỗi
qua cầu
nguyện,
hy sinh
và một
ơn gọi
đặc biệt
--- sự
cổ võ
(hoán
cải tội
lỗi), vì
Thiên
Chúa đã
ban cho
cô một
đặc sủng
đọc thấu
các tâm
hồn
người
ta. Vì
vậy, cô
được
giao cho
những
công
việc
quan
trọng
cải sửa
các linh
hồn, và
tiết lộ
tình
trạng bi
thảm của
họ cho
họ biết.
Khi cần
thiết,
cô nhắc
nhở họ
về những
tội đã
quên hay
che dấu
không
thấy, và
khuyến
khích họ
thánh
tẩy về
những
tội đó.
Một sự
hoán cải
nổi bật
giữa các
người
khác đã
xảy ra
để xác
tín
không
phải chỉ
cho cuộc
hiện ra,
mà cho
khả năng
nhìn
thấu
suốt tâm
hồn của
cô. Bà
chủ của
Benoite,
Bà
Ralland,
một
người
đàn bà
không có
thích
thú gì
về tôn
giáo, đã
muốn
chính bà
được
thấy
điều gì
đã đang
xảy ra ở
nơi có
các cuộc
hiện ra.
Một ngày
nọ trước
bình
minh, bà
đã bí
mật đi
tới hang
đá, rồi
bà đi
vào
trước cả
Benoite,
và núp
đàng sau
một hòn
đá để
xem. Khi
Benoite
đến, một
vài phút
sau, cô
thấy
Người
Thiếu Nữ
đẹp
tuyệt
vời xuất
hiện.
Mẹ Maria
nói:
- Bà chủ
của con
ở kia
kìa,
đang núp
sau một
hòn đá.
Hãy nói
với bà
đừng
chửi thề
với danh
Chúa
Giêsu,
bởi vì
nếu bà
ta cứ
làm như
thế, thì
sẽ không
có thiên
đàng
dành cho
bà:
Lương
tâm của
bà đang
ở trong
tình
trạng
tồi tệ.
Bà cần
đi xưng
tội”.
Bà chủ
của
Benoite
nghe
được tất
cả, đã
khóc
sướt
mướt hứa
sửa đổi
đời
sống. Và
bà đã
giữ lời
hứa của
mình.
Tin tức
về các
cuộc
hiện ra
bắt đầu
lan
tràn.
Người ta
bắt đầu
nói về
những
cuộc
hiện ra
ấy ở
khắp
nơi.
Nhiều
người đã
tin,
nhưng
một số
khác thì
hoài
nghi, và
đối xử
với cô
bé chăn
chiên
như là
một nhà
thần bí
giả
hình.
Trong số
những
người
ủng hộ
Benoite
là một
cô bé
thuộc
cộng
đoàn St
Stephen,
cũng
giống
như
Benoite,
cô yêu
mến Mẹ
Maria
với hết
cả trái
tim. Để
tổng kết
những
lại gì
đã nói ở
trên,
Đức
Trinh Nữ
nói với
cô:
- Hãy
nói với
các cô
gái ở
cộng
đoàn St.
Stephen
hát bài
kinh cầu
Đức Mẹ
Đồng
Trinh
vào mỗi
buổi tối
trong
nhà thờ,
với phép
của bề
trên, và
con sẽ
thấy họ
sẽ làm
điều
đó”.
Quả
thực,
khi
những cô
gái đã
học bài
học của
họ, kinh
cầu được
xướng
hát lên
mỗi tối
với lòng
sùng
kính lớn
lao.
Điều
đáng lưu
ý để nêu
ra ở
đây, đó
là cộng
đoàn
Laus ở
trong
địa phận
Embrun.
Từ năm
1638,
năm tận
hiến
nước
Pháp cho
Mẹ Maria
do Vua
Louis
thứ XIII
ban
hành,
kinh cầu
Đức Mẹ
Loreto
được
xướng
hát
thường
xuyên
trong
nhà thờ
chính
tòa
Embrun.
Những
tin tức
về các
cuộc
hiện ra
được
loan
truyền
rộng
rãi.
Quan tòa
Francois
Grimaud
của vùng
thung
lũng
Avancon,
một
người
Công
giáo
thuần
thành và
là người
có đức
độ, đã
quyết
định mở
cuộc
điều
tra. Sau
cuộc
điều tra
kỹ
lưỡng,
ông kết
luận
rằng
Benoite
chưa hề
hỏi
người
Phụ Nữ
tiết lộ
danh
tánh của
mình,
cũng như
Người
Phụ Nữ
chưa nói
ra. Theo
yêu cầu
của quan
tòa, dù
rằng
điều này
chính cô
đã phải
trả giá
rất lớn,
Benoite
bị ép
buộc để
hỏi:
- Người
Phụ Nữ
tốt lành
của con
ơi, con
và tất
cả mọi
người ở
đây nóng
lòng
muốn
biết Bà
là ai.
Bà có
phải là
Mẹ của
Thiên
Chúa tốt
lành
không?
Xin vui
lòng
thương
xót nói
cho con
đi, và
chúng
con sẽ
xây một
nhà
nguyện
để tôn
kính
Ngài.
Người
hiện ra
từ thiên
đàng trả
lời rằng
không
cần
thiết
phải xây
cái gì ở
nơi đây,
bởi vì
Bà đã
chọn một
nơi khác
đúng ý
hơn. Và
rồi,
Benoite
đã không
thấy
Người
Phụ Nữ
từ thiên
đàng
nguyên
cả tháng
trời.
Điều này
đã khiến
cho cô
rơi vào
tình
trạng
buồn rầu
khôn tả,
mà nếu
không có
sự trợ
giúp từ
thiên
đàng, cô
đã không
thể sống
được.
Vào ngày
29/9/1664,
ở bên
kia bờ
suối,
giữa
đường
dẫn đến
Laus, cô
gái đã
nhận ra
Đức
Trinh Nữ
và nói
với Mẹ:
- Ôi, Mẹ
tốt
lành!
Tại sao
Mẹ nỡ
lấy đi
niềm vui
được
thấy Mẹ
quá lâu
như thế?
Và cô
lội qua
con suối
ngập
nước đến
sấp mình
dưới
chân Nữ
Vương
thiên
đàng.
Đức
Trinh Nữ
trả lời
thế này:
- Kể từ
bây giờ
trở đi,
con chỉ
thấy Mẹ
trong
nhà
nguyện ở
Laus mà
thôi.
Và Mẹ
Maria
chỉ cho
cô gái
con
đường đi
lên và
đi qua
ngọn đồi
dẫn tới
Laus,
một ngôi
làng mà
cô bé đã
nghe nói
đến,
nhưng
chưa bao
giờ đặt
chân tới
viếng
thăm, vì
cô thực
sự sống
ở làng
St
Étienne
d’Avancon.
Vào năm
1640,
một số
người
đạo đức
đã xây
một nhà
nguyện
nhỏ để
kính Đức
Mẹ của
Cuộc Gặp
Gỡ Tốt
Lành nằm
sâu nơi
vắng vẻ
của
Laus. Họ
đã làm
với mục
đích để
tụ họp
cầu
nguyện
khi mực
nước
dâng cao
khiến họ
không
thể tới
nhà thờ
giáo xứ
ở Saint
Etienne.
Bên
ngoài
nhà
nguyện
lợp mái
lá khô
nhìn
giống
như
những
căn nhà
nhỏ
khác;
chỉ lớn
khoảng 2
mét
vuông,
có một
bàn thờ
thạch
cao với
hai chân
nến bằng
gỗ và
một chén
thánh.
Đó là
nơi Nữ
Vương
thiên
đàng chờ
đợi cô
bé chăn
chiên,
như là
một
chuồng
chiên bò
Bethlehem
mới.
Vì
Benoite
chưa
được
biết về
nhà
nguyện
ấy, nên
ngày hôm
sau cô
đi tìm
kiếm
rất lâu không thấy, nước mắt rơi dàn dụa. Cô đi từ
nơi này
đến nơi
khác để
tìm. Có
khi đi
lạc một
lúc. Cô
đã dừng
chân
trước
mỗi căn
nhà
nghèo
nàn
trong
làng, cố
gắng
ngửi hơi
tìm “mùi
nước hoa
dịu
dàng”
(của Đức
Mẹ).
Cuối
cùng, cô
đã nhận
ra mùi
nước hoa
gần một
cánh cửa
khép hờ
của một
căn nhà.
Bước vào
cô đã
thấy
Người
Phụ Nữ
đẹp
tuyệt
vời đang
đứng
trên
một bàn
thờ lấm
bụi. Mẹ
nói:
- Hỡi
con gái
của Mẹ,
con đã
tìm kiếm
Mẹ mỏi
mòn,
nhưng
con
không
nên
khóc. Dù
vậy, con
đã làm
hài lòng
Mẹ vì đã
không
thiếu sự
kiên
nhẫn”.
Benoite
khiêm
nhường
đón nhận
lời nói
của Mẹ,
và rồi
cô rất
buồn
nhận ra
tình
trạng
thảm
thương
của bàn
thờ. Cô
nói:
- Người
Phụ Nữ
đáng
kính ơi,
Bà có
muốn con
trải tấm
khăn của
con dưới
chân Bà
không?
Khăn rất
là
trắng.
Đức Mẹ
trả lời:
- Không,
chẳng
bao lâu
sẽ không
có gì
thiếu
thốn ở
đây cả -
ngay cả
áo lễ,
khăn
trải bàn
thờ, hay
nến đốt.
Ta muốn
một ngôi
nhà thờ
lớn xây
ở nơi
này, và
một ngôi
nhà cho
một số
linh mục
thường
trú.
Ngôi nhà
thờ sẽ
xây để
tôn kính
Con yêu
dấu của
Ta và
chính Ta
nữa. Nơi
này,
nhiều
người
tội lỗi
sẽ được
hoán
cải. Ta
sẽ hiện
ra với
con
thường
xuyên ở
nơi
này”.
Benoite
la lên:
- Xây
nhà thờ?
Ở đây
làm gì
có tiền
để xây!
Đức Mẹ
trả lời:
- Đừng
lo lắng
gì. Khi
thời
gian đã
đến để
xây, con
sẽ tìm
được tất
cả những
gì cần,
và sẽ
không
còn bao
lâu nữa
đâu.
Những
đồng xu
của
người
nghèo sẽ
cung cấp
tất cả.
Chẳng có
gì sẽ
thiếu
thốn.
Trong
suốt mùa
Đông năm
1664-1665,
mặc dù
cách 4
cây số
đường
ngăn
cách
làng
Saint
Etienne
và ngôi
nhà
nguyện ở
Laus,
nhưng cô
bé
Benoite
đã đến
nơi ấy
mỗi
ngày. Và
ở đó,
Benoite
thường
được
thấy Đức
Trinh
Nữ. Đức
Mẹ nói
với cô:
- Hãy
cầu
nguyện
luôn cho
những
người
tội lỗi.
Có những
lúc, Đức
Mẹ nêu
tên
những
người mà
Đức Mẹ
muốn cô
cầu
nguyện
cho họ.
Bằng
cách
này, Đức
Trinh Nữ
đang uốn
nắn
Benoite
cho sứ
mệnh của
ngài, đó
là giúp
các linh
mục
trong
mục vụ
Giải
tội, và
hoán cải
những
người
tội lỗi.
Vào năm
1665,
Đức
Trinh Nữ
xin
Benoite
ngưng đi
chăn
chiên để
tận hiến
mình cho
sứ mệnh
của Mẹ.
Đức
Trinh Nữ
nói với
Benoite:
- Ta đã
xin Con
Ta cho
Laus
được ơn
hoán cải
những
người
tội lỗi,
và Ngài
đã ban
cho Ta
điều ấy.
Những
lời của
Mẹ Thiên
Chúa
được ứng
nghiệm.
Tin tức
về các
cuộc
hiện ra
tiếp tục
được
loan đi
rộng
rãi, các
khách
hành
hương
đến Laus
tiếp tục
gia
tăng.
Những
hồng ân
và phép
lành
được
tuôn đổ
xuống
cho
nhiều
linh
hồn.
Người ta
đến từng
hàng
trăm,
rồi lên
hàng
ngàn
ngàn để
đến cầu
nguyện
nơi nhà
nguyện
nghèo
nàn, xác
xơ.
Những sự
chữa
lành mọi
căn bệnh
xảy ra
nhan
nhãn, và
những
người
tội lỗi
được
hoán cải
rất
đông.
Vào ngày
25/3/1665,
gần một
năm sau
cuộc
hiện ra
lần thứ
nhất,
đoàn
người
đông đảo
tuôn đến
ngôi nhà
nguyện
mà trước
đây đã
một thời
hoang
vắng.
Cũng vào
năm ấy,
vào ngày
3/5/1665,
ngày lễ
kính
Thánh
Giá, 35
cộng
đoàn đổ
về nơi
ấy, mỗi
cộng
đoàn đi
sau một
biểu ngữ
dẫn đầu.
Những
bàn thờ
và tòa
giải tội
phải
dựng nên
ngoài
trời để
đáp ứng
lòng
nhiệt
thành
của dân
chúng.
Các linh
mục lân
cận đến
giúp một
bàn tay
cho linh
mục
Fraisse,
cha sở
giáo xứ
Saint
Etienne,
và giải
tội cho
nhiều
người.
Những
người có
thẩm
quyền
của Giáo
phận
cách
khôn
ngoan đã
không
tuyên bố
một
quyết
định
nào,
nhưng
cho phép
cử hành
thánh lễ
ở nơi
nhà
nguyện.
Đó là
khi linh
mục
Canon
Pierre
Gaillard,
phụ tá
Giám mục
Giáo
phận Gap
đến hiện
trường.
Chẳng
bao lâu
sau đó,
ngài trở
thành
giám đốc
hành
hương,
và sau
này ngài
đã3 viết
một số
tường
thuật
thuộc
thẩm
quyền
giáo
hội. Từ
việc tò
mò dò
dẫm vào
tháng 8,
1665,
ngài đã
xin và
nhận
được
nhiều ơn
lớn lao,
khiến
ngài xác
tín ngay
lập tức
tính
chất xác
thực của
các cuộc
hiện ra.
Thế
nhưng
khốn
nỗi,
Laus lại
thuộc về
Giáo
phận
Embrun
vào lúc
ấy. Là
người
đến từ
Giáo
phận
Gap,
linh mục
Gaillard
không có
thẩm
quyền để
thông
qua
quyết
định
chính
thức.
Dựa trên
những đề
nghị của
một số
linh
mục,
ngài đã
viết thư
cho linh
mục
Antoine
Lambert,
phụ tá
Giám mục
Giáo
phận
Embrun,
và yêu
cầu ngài
bắt đầu
cuộc
điều
tra.
Linh mục
Lambert
hầu như
không có
cảm tình
về các
cuộc
hiện ra
ở Laus,
và ngài
không
hài lòng
khi thấy
những
giáo dân
rởi bỏ
nơi hành
hương cũ
là Đức
Mẹ
Embrun.
Ngài thì
tin rằng
các cuộc
hiện ra
với
Benoite
là trò
của ma
quỷ, và
cô chỉ
là một
người tô
son quét
phấn
thông
thường.
Vào ngày
14/9/1665,
ngài đi
đến Laus
cùng với
một số
linh mục
lỗi lạc,
họ cũng
tương tự
chẳng có
cảm tình
về các
biến cố
ở Laus,
hy vọng
là sẽ
chấm dứt
“trò phù
thuỷ”
này, và
chứng
minh
rằng
Benoite
có tội
lường
gạt
thiên
hạ, và
để đóng
cửa nhà
nguyện.
Khi cô
bé chăn
chiên
nghèo
nàn nghe
các linh
mục ấy
đã đến,
cô sợ
hãi và
cô muốn
bỏ đi,
thế
nhưng Mẹ
Thiên
Chúa bảo
đảm với
cô:
- Đừng,
hỡi con
gái của
Ta. Con
không
thể bỏ
chạy.
Con phải
ở lại,
vì con
phải thi
hành
công lý
đến
những
người
của giáo
hội. Họ
sẽ khảo
cung con
từng
người
một, và
cố gắng
bắt bớ
con bằng
chính
lời nói
của con.
Thế
nhưng,
đừng sợ
hãi. Hãy
nói với
linh mục
phụ tá
Giám mục
rằng
ngài có
thừa tác
truyền
phép làm
cho
Thiên
Chúa
phải từ
trời
xuống,
do bởi
quyền
năng mà
ngài đã
lãnh
nhận khi
làm linh
mục, thế
nhưng
ngài
chẳng có
mệnh
lệnh nào
đối với
Mẹ Thiên
Chúa.
Khi linh
mục phụ
tá Giám
mục đặt
chân đến
Laus,
ngài vào
nhà
nguyện
cầu
nguyện
một lát
và triệu
hồi cô
bé chăn
chiên
đến. Trợ
giúp bởi
những
người
bạn đồng
hành,
ngài
chất vấn
Benoite
một cách
ngạo
mạn, cố
ý gài
bẫy cô,
và làm
cho cô
mâu
thuẫn
với
chính
mình. Cô
vẫn giữ
bình
tĩnh và
trả lời
vị linh
mục cách
giản dị
và bình
tĩnh.
Những
lời của
cô minh
bạch và
rất
cương
quyết.
Vị linh
mục phụ
tá Giám
mục nói
cách
nghiêm
nghị:
- Đừng
nghĩ là
tôi tới
đây để
cho phép
các thị
kiến và
ảo thuật
của cô,
và tất
cả những
điều kỳ
lạ đang
được
người ta
nói về
cô, và
về nơi
này. Sự
xác tín
của tôi
cũng như
của mọi
người
với lý
lẽ bình
thường
là những
thị kiến
của cô
là giả
tạo.
Thêm vào
đó, tôi
sẽ đóng
cửa nhà
nguyện
này, và
cấm
những
việc
sùng
kính.
Còn với
cô, cô
chỉ có
nước trở
về nhà.
Theo sự
khích lệ
của Đức
Trinh
Nữ, cô
bé chăn
chiên
trả lời
vị linh
mục:
- Thưa
ngài,
mặc dù
ngài có
lời
truyền
phép
dâng lên
Thiên
Chúa mỗi
buổi
sáng, và
làm cho
Chúa
phải ngự
đến nơi
bàn thờ,
nhờ
quyền
năng
ngài
nhận
được khi
là linh
mục,
nhưng
ngài
chẳng có
mệnh
lệnh nào
như thế
đối với
Mẹ Thiên
Chúa, Mẹ
làm là
vì Mẹ
hài lòng
ở đây.
Cảm phục
bởi
những
lời nói
ấy, vị
linh mục
phụ tá
Giám Mục
trả lời:
- Vậy
nếu như
những
điều
người ta
đang nói
là sự
thật,
thì cô
hãy cầu
nguyện
với Mẹ
cho tôi
thấy sự
thật
bằng một
dấu chỉ
hay phép
lạ, và
tôi sẽ
làm tất
cả những
gì có
thể làm,
để hoàn
thành
ước
nguyện
của Đức
Mẹ. Thế
nhưng
lần nữa,
hãy cẩn
thận
những
điều này
không
phải là
những
trò ảo
thuật,
và những
hiệu quả
của sự
tưởng
tượng để
đánh lừa
thiên hạ
đâu nhé.
Và nếu
như thế
tôi sẽ
trừng
phạt cô
đích
đáng tội
đã lường
gạt
những
người
tin
tưởng
vào cô.
Tôi sẽ
dập tắt
mọi sự
lạm dụng
với tất
cả quyền
hành của
tôi.
Benoite
khiêm
nhường
cám ơn
linh mục
và hứa
sẽ cầu
nguyện
theo như
ý chỉ
của vị
linh
mục.
Linh mục
Fraisse,
chánh xứ
cộng
đoàn
Saint
Étienne,
quan tòa
Francois
Grimaud
và linh
mục
Pierre
Gaillard
cũng
chất vấn
cô. Vị
linh mục
phụ tá
Giám Mục
thay vì
đóng cửa
nhà
nguyện,
thì đã
làm bản
kiểm kê
chi
tiết, và
đồng
thời
viết một
bản
tường
trình
dài về
mục vụ
thăm
viếng
của
ngài.
Ngài đã
dự tính
rời nơi
đó vào
buổi
tối, thế
nhưng
mưa tầm
tã buộc
ngài
phải ở
lại thêm
hai ngày
nữa. Đức
Trinh Nữ
đã sắp
đặt điều
này, để
ngài
chứng
kiến một
phép lạ
đặc
biệt.
Có một
bà nổi
tiếng
trong
vùng tên
là
Catherine
Vial đã
khổ sở
vì mắc
chứng
bệnh co
thắt
giây
thần
kinh ở
chân đã
sáu năm
qua. Cả
hai chân
bẻ cong
ra phía
sau, và
như là
bó lấy
thân thể
bà.
Không có
cố gắng
nào có
thể tách
rời hai
chân ra
được.
Chứng
bệnh của
bà đã
được
tuyên bố
là không
chữa
được bởi
hai bác
sĩ giải
phẫu lỗi
lạc. Đến
với Laus
cùng với
mẹ của
bà để
làm tuần
cửu
nhật, bà
là người
chú ý
đáng
thương,
khom
mình cả
ngày
trong
nhà
nguyện.
Vào
khoảng
nửa đêm
ngày
cuối
cùng của
tuần cửu
nhật, bà
tự nhiên
cảm thấy
chân bà
xoãi ra,
và bắt
đầu cử
động
được. Bà
đã được
chữa
lành.
Buổi
sáng hôm
sau, bà
đã vào
nhà
nguyện
với sức
lực của
bà (chứ
không
phải nhờ
ai)
trong
khi linh
mục phụ
tá Giám
Mục đang
cử hành
thánh
lễ. Sự
hiện
diện của
bà đã
làm
khuấy
động cả
nhà thờ
khi mọi
người la
lên:
Phép lạ!
Phép lạ!
Catherine
Vial đã
được
chữa
lành.
Đánh
động đến
rơi lệ,
linh mục
Lambert
đã phải
khó khăn
lắm mới
có thể
hoàn tất
thánh
lễ. Linh
mục
Gaillard,
người
đang
phục vụ
đã viết:
Tôi là
chứng
nhân
trung
tín về
tất cả
những
điều đã
xảy ra.
Và vị
linh mục
phụ tá
Giám mục
đã tuyên
bố:
- Có một
điều gì
siêu
nhiên
đang xảy
ra ở nhà
nguyện
ấy.
Vâng, có
bàn tay
của
Thiên
Chúa ở
đây!
Cha
Lambert
thẩm vấn
người
đàn bà
đã được
chữa
khỏi
bệnh, và
viết một
bảo
tường
trình
chính
thức về
phép lạ
đó. Sau
đó, ngài
xin mọi
người
vào nhà
nguyện
để hát
bài Te
Deum và
kinh cầu
Đức Mẹ
Đồng
Trinh.
Ngài chỉ
định hai
linh mục
trẻ làm
tuyên uý
cho
Laus:
cha Jean
Peytieu,
người đã
qua đời
vì kiệt
sực ở
tuổi 49
sau 24
năm mục
vụ hoàn
toàn tận
hiến để
giúp các
linh
hồn, và
cha
Pierre
Gaillard,
người đã
thi hành
mục vụ
là giám
đốc hành
hương
trong 50
năm. Cha
Barthelemy
Hermitte
được chỉ
định là
phụ tá,
và đã
phục vụ
28 năm
cho đến
lúc qua
đời. Vị
linh mục
phụ tá
Giám Mục
quyết
định
bằng
việc cho
phép xây
một nhà
thờ như
Đức
Trinh Nữ
yêu cầu.
Căn nhà
nguyện
nhỏ ở
Laus nơi
mà chỉ
có thể
chứa
khoảng
10 đến
12 người
đã trở
nên cần
thiết để
thay thế
với một
nhà thờ
lớn hơn.
Việc xây
cất và
tài trợ
căn nhà
thờ đó
cấu tạo
một phần
của “kỳ
công của
Laus”.
Mặc dù
không có
nguồn
tài trợ
nào cả,
việc xây
cất được
cam kết
gánh vác
với lòng
nhiệt
thành
lớn lao.
Nó vượt
trên tất
cả dân
nghèo,
những
người
nhỏ bé
đã gánh
lấy
thách
đố, và
gặp
nhiều
gian nan
bởi
những
con
đường
dẫn đến
nơi đó
không
thể sử
dụng
được.
Dân làng
và nhiều
khách
hành
hương đi
đến Laus
đã mỗi
người
mang một
hay
nhiều
hòn đá
từ con
suối và
vác đến
nơi xây
cất.
Ngay cả
các trẻ
nhỏ cũng
tự mình
mang
những
hòn đá
đến. Mọi
người ai
nấy đều
muốn
đóng góp
một cái
gì đó,
cho dù
là vật
chất hay
tiền
bạc.
Phải mất
đến một
năm mới
có thể
thu lượm
được
những
vật liệu
cần
thiết.
Cám ơn
sự bền
bỉ của
cha
Gaillard,
việc xây
cất được
thi hành
theo như
chỉ thị
của Đức
Mẹ đã
ban cho
Benoite.
Nhờ uy
tín,
kinh
nghiệm
của
những
người có
trách
nhiệm,
nhà
nguyện
Notre
Dame de
Bon
Rencontre
đã được
nối kết
vào
khung
sườn nhà
thờ, và
trở nên
chỗ cho
ca đoàn
của nhà
thờ mới.
Vào ngày
7/10/1666,
ngày lễ
kính Đức
Mẹ Mân
Côi, cha
Gaillard
đặt viên
đá đầu
tiên của
nhà thờ
và các
linh mục
dòng
Đaminh
từ Gap
chủ toạ
một cuộc
rước của
đoàn
người
hành
hương
rất dài.
Cũng vào
biến cố
này,
Benoite
đã trở
thành
một hội
viên
Dòng Ba
Đaminh.
Kể từ
đó, cô
mang
khăn
choàng
và áo
dài, và
người ta
bắt đầu
gọi cô
là “chị
Benoite”.
Cha
Gaillard
trực
tiếp
điều
khiển
việc xây
cất.
Benoite
thì xem
xét mọi
sự và
động
viên các
thợ xây.
Chị sửa
soạn bữa
ăn, cầu
nguyện
cho họ,
và đôi
lúc nói
những
lời cứu
rỗi với
họ,
thỉnh
thoảng
chị thêm
vào một
lời góp
ý để
tránh
những
tai nạn
xảy ra.
Kết quả
của việc
này là
qua thời
gian xây
cất,
không có
một lời
phỉ báng
hay tai
nạn nào
xảy ra.
Trong
khoảng 4
năm, nhà
thờ được
hoàn
tất. Một
nhà sử
học thời
ban đầu
đã viết:
“Nhà thờ
Đức Mẹ
Laus
(Đức Mẹ
Hồ Lụa)
được xây
với
tiếng
hát của
những
bài
thánh
vịnh và
thánh
thi.
Những
bàn tay
của dân
nghèo đã
thu lượm
những
vật
liệu,
quyên
góp, đào
nền
móng, ý
Chúa
dựng nên
những
bức
tường,
và tin
tưởng
vào
Thiên
Chúa,
những
nhà sử
học tiên
khởi của
Laus đã
đồng
thanh
tường
thuật về
mùi thơm
dịu dàng
từ thiên
đàng ở
nơi đó.
Họ nói
về điều
đó vì
biến cố
công
cộng xảy
ra được
nhiều
người đã
chứng
nhận.
Những
mùi thơm
này có
khi rất
mạnh,
đến nỗi
mùi ấy
lan tỏa
ra từ
nhà
nguyện
đến khắp
cả thung
lũng.
Quan tòa
Francois
Grimaud
chứng
nhận:
trong
mùa Phục
Sinh
1666,
tôi đã
ngửi
thấy một
mùi thơm
rất dịu
dàng
trong
khoảng 7
phút.
Tôi chưa
bao giờ
ngửi
được như
thế bao
giờ
trong
đời của
tôi, và
nó cho
tôi một
sự hài
lòng sâu
thẳm mà
tôi rất
thích
thú. Sự
kiện này
cũng có
liên tới
sự kiện
từ ngày
24/3 đến
hết
tháng 5
năm
1690,
nhà thờ
Laus có
mùi thơm
lan tỏa
khắp nhà
thờ mà
mọi
khách
hành
hương
đều
chứng
nhận như
thế. Vào
năm
1716,
bởi vì
đã được
ngửi
thấy mùi
thơm dịu
dàng
này,
Honore
Pela,
một thợ
điêu
khắc ở
Gap, đã
dâng
tặng một
bức
tượng
rất đẹp
bằng đá
hoa
cương
hình Đức
Trinh Nữ
và Hài
Nhi. Mùi
thơm kỳ
diệu này
vẫn còn
thỉnh
thoảng
được
ngửi
thấy bởi
khách
hành
hương
ngày hôm
nay. Để
tránh
việc có
thể bị
lường
gạt, hoa
không
được
phép
dâng ở
tượng
đài.
Chị
Benoite
đã ngửi
những
mùi thơm
này từ
nguồn
gốc
nguyên
thuỷ (từ
Đức Mẹ).
Sổ tay
của Laus
tường
thuật:
“Mỗi khi
Đức
Trinh Nữ
ban cho
chị cuộc
viếng
thăm,
người ta
ngửi
thấy một
mùi thơm
thiên
đàng bay
tỏa khắp
cả nhà
thờ. Có
khi áo
quần của
cô bé
chăn
chiên
thấm đậm
các mùi
thơm
thiên
đàng lâu
đến 8
ngày.
Những
mùi thơm
siêu
nhiên
này thật
là dịu
dàng và
dễ chịu
đã nâng
linh hồn
người ta
lên, và
vượt quá
tất cả
những
mùi thơm
nước hoa
ở trần
gian có
thể cho.
Bất cứ
khi nào
Benoite
trở về
sau khi
ở với
Đức Mẹ,
mặt cô
trở nên
sáng
chói,
giống
như mặt
Môsê khi
xuống
núi
Sinai
ngày
xưa. Sau
đó cô
quỳ, đọc
kinh cầu
Đức Mẹ
Đồng
Trinh,
và rồi
nghỉ
ngơi cho
đến hết
ngày, cô
không
thể ăn
gì.
Một ngày
nọ vào
mùa đông
năm
1665,
Benoite
được Đức
Mẹ
khuyên
mời
những
người
bệnh tật
đến để
xức dầu
cho
những
thành
viên
khốn khổ
của họ.
Đức Mẹ
nói với
cô rằng:
- Nếu họ
lấy dầu
từ ngọn
đèn chầu
trong
nhà
nguyện
và xức
dầu trên
họ, và
nếu họ
trông
cậy vào
sự cầu
bầu của
Đức Mẹ
và có
đức tin,
họ sẽ
được
chữa
lành.
Thiên
Chúa đã
ban cho
Mẹ đến nơi
này để giúp
hoán các linh
hồn tội
lỗi.
Dầu từ
ngọn đèn
cháy ở
cung
thánh
trước
Thánh
Thể
Chúa, và
sự hiện
diện từ
mẫu của
Đức
Trinh Nữ
hiện ra
ở nơi đó
đối với
Laus
cũng
giống
như nước
suối ở
Lộ Đức
vậy. Sự
chữa
lành về
thể xác
và luân
lý được
ban cho
nhiều
người
qua việc
xức dầu
thánh
này với
lòng
tin. Một
số lượng
dầu
thường
được lấy
từ ngọn
đèn để
cho các
khách
hành
hương
dùng, và
hiệu quả
của nó
vẫn còn
hiệu lực
đến ngày
hôm nay.
Tưởng
cũng nên
nhắc đến
nguyện
đường
Thánh
Giuse ở
Montreal,
Canada
cũng
dùng dầu
từ đèn
cung
thánh để
chữa
lành
bệnh
nhân, và
các cửa
hàng ở
nơi đây
cũng bán
dầu
Thánh
Giuse
cho
khách
hành
hương
mua về
sử dụng.
Hơn bất
cứ chỗ
nào
khác,
chính
nơi
nguyện
đường
được
chúc
phúc
này, Đức
Trinh Nữ
Maria đã
hiện ra
với
Benoite
ít nhất
một
tháng
một lần
trong
khoảng
54 năm,
và ở nơi
này Mẹ
Maria đã
dùng sứ
giả của
Mẹ là
khí cụ
để hoán
cải các
người
tội lỗi.
Trung
thành
với sứ
mệnh của
mình,
Benoite
không
bao giờ
ngưng
cầu
nguyện,
chịu đau
khổ hy
sinh, và
cỗ võ
mọi
người.
Đối
với
nhiều
người,
không có
gì khó
hơn là
việc đi
xưng
tội.
Thay vì
nhìn
nhận tội
lỗi của
mình
xưng thú
với linh
mục để
nhận
được ơn
tha tội,
nhiều
linh hồn
không
còn giữ
đạo và
lãnh các
Bí tích
để rồi
chìm sâu
trong
dòng tội
lỗi.
Vì
thương
xót cho
những
người
con tội
lỗi của
Mẹ, Đức
Trinh Nữ
Maria đã
ban cho
Benoite
ơn đặc
biệt đọc
thấu các
linh hồn
(nhìn
thấu tâm
hồn tội
lỗi của
họ). Về
sau này,
thánh
Gioan
Mary
Vianney
và sau
nữa là
thánh
Padre
Pio cũng
nhận
được đặc
sủng
giống
như thế
để hoán
cải tâm
hồn
người
tội lỗi.
Được sự
khuyến
khích
nâng đỡ
từ thiên
đàng,
Benoite
khuyên
những
người
tội lỗi
xét
lương
tâm của
họ theo
thứ tự;
chị soi
sáng cho
những
người
không
nhận ra
tội lỗi
và nếu
cần,
tiết lộ
những
tội đã
quên hay
che dấu.
Chị nói,
chị có
thể thấy
lương
tâm
người ta
như
chúng ta
nhìn vào
gương
soi vậy,
tất cả
cùng một
lúc. Chị
tiết lộ
những
lầm lỗi,
đau buồn
và những
tội nhẹ
hơn,
những
nguyên
do che
dấu, đạo
đức giả
và lỗi
lầm
thường
phạm
phải mà
không
biết.
Chị đòi
hỏi sự
đơn sơ
ngay
thật,
tinh
tuyền
của linh
hồn,
khiêm
nhường,
và ý chí
kiên
quyết để
biến
đổi. Chị
còn kéo
những
người
không ở
trong
tình
trạng
đón nhận
ân sủng
(sạch
tội)
xuống
khỏi
thềm
rước lễ.
Benoite
có lúc
phải nói
những
lời nhận
định, và
nói
những
điều
không
lọt tai
nghe,
thế
nhưng
chị rất
tử tế và
dễ mến
khiến
người ta
rất biết
ơn chị.
Sau khi
nói
chuyện
với chị,
họ quyết
tâm
thanh
tẩy mọi
khía
cạnh
lương
tâm của
họ để
sửa đổi
đời sống
của họ.
Công
việc khó
khăn
nhất của
chị là
khiển
trách
hay
khuyến
cáo
những
tâm hồn
nhất
định nào
đó theo
chỉ thị
của Đức
Mẹ. Khi
chị trì
hoãn
nhiệm vụ
này, Đức
Trinh Nữ
cũng trì
hoãn sự
hiện ra
với chị.
Không
phải thị
nhân
thánh
thiện
kiêu
ngạo
chống
lại Đức
Mẹ,
nhưng là
chị quá
khiêm
nhường
và đơ sơ
trong sự
mọn hèn
đó, mà
chị xem
mình
không
xứng
đáng với
nhiệm vụ
ấy. Có
lần một
linh mục
hỏi chị
tại sao
chị tại
sao chị
lại hành
động như
chị đã
làm. Chị
trả lời:
- Mẹ
Thiên
Chúa ra
lệnh cho
con làm
việc đó
với thái
độ rất
dịu
dàng,
khiến
con
không
tin là
Mẹ thực
sự muốn
như thế.
Và khi
con thất
trung,
Đức Mẹ
hiền từ
của con
sửa đổi
con,
nhưng
không
giận dữ.
Bởi vì
sự
ngượng
ngùng mà
con cảm
thấy
trong
việc răn
bảo
người
khác,
con
thường
chờ đợi
một mệnh
lệnh thứ
nhì, và
rồi con
mới vâng
theo”.
Không
phải chỉ
là việc
đặt câu
hỏi với
người
tội lỗi
– nhưng
chị còn
hướng
dẫn linh
mục giải
tội của
họ nữa.
Với các
linh
mục, chị
cho họ
biết sự
thiếu
sáng
suốt,
thiếu
khôn
ngoan
trong
việc đặt
câu hỏi
với
người
xưng
tội, về
thái độ
thờ ơ,
làm việc
miễn
cưỡng.
Liên
quan tới
một thầy
tu luôn
luôn
thuyên
chuyển,
chị nói:
“Hãy để
thầy ở
nơi đang
ở. Đó là
nơi thầy
sẽ tìm
ra sự
cứu rỗi
của
mình,
nhưng
thầy
phải
trung
thành
với ân
huệ của
Thiên
Chúa”.
Chị có
thể thấy
mức độ
các linh
mục trên
bàn thờ
chiếu
sáng với
ánh sáng
hay lu
mờ tuỳ
theo
tình
trạng
lương
tâm của
các
ngài, và
chị có
thể sẽ
khuyên
nhủ vị
linh mục
này. Một
linh mục
ở Emburn
nói:
- Bạn
không
thể ở
trong
nhà
nguyện
đó mà
không
run sợ,
nếu
lương
tâm của
bạn
không
được rõ
ràng.
Đức
Trinh
Nữ, về
phần của
Mẹ,
không bỏ
qua
những
thất bại
của sứ
giả của
Mẹ. Mẹ
cố vấn
và sửa
đổi chị:
- Hãy
thực
lòng,
hỡi con
gái của
Mẹ. Hãy
kiên
nhẫn…
Hãy làm
bổn phận
của con
cách vui
vẻ… Đừng
mang hận
thù với
những kẻ
thù địch
ở Laus…
Đừng xao
xuyến và
chán nản
về điều
đó nếu
như
người ta
không
gặt hái
ích lợi
gì từ
lời
khuyên
nhủ của
con…
Đừng để
bị quấy
rầy
trước
những
cám dỗ,
những
linh khí
hữu hình
và vô
hình hay
những
vấn nạn
trần
thế…
Phấn đấu
đừng
quên sự
hiện
diện của
Thiên
Chúa, vì
những ai
có chút
đức tin
thì
chẳng
dám cả
gan
chống
lại
Thiên
Chúa.
Cô
gái chăn
chiên
hèn mọn
không
thể yêu
mến Mẹ
Maria,
mà không
có tình
yêu sâu
đậm với
Chúa
Giêsu,
Thánh Tử
của Mẹ.
Mẹ đã
chọn
Ngài là
Đức Lang
Quân của
linh hồn
Mẹ, và
Mẹ đói
khát
được
chịu khổ
với Ngài
để hoán
cải
những
người
tội lỗi.
Có một
cây
Thánh
giá nhìn
xuống
Avacon
tại lối
vào của
viền
thung
lũng
Laus.
Benoite
xuống đó
cầu
nguyện
mỗi
ngày,
ngay cả
khi mưa
gió và
tuyết
rơi. Quỳ
xuống,
chị nhìn
lên Đấng
Cứu Độ
của
chúng ta
trên
Thánh
giá và
tâm can
chị mềm
chảy với
tình yêu
và lòng
thương
cảm khi
nghĩ tới
tất cả
những gì
Ngài đã
làm để
cứu độ
nhân
loại. Để
ban
thưởng
cho chị,
Đấng Cứu
độ của
chúng ta
hiện ra
với chị
trong
hiện
thực
sống
động của
sự đau
khổ của
Ngài.
Chị đã
thấy
Ngài
chịu
đóng
đinh,
chảy máu
và trong
đau đớn,
với các
thương
tích nơi
bàn tay,
bàn chân
và cạnh
sườn
Ngài, và
các vết
thương
bị đánh
đòn hằn
trên
thân
xác. Cưu
mang
nhiều
buồn
sầu, chị
nói:
- Ôi,
Lạy Chúa
Giêsu,
nếu Chúa
tiếp tục
cho con
thấy như
thế này
trong
một chốc
lát nữa,
con sẽ
chết mất
thôi.
Việc
nhìn
thấy sự
đau khổ
của Chúa
Giêsu
làm cho
chị buồn
sầu tột
độ, đến
nỗi một
ngày kia
thiên
thần bản
mệnh của
chị đến
an ủi
chị, nói
rằng:
- Đừng
xao
xuyến,
hỡi chị.
Mặc dù
Thầy của
chúng ta
hiện ra
với chị
trong
tình
trạng
như thế.
Ngài
không có
đau đớn
gì hết.
Đó chỉ
là để
cho chị
thấy
Ngài đã
đau khổ
vì yêu
nhân
loại là
dường
nào.
Thế
nhưng,
những
lời này
chẳng an
ủi được
chị. Sự
thật là
Thầy
nhân từ
và dịu
dàng của
chị đã
chịu đau
đớn
trong
tình
trạng
ấy, và
vượt đến
phạm vi
đủ để
chị cảm
thấy xót
thương.
Vào thứ
Sáu ngày
7/7/1673,
Chúa
Giêsu
với hình
hài chảy
máu nói
với chị:
- Hỡi
con gái
của Ta,
Ta tỏ
mình ra
cho con
thấy
chính Ta
trong
tình
trạng
như thế,
để con
có thể
tham dự
vào
những
đau buồn
của cuộc
thương
khó của
Ta.
Kể từ
ngày đó,
mỗi tuần
khoảng
thời
gian từ
thứ Năm
đến thứ
sáng
Bảy, chị
đã chịu
đau khổ
của cuộc
đóng
đinh
cách
huyền
nhiệm.
Sự đau
đớn hàng
tuần này
kéo dài
15 năm,
với 2
năm bị
gián
đoạn từ
năm
1677-1679,
khi
Benoite
lo cơm
nước cho
những
người
thợ xây
làm nhà
ở cho
các linh
mục ở.
Vào
tháng
11/1679,
cuộc
đóng
đinh
huyền
nhiệm
lại tái
diễn khi
chị cầu
nguyện
dưới
chân
Thánh
Giá ở
Avancon.
Những kẻ
chống
đối ở
Laus, kể
cả một
số linh
mục, xem
những
biến cố
chịu đau
đớn cuộc
đóng
đinh này
như là
những
đợt tái
diễn của
căn
bệnh,
hiện
tượng
liên
quan đến
bệnh
động
kinh hay
chứng
loạn
thần
kinh. Họ
gọi các
cha
tuyên uý
hành
hương là
“những
thị
nhân,
những
người
ngu dốt,
và đần
độn vì
dễ tin
một cô
gái
không
được
bình
thường.
Còn đối
với
Benoite,
sự tử
đạo bên
ngoài
của cô
khiến cô
đau khổ,
bởi vì
nó cuốn
hút sự
tôn kính
của
người ta
vào điều
đó, vì
thế làm
tổn
thương
đến tính nhạy
cảm
khiêm
nhường
của cô.
Một ngày
kia,
Benoite
hỏi Mẹ
nhân từ
của cô:
- Những
đau khổ
của con
có sẽ
trở nên
tồi tệ
hơn
không,
nếu như
điều đó
đẹp lòng
Thiên
Chúa,
thì xin
đừng để
chúng lộ
ra bên
ngoài.
Đức
Trinh Nữ
hiện ra
với cô
vào thứ
Bảy kế
tiếp và
nói:
- Con sẽ
không
còn chịu
những
đau đớn
vào ngày
thứ Sáu
nữa,
nhưng
con sẽ
có thêm
nhiều
đau khổ
khác.
Chị đã
thực sự
có nhiều
đau khổ
khác. Sự
giận dữ
gia tăng
của ma
quỷ có
thể cảm
thấy
được
chung
quanh
chị.
Điều gì
nữa,
Chúa
Giêsu
luôn
đánh dấu
chứng
thực các
công
việc của
Ngài với
dấu ấn
tín của
Thánh
giá.
Canon
Gaillard
nói rằng
trong
khoảng
thời
gian từ
năm 1664
đến
1672, sự
hoài
nghi chỉ
tạo ra
vài cơn
sóng gió
nhỏ. Thế
nhưng,
trong 20
năm kế
tiếp
những sự
mâu
thuẫn
không
diễn tả
được đã nổi lên, đặc biệt là trong giới tu sĩ,
và rồi nhiễm nọc độc của nhóm người lắm chuyện. Cha
Lambert,
linh mục
phụ tá
Giám Mục
của giáo
phận
Embrun
qua đời.
Một vài
thành
viên của
nhóm
thuộc
tòa Giám
mục có
thành
kiến đối
với Laus
lợi dụng
thẩm
quyền,
họ thi
hành
quyền
hạn lâm
thời ban
hành một
lệnh cấm
đối với
cô gái
thánh
thiện.
Họ đăng
tài liệu
của họ
trên
cánh cửa
nhà thờ
chính
tòa
Emburn,
và đe
dọa cắt
phép
thông
công bất
cứ linh
mục nào
cử hành
thánh lễ
ở nhà
nguyện
Laus. Họ
cũng dán
một
thông
báo trên
cửa nhà
thờ ở
Laus cấm
những sự
tôn kính
tại nơi
hiện ra.
Đức
Trinh Nữ
truyền
lệnh cho
Benoite:
- Hãy
tháo gỡ
những tờ
giấy đó
xuống…
và để
thánh lễ
được cử
hành ở
đây như
đã được
cử hành
trước
đó.
Benoit
đã vâng
lời. Các
cuộc
hiện ra
ở Laus
và
Benoite
đã gặp
với
nhiều
chống
đối
trong
vòng 20
năm kế
tiếp.
Đức Giám
mục giờ
đây đã
già, và
ở trong
tình
trạng
yếu sức
đã chỉ
thị hai
tuyên uý
không có
thiện
cảm với
Laus, và
đã ngăn
cản
không
cho giáo
dân đến.
Trong 15
năm,
Benoite
bị giam
giữ tại
gia, chỉ
được
phép dự
lễ Chúa
Nhật mà
thôi.
Ma quỷ
thậm chí
gia tăng
những
thị nhân
bắt
chước
lòng
sùng
kính của
Benoite,
cốt ý để
lường
gạt
nhiều
linh
hồn.
Người ta
ngưng
đến Laus
một thời
gian.
Cũng
trong
thời
gian
buồn sầu
này, các
linh mục
thánh
thiện
cha Jean
Peytieu
và cha
Barthelemy
Hermitte,
những
người
ủng hộ
Benoite
qua đời.
Dù vậy,
không có
gì thành
công
trong
việc huỷ
diệt
hoàn
toàn
cuộc
hành
hương.
Thiên
thần bản
mệnh của
Benoite
an ủi
chị qua
việc vén
mở tấm
khăn che
phủ
tương
lai của
chị cho
chị
thấy:
- Sẽ
luôn có
những
khó khăn
ở Laus
cho đến
khi sinh
hoạt tôn
giáo
được
thành
lập ở
đây.
Lòng
trung
thành
của cô
sứ giả
Benoite
giành
được
chiến
thắng
trên
thời
gian dài
“nguyệt
thực ở
Laus”
(bóng
tối che
phủ
Laus).
Sau thời
gian
dài, Đức
Giám Mục
Embrun
thức
tỉnh từ
sự lãnh
đạm của
ngài.
Vào năm
1712, 6
năm
trước
khi
Benoite
qua đời,
sự hướng
dẫn hành
hương
được ủy
thác cho
một số
linh mục
tốt
lành, có
tên là
Pères
Gardistes,
một tổ
chức học
thuyết
tôn giáo
sâu đậm.
Vào ngày
18/3/1700,
Thiên
thần bản
mệnh của
Benoite
nói với
cô:
- Lòng
sùng
kính ở
Laus là
công
việc của
Thiên
Chúa, vì
thế
chẳng có
con
người
hay ma
quỷ có
thể huỷ
diệt
được. Nó
sẽ tiếp
tục cho
đến ngày
tận cùng
của thế
giới,
phát
triển
mạnh
hơn, và
hơn nữa,
và mang
hoa trái
lớn lao
khắp mọi
nơi.
Một mặt,
chị
Benoite
chịu khổ
sở bởi
ma quỷ ở
hỏa ngục
vì lợi
ích hoán
cải của
các
người
tội lỗi,
mặt
khác,
chị sống
thân mật
mới các
thiên
thần.
Đặc biệt
chị ở
rất gần
với
thiên
thần bản
mệnh của
chị,
người mà
chị chia
sẻ tất
cả mọi
đau đớn
và buồn
sầu,
tham
khảo với
ngài mỗi
giây
phút.
Thiên
thần đáp
trả
những
điều này
với bằng
sự tín
nhiệm
tuyệt
đối với
tất cả
mọi công
việc, vì
sự đơn
sơ hoàn
hảo của
Benoite
thậm chí
chẳng
làm ngạc
nhiên
chị.
Thiên
thần
giúp chị
lau chùi
nhà
nguyện.
Một lần
kia, chị
quên cái
khăn
choàng
nhỏ lớn
hơn mảnh
vải vụn
một
chút, mà
chị đã
treo
trên một
cành cây
ở khu
rừng.
Khi chị
bị lạnh
lẽo cực
độ vì
đêm lạnh
lẽo,
thiên
thần của
chị mang
khăn ấy
về cho
chị.
Trong
nhiều
trường
hợp
khác,
thiên
thần mở
cửa nhà
nguyện
cho chị,
và lần
chuỗi
Mân côi
với chị.
Thế
nhưng,
thiên
thần
cũng
biết khi
nào cần
sửa đổi
chị. Một
lần kia,
thiên
thần lấy
đi một
chuỗi
Mân Côi
rất đẹp
được
người ta
tặng cho
Benoite,
mà chị
đã quá
gắn bó
với nó.
Và một
thời
gian
sau,
thiên
thần mới
đưa lại
cho chị.
Cuối
cùng,
mặc dù
những
đau khổ
liên
lục,
Benoite
kiên trì
là môn
đệ trung
thành,
và người
trợ giúp
các
người
tội lỗi.
Khi Đức
Mẹ ngưng
thăm
viếng
chị để
thánh
tẩy chị,
thì
Satan la
lên:
- Mẹ bỏ
cô rồi…
Cô chẳng
còn sự
trợ giúp
nào nữa,
ngoài
trừ ở
tôi.
Benoite
trả lời
nó:
- Nè,
tôi thà
chết
ngàn lần
vì Mẹ bỏ
rơi, còn
hơn là
tôi bỏ
rơi Mẹ
dù chỉ
một giây
phút.
Giờ
đây, cơn
sốt nóng
đang
thiêu
hủy chị,
và đối
với chị,
những
đêm
trường
dường
như “dài
cả nhiều
năm”.
Chị bị
bệnh nằm
liệt
giường
một
tháng
trước
khi qua
đời. Vào
Giáng
sinh năm
1718,
sau khi
xin
những
người có
mặt tha
thứ cho
những
gương
xấu mà
có thể
chị đã
làm
trong
cuộc
đời. Chị
xin và
được
rước
Thánh
Thể.
Ngay tức
thì, Mẹ
Maria
lại xuất
hiện
trước
mắt chị,
để lại
theo sau
một mùi
thơm
tràn
ngập căn
phòng
nghèo
nàn.
Các linh
mục
Pères
Gardistes
cầu
nguyện
cho chị
được
chữa
lành. Họ
nài xin
Thiên
Chúa cho
chị sống
thêm hai
năm nữa.
Thế
nhưng
vào ngày
28 tháng
12, chị
đòi được
lãnh bí
tích xức
dầu
thánh,
vì biết
rõ chị
sẽ đoàn
tụ với
các
Thánh
Anh Hài
vào ngày
lễ kính
của các
ngài.
Chị đã
lãnh bí
tích
cuối
cùng vào
3 giờ
chiều.
Không có
sự đau
đớn nào
trước
giờ
chết.
Chị tỏ
ra rất
vui
tươi.
Cha
Royere
nói với
chị:
- Chúng
tôi là
con cái
của chị.
Xin chị
chúc
lành cho
chúng
tôi
trước
khi ra
đi được
không?
Trên hết
sự khiêm
nhường
khiến
Benoite
có
khuynh
hướng
muốn từ
chối,
nhưng
rồi sự
khiêm
nhường
đã chiến
thắng.
Chị nói:
- Thôi
tuỳ vào
Đức Mẹ
của
chúng ta
có chúc
lành cho
quý cha
hay
không.
Và một
lần, chị
giơ tay
lên khỏi
giường,
không
phải từ
chối họ
ước muốn
này, chị
nói với
họ:
- Con
xin sẵn
lòng làm
điều này
cho quý
cha, hỡi
những
người
cha tốt
lành.
Chị đã
bình
tĩnh
chào tạm
biệt mọi
người.
Vào 8
giờ tối,
sau khi
lời kinh
cầu cho
người
hấp hối
đã đọc
xong,
chị xin
người
con tinh
thần của
chị đọc
kinh cầu
Chúa
Giêsu
Hài
Đồng. Và
rồi, chi
ra đi
trong
niềm
vui. Chị
được 71
tuổi khi
chị qua
đời
trong
hương
thơm
thánh
khiết.
Chị
Benoite
Rencurel
được
tuyên bố
là Chân
phước
vào năm
1871, và
phong
chân
phước
vào năm
1984.
Nhà thờ
ở Laus
được
nâng lên
hàng
tiểu
vương
cung
thánh
đường
vào năm
1893.
* hết *