CHÉN VÀ MÁU THÁNH
(Mc 14, 12- 16. 22-26)
VietCatholic
News
Thưa quí vị.
Lễ này, trong những chu kỳ khác, các bài
đọc nhấn mạnh về khía cạnh Bánh. Thí dụ
trong Xuất hành, thơ Do thái là Manna.
Trong Gio-an là bánh hằng sống. Trong
Lu-ca là nhân bánh lên nhiều. Nhưng năm
nay là máu và chén. Cả trong đáp ca cũng
đề cấp đến chén: “Tôi sẽ nâng chén cứu
độ và kêu cầu Thánh Danh Đức Chúa.” Như
vậy năm nay là dịp tốt để chúng ta suy
tư về chén và máu thánh.
Theo lệ thường mỗi khi nói tới Bí tích
Thánh thể, chúng ta có khuynh hướng hiểu
về bánh mà thôi, ít khi qui chiếu về máu
thánh Chúa, tức chén cứu độ. Khi rước lễ
người ta cũng chỉ chú ý đến bánh như
Mình Thánh Chúa Kitô. Ít ai nghĩ đến ý
nghĩa máu của Ngài nữa. Nhiều người còn
từ chối uống chung chén thánh vì lý do
vệ sinh. Tôi còn nhận ra rằng câu mời
gọi: Cầm lấy mà ăn nặng ký hơn câu: Cầm
lấy mà uống. Mặc dù hai câu đều quan
trọng như nhau. Ấy là chúng ta bàn về tư
tưởng phổ thông.
Còn thực tế, thì bài đọc 1 hôm nay (Xh
4, 3-8) cho thấy tầm quan trọng sâu xa
của máu trong đời sống và nghi lễ của
dân tộc Israel. Ông Môsê đã lập giao ước
giữa Thiên Chúa và dân chúng bằng máu:
“Ông Môsê lấy một nửa phần máu, đổ vào
các chậu, còn phần kia rẩy lên bàn thờ.
Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân
nghe. Họ thưa: Tất cả những gì Thiên
Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và
tuân theo. Bấy giờ ông Môsê lấy máu rẩy
lên dân và nói: Đây là máu giao ước Đức
Chúa đã lập với anh em, dựa trên những
lời này.” Như vậy, đối với dân Do thái
(và các dân thời cổ khác) máu là sự
sống. Nó ban khả năng tiếp xúc với
Thượng đế, nguồn mạch mọi sự sống. Đổ
máu người khác là xúc phạm đến Thiên
Chúa, chắc chắn Ngài sẽ đòi trả lẽ. Luật
kiêng khem cũng cấm người ta ăn thịt đã
nhúng vào máu. Bởi vì máu liên kết với
sự sống và sự sống thuộc quyền Đức Chúa.
Như chúng ta vừa thấy máu được dùng
trong việc phụng thờ Thiên Chúa: Giao
ước giữa Thiên Chúa và dân Do thái được
máu chiên bò ghi ấn. Nghĩa là được ký
kết trong máu đổ ra. Một nửa rẩy lên bàn
thờ biểu tượng cho sự hiện diện của
Thiên Chúa, nửa khác rẩy lên dân chúng
sau khi đã nghe đọc sách luật. Họ sẽ
tuân giữ những điều Thiên Chúa truyền
dạy. Họ phải luôn nhớ sự ràng buộc giữa
họ và Thượng đế. Mối liên kết đó Thiên
Chúa không khi nào bẻ gẫy vì đã được
thiết lập trong máu và luôn được canh
tân trong các buổi thờ phượng. Phần dân
Israel, họ đã đáp trả thành thực khi
nghe đọc sách luật và máu rẩy trên họ
nói lên quyết tâm vâng lời Thượng đế:
“Tất cả những gì Thiên Chúa đã phán,
chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo.” Ước
chi đây cũng là lời thề của mỗi linh hồn
và toàn thể Giáo hội ngày nay, trong mọi
nơi, mọi lúc. Vì là những lời đẹp lòng
Thiên Chúa và hợp lẽ phải. Xin đừng có
thái độ lừa đảo Đấng yêu thương chúng
ta, bằng những hành vi sa đoạ, truỵ lạc.
Đối với dân Do thái, máu là cái giá phải
trả để vâng lời lề luật Chúa, nghĩa là
dấn thân và trung thành hoàn toàn. Cho
dù nhiều khi phải trả bằng chính sự sống
mình. Đây cũng là ý nghĩa chúng ta bày
tỏ trước mặt thế giới. Chúng ta phải
nhận ra được ý nghĩa của nghi thức giao
ước trong sách Xuất hành và đức tin của
mình. Bằng không, là tín hữu giả hiệu,
môn đệ dổm, thầy tu đội lốp. Chúa Giê-su
đã nêu gương về điểm này cách triệt để.
Vì vâng lời Đức Chúa Cha, Ngài đã thí
mạng sống cho từng linh hồn và toàn thể
nhân loại. Dâng chính máu mình làm căn
bản cho giao ước của chúng ta với Thượng
đế. Chẳng còn hy sinh nào nghiêm chỉnh
hơn được nữa. Vậy mà nhiều linh hồn vẫn
coi thường, thậm chí khinh miệt. Uống
chén máu cứu độ trong Thánh lễ là đường
lối đáp trả xứng hợp nhất những phúc
lành mà chúng ta nhận được trong máu
Chúa Kitô. Đồng thời làm mới lại giao
ước Ngài đã thiết lập với nhân loại. Nhờ
đó tội lỗi được thứ tha và niềm hy vọng
phục sinh được tăng cường. Hạnh phúc
sống muôn đời được bảo đảm.
Bài đọc 2, thơ gởi tín hữu Do thái vẽ
lên nét song song giữa vị tư tế thượng
phẩm và Chúa Giê-su. Vị tư tế vào cung
thánh mang theo máu hy tế. Chúa Giê-su,
tư tế của giao ước mới vào cung điện ở
trên trời mang theo máu hiến tế của
chính mình. Hậu quả là từ nay không cần
máu huyết tượng trưng để xin ơn tha thứ
nữa, và cũng không cần rẩy máu trên dân
chúng để nói lên sự dấn thân trung
thành. Bởi lẽ, tín hữu đã nhận Mình Máu
Thánh Chúa, kết hợp với Ngài trong hy lễ
toàn thiêu trên đồi Calvariô. Hy lễ ấy
hoàn toàn đầy đủ để đẹp lòng Đức Chúa
Cha.
Tiến tới Phúc âm, giọng điệu Phụng vụ
trở nên quyết liệt hơn: Chúa Giê-su có
mặt tại Giêrusalem, nơi các tiên tri đã
từng bị giết hại. Máu của họ đổ lênh
láng trong thành. Số phận Chúa Giê-su
không hơn. Ngài cũng sẽ bị giết. Điều
này là chắc chắn xét theo lịch sử tôn
giáo, chính trị của thành thánh. Suy
rộng ra, tất cả những ai chia sẻ sứ vụ
của Chúa đều sẽ bị phanh thây nếu còn
trung thành với ơn gọi. Như Đức cha
Fulton Sheen nói: “Kẻ nào bảo đen là
đen, trắng là trắng, nhất định sẽ bị
giết, chỉ những ái nói “xám” mới được để
cho sống.” Thế thì số phận ngôn sứ
Giê-su sẽ chẳng còn được bao lâu. Cho
nên Ngài long trọng cử hành bữa cơm từ
giã. Ngài ban Mình và Máu như bảo chứng
của giao ước mới, ngõ hầu nhân loại được
cứu rỗi. Tất cả những biểu tượng cũ được
nên trọn nơi Ngài. Máu Chúa sẽ đổ ra để
thay thế máu chiên bò mà nhân loại
thường hiến dâng Thượng đế để cầu xin ơn
hoà giải.
Quang cảnh thật buồn thảm. Nhân tình thế
thái quá trớ trêu. Nhưng rất ít linh hồn
suy tư về điểm này. Đa phần ưa chạy theo
lợi lộc tiền tài, các vui sướng xác
thịt. Nhưng từ ngàn xưa, sách Xuất hành
đã giúp chúng ta hiểu biết việc Chúa
Giê-su làm trong Tin mừng hôm nay. Ông
Môsê canh tân giao ước cũ bằng cách lấy
máu rẩy lên bàn thờ và trên dân chúng.
Những linh hồn lãnh nhận Bí tích Thánh
thể cũng hằng được nhắc nhớ giao ước của
mình với Thiên Chúa. nếu không, việc
rước lễ trở nên vô ích. Hơn nữa, ý nghĩa
của hành động còn vượt xa thức ăn của
uống hữu hình. Dĩ nhiên lương thực là
nhằm nuôi dưỡng thân xác, bồi dưỡng nó,
ban cho nó sức sống. Nhưng Mình Máu Chúa
Kitô còn trao cho chúng ta sứ mệnh trở
nên mình máu Chúa cho thế gian. Chúng ta
phải làm sao qua những bữa ăn, thức uống
nhắc nhớ mình chăm lo thân thể mầu nhiệm
Chúa Kitô. Thế giới luôn đói khát của ăn
thức uống thiêng liêng: ơn thánh, tình
yêu, tha thứ, hoà giải, chữa lành… Ai sẽ
cung cấp cho họ, nếu không phải các môn
đệ Chúa? Khi ta đói, các ngươi đã cho
ăn, khát các ngươi đã cho uống. Người
môn đệ trung thành không thể làm ngơ
những nhu cầu đó của thế giới! Chúng ta
chẳng ở mãi trong nhà thờ với đôi mắt
dán chặt vào nhà tạm. Nhưng phải ra đi,
xông pha vào thế gian. Vậy đâu là trách
nhiệm của mình? Chúa trao sứ mệnh nào
cho chúng ta? Chắc chắn Mình Máu Thánh
Chúa không phải là lương thực ích kỷ,
giữi lại cho riêng mình mà phải chia sẻ
cho tha nhân, nhất là những linh hồn đói
khát thiêng liêng: chiếc bánh bẻ ra để
nuôi dưỡng muôn người.
Xét theo toàn văn của bài Phúc âm, người
ta có thể mường tượng ra hoàn cảnh của
cộng đoàn thánh Marcô vào những năm sáu
mươi, khi họ cử hành lễ bẻ bánh: Những
từ nói ra sau chén rượu cho chúng ta
quan niệm yếm thế: cuộc đời họ sẽ phải
chịu nhiều bách hại: “Đây là chén máu
Thầy, máu giao ước, đổ ra vì muôn
người…chẳng bao giờ Thầy còn uống sản
phẩm của cây nho nữa.” Những lời này làm
người ta nhớ lại số phận người tôi tớ
đau khổ của Isaia. Ông Môsê rẩy máu trên
dân chúng, khẳng định họ trung thành với
Thiên Chúa. Chúng ta cũng vậy khi rước
lễ. Chúng ta cũng phải liên kết với các
đau khổ của Chúa. Cho nên cộng đoàn
thánh Marcô không xa lạ gì với những hy
sinh để kết hợp cùng Chúa Kitô. Các
thành viên tiếp tục đổ máu ra cho cuộc
sống Giáo hội và thế giới. Những đau khổ
của họ kéo dài Lời Chúa tuyên bố: “Đây
là chén máu Thầy, đổ ra cho muôn người.”
Chúng ta nên suy nghĩ và liên hệ với
tình hình bản thân, gia đình, và Giáo
hội địa phương.
Bởi lẽ các môn đệ của Chúa chẳng hiểu
những lời Chúa nói. Thí dụ, liền sau sự
tiên báo khổ nạn lần thứ ba (10, 32),
thì hai anh em Giacôbê và Gioan đứng ra
xin chỗ nhất khi Ngài đến trong vinh
quang của Ngài. Rõ ràng họ chẳng hiểu
chi cả. Ngài hỏi: “Các anh có uống được
chén Thầy sắp uống không?” Họ trả lời:
“được”. Đúng là câu trả lời ngớ ngẩn, vì
đâu họ có uống được? Tuy nhiên, ngày nay
mọi sự đã rõ ràng đối với chúng ta. Khi
rước Mình Máu Ngài, chúng ta ý thức phải
liên kết với cuộc khổ nạn của Chúa, nhớ
lại lời giao ước khi chịu phép rửa tội.
Bằng không, chúng ta chẳng thể làm được
như Ngài, ban sự sống mình cho thế giới
tội lỗi. Toàn bộ các bài đọc hôm nay đều
nói đến nội dung lễ tế hy sinh. Chúng ta
nên lưu tâm đặc biệt về hy sinh Thánh
Thể. Nó cũng là một bữa ăn. Những năm
gần đây người ta nhấn mạnh về khía cạnh
bữa ăn. Có lẽ là để đối trọng với ý
nghĩa lễ hy sinh của trước Công đồng
Vatican II. Ngày nay ý nghĩa rẩy máu súc
vật không còn nhiều thu hút đối với não
trạng tân thời. Cho nên người ta quay
sang bữa ăn chia sẻ. Nó là một phần
trong cuộc sống hằng ngày và cũng mang ý
nghĩa hy sinh. Cha mẹ làm việc đổ máu
mình ra để nuôi dưỡng con cái. Các phần
tử trong gia đình, bạn bè, phải đổ mồ
hôi, sôi nước mắt xây dựng kinh tế, chăm
lo người già, trả tiền ăn học cho thế hệ
tương lai, nuôi nấng cô nhi quả phụ, kẻ
ốm đau, các công nhân tăng ca để có đủ
chi phí cho gia đình. Thẩy đều đòi hỏi
hy sinh, hãm mình, khổ chế. Cho nên ý
niệm hy tế không phải là đã lỗi thời.
Trái lại rất phổ thông trong cuộc sống
con người. Có điều ít khi người ta nghĩ
đến. Hôm nay chúng ta nhấn mạnh nó, để
kết hợp với hy lễ của Chúa Giê-su. Khi
nghe các bài đọc, chúng ta nhận ra mình
cũng đang đổ mồ hôi, nước mắt, nhọc
nhằn, khổ công, để cho người khác được
hạnh phúc, như Chúa Giê-su đã làm cho
chúng ta. Chúng ta có cảm giác hy sinh
của Chúa đang được tái diễn cho gia
đình, hàng xóm, Giáo hội, thế giới, được
cứu độ.
Chúng ta từ chối mình, giống như muôn
vàn anh chị em công nhân nhà máy, phu
quét đường, nông dân cày ruộng để người
khàc được hưởng lợi ích từ những hy sinh
của mình. Chúng ta chịu mất mát để tha
nhân được hưởng lợi. Đó không phải là hy
lễ hay sao? Đó không phải là rẩy máu lên
bàn thờ, trên dân chúng hay sao? Tuy
hình thức có khác nhưng ý nghĩa vẫn y
nguyên. Xin hãy nhớ đến những linh hồn
đã chấp nhận hy sinh tột cùng để cứu vớt
kẻ khác, bảo vệ và nâng đỡ họ. Thí dụ,
các chiến sĩ gìn giữ hoà bình, các bà mẹ
goá nuôi con ăn học, các phu thợ mỏ. Khi
chúng ta ăn uống tại bàn tiệc Thánh Thể,
chúng ta nhớ đến các hy tế của họ và
giao ước Chúa đã thiết lập với chúng ta.
Ngài ban Con Một để chúng ta được sống.
Lời thưa amen cũng nhắc nhớ chúng ta
phải thực hiện các hy sinh như vậy vì
người khác, vì Giáo hội và vì thế giới.
Hằng ngày chúng ta trở lại Bàn thánh
cùng với cộng đoàn thì cũng phải ý thức
mình đã bẻ gẫy giao ước nhiều lần, không
sống đúng những điều cam kết. Chúng ta
xin Chúa tha thứ. Có như vậy cuộc đời
tín hữu mới luôn được đổi mới, chức vụ
làm môn đệ Chúa mới ngày một trở nên
hoàn hảo và chúng ta mới sẵn sàng đón
nhận muôn vàn hình thức “chết” đi để
phục vụ Đức Kitô. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.