MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 

Họp Liên Hội Đồng các Giám Mục Á Châu (FABC) lần IX, tháng 8-2009, các Đức Giám Mục đưa ra lời kêu gọi linh mục và giáo dân cống hiến những sáng kiến giáo dục giúp tín hữu tái khám phá tâm điểm của việc cử hành Bí Tích Thánh Thể…

Để đáp ứng lời kêu gọi ấy, chúng tôi xin đóng góp phần mình qua bài dưới đây :

MẠC KHẢI VỀ THÁNH THỂ

Mục Lục: Bài 1 - Bài 2

MẶC KHẢI VỀ THÁNH THỂ
trong Gioan 6.1-58

Nguồn :
ĐỌC TIN MỪNG THEO YOAN, TẬP III :

BÁNH TRƯỜNG SINH BẤT TỬ

(Lm. Phêrô Hoàng Minh Tuấn)

Ghi nhanh các bài dạy  trong lớp Kinh Thánh của L.m. Phêrô Hoàng Minh Tuấn,  do Têrêsa Kim Loan thực hiện. 

(Lưu hành nội bộ)

BÀI MỘT:

Niềm Hy Vọng Hằng Sống
Diễn từ Bánh Sự sống,

Phần một

(Ga 6,1-50)

2008

 I /  KHAI ĐỀ

Mời đọc đoạn Ga 6.1-15 về

Phép lạ bánh

     1Sau đó, Đức Giêsu đi qua bên kia, biển Galilê - cũng là biển Tibêria. 2Có đông dân chúng đi theo Người, vì họ đã từng được mục kích các phép lạ Người làm trên những người đau ốm. 3Đức Giêsu lên núi, và ngồi đó với môn đồ của Người. 4Lễ Vượt qua, đại lễ của người Do Thái đã gần.

     5Ngước mắt lên, Đức Giêsu thấy có đông dân chúng đến cùng Người, Người nói với Philip: “Ta mua đâu được bánh cho họ ăn?" 6Người nói vậy để thử ông vì Người đã biết điều Người sắp làm. 7Philip đáp lại Người: “Hai trăm đồng quan bánh cũng không đủ cho họ để mỗi người được chút đỉnh!" 8Một môn đồ khác, Anrê, em của Simôn Phêrô nói với Người: 9“Đây có em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá. Nhưng ngần ấy thì thấm vào đâu cho bấy nhiêu người?" 10Đức Giêsu nói: “Bảo người ta ngồi xuống”. Nơi ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, số chừng cũng đến năm ngàn người. 11Vậy Đức Giêsu cầm lấy bánh và tạ ơn, đoạn phân phát cho những người dùng bữa, và cá cũng thế, bao nhiêu tùy thích mỗi người. 12Khi họ đã ăn đầy đủ rồi, Người bảo môn đồ: “Hãy thu nhặt các mảnh vụn dư lại, kẻo có gì hư đi mất”. 13Họ thu nhặt lại và đổ đầy mười hai giỏ mảnh vụn, do năm chiếc bánh lúa mạch người ăn còn để dư lại. 14Thấy phép lạ Người vừa làm, người ta nói: “Hẳn Ngài là vị tiên tri, Đấng sẽ đến trong thế gian!" 15Đức Giêsu rõ được là họ sắp đến bắt lấy Người để tôn làm vua, thì Người lại rút lui trên núi một mình.

Sau phép lạ vĩ đại hóa bánh ra nuôi 5000 người ăn no dân chúng nhất định coi Đức Giêsu là Đấng Thiên sai, Đấng Thiên Chúa xức dầu và sai đến cứu dân Người, cho nên họ định công kênh Người lên làm Vua (Ga 6,15) để lo cho họ được no cơm ấm áo, thay đổi số phận hẩm hiu hiện tại họ đang phải chịu dưới ách đô hộ sắt máu của người Rôma.

Thấy dân chúng hiểu lầm sứ mệnh thiên sai của mình quá nhiều, Đức Giêsu liền lánh lên núi, còn các Tông đồ đang phấn khởi bởi phép lạ và cũng muốn hùa với dân chúng, thì Người bắt họ xuống thuyền đi sang bên kia biển hồ Galilê. Và khi đêm xuống, Người đi trên mặt nước Biển Hồ mà đến với các môn đệ và thuyền đã cập bến nơi họ muốn tới (cc.16-21).

Hôm sau, vì không thấy Đức Giêsu trên núi, nơi xảy ra phép lạ, dân chúng kẻ xuống thuyền, kẻ đi vòng quanh bờ hồ đến Ca-phac-na-um tìm Người (cc.22-25). Và khi thấy họ vất vả tìm gặp Người như thế, Đức Giêsu chỉ ra cho họ thấy công lao vất vả của họ thật uổng phí : họ đi tìm Người không vì được thấy "dấu lạ" qua việc hóa bánh ra nhiều nhưng chỉ vì được ăn no bánh mà thôi (c.26). "Dấu lạ" hay "dấu chỉ" giống như mũi tên chỉ đường, được dựng lên không thể nào vô nghĩa nhưng nó muốn chỉ cho người ta một hướng đi đúng để đạt tới đích. Người Do thái không nhận ra được ngụ ý ẩn chứa bên trong "dấu lạ hóa bánh" kỳ diệu đó. Phải thú thực : làm sao loài người phàm hèn có thể hiểu được hàm ý sâu sắc, cao cả và siêu phàm ẩn giấu trong phép lạ ấy được ? Dấu lạ hóa bánh ra nhiều đó báo trước một ân huệ vĩ đại, tuyệt diệu : Bánh Sự Sống (Bread of life) là chính bản thân Chúa Giêsu và Lời của Người, được trao ban cho nhân loại để họ được nuôi dưỡng bằng sự sống thần linh. Phép lạ hóa bánh ra nhiều đó còn là biểu tượng cho Bánh Hằng Sống (Living Bread) mà Chúa Giêsu sẽ ban cho loài người sau này: đó là chính Thịt Máu Người đã được thần hóa sau khi đã hiến tế trên thập giá và sống lại, sẽ được ban phát vô hạn lượng làm thực phẩm thần linh nuôi sống loài người đang hấp hối vì tội lỗi này.

HƯỚNG ĐẾN LƯƠNG THỰC THƯỜNG TỒN (cc.27-34)

Chúa biết những người Do Thái hôm nay chạy theo Người chỉ vì miếng ăn, là nhu cầu vật chất thường ngày, là những thứ không tồn tại lâu dài nên Chúa khuyên bảo:

"Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn mang lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận."(c.27)

Nói cho người Do Thái, Chúa cũng muốn nhắc nhở chúng ta, đành rằng một khi đã mang lấy cái thân xác này, con người cần cơm ăn áo mặc, các của cải và tiện nghi vật chất… Nhưng quả thật chúng ta đã lãng phí quá nhiều thời gian, lao tâm khổ trí gây dựng những chuyện chóng qua, để đạt được những thứ vật chất mau hư nát để rồi khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta cũng đành buông trôi tất cả, chẳng mang theo được gì. Thật là phí công vô ích như loài "dã tràng se cát bể Đông" mà thôi ! Chẳng lẽ tất cả cuộc đời của ta chỉ là để cho có những của vật chất ấy thôi sao mà không còn biết có một thứ lương thực cao quí hơn, thường tồn hơn ? Lời Chúa Giêsu nhắc nhở trên đây có lay tỉnh được ta không ? Có biết bao người con của Chúa vì nỗi lo lắng sự đời : cơm áo gạo tiền, địa vị, danh vọng mà ngày lo, đêm nghĩ. Rồi cuộc vui thế gian, cơn mê lạc thú, những cuộc chạy đua theo các tiện nghi, máy móc hiện đại, ngay cả những thú vui lành mạnh như tivi, sách báo…làm chúng ta mê mải mà quên rằng đó là những sự vật chất chóng qua. Tất cả như cơn sóng kéo chúng ta ra xa khỏi bến bờ sự sống đời đời. Đôi mắt chúng ta chỉ chăm nhìn vào thế gian, và tay ta muốn nắm giữ mọi thứ cho đến giờ phút cuối cùng mới choàng mở mắt thấy mọi sự thế gian là hư ảo và cuộc sống thế trần ngắn ngủi như cỏ hoa soớm nở chiều tàn...

NGUYỆN CẦU

Lạy Chúa, chúng con xin cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con sự sống quí giá này, nhưng gần cả một cuộc đời chúng con chưa biết trân trọng sự sống Chúa trao ban. Chúng con đã phí phạm biết bao thời gian mà không đi kiếm sự sống thần linh cho tâm hồn, còn nói chi đến sinh lời lãi gì cho Nước Chúa. Biết bao hạt giống Chúa gieo trồng, chúng con để rơi bên vệ đường, trên nơi sỏi đá hay vào bụi gai mà không biết xót xa tình Chúa. Gần hết cả cuộc đời chúng con chỉ lao công gắng sức vì lương thực mau hư nát, làm những việc vô ích như loài dã tràng…vì không đem lại cho chúng con sự sống thường tồn.

  Lạy Chúa, chúng con nay trở về quì gối tạ tội trước Thánh Nhan Chúa như con chiên lạc loài mong Chúa mở lượng hải hà thứ tha. Amen.

*

Người Do Thái nghe Đức Giêsu nói đến sự phải ra công làm việc để có lương thực thường tồn mang lại phúc trường sinh, thì lập tức theo thói quen giữ luật, họ lại hiểu là "làm các việc Luật dạy", nên liền hỏi Người là họ sẽ phải làm những việc luật dạy nào trong số mấy ngàn điều luật lớn nhỏ (c.28) ? Một lần nữa họ lại đi trật đường rầy! Sống trong não trạng Cựu Ước, làm các điều Lề luật dạy là điều kiện để được sự sống đời đời. Nhưng nay thì khác rồi, Đức Giêsu đã đến khai mạc một kỷ nguyên mới, trong thời kỳ này, để được sự sống đời đời, đức tin thay thế cho Lề luật. Do đó Đức Giêsu nói với họ: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến"(c.29).

Thánh Phaolô, trước kia là một người theo bè Biệt phái giữ luật rất nghiêm ngặt, nhưng sau khi được ơn trở lại, ông đã hiểu và đã nói : "Nay Thiên Chúa công chính hóa người ta mà không cần đến luật…Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính (tức là được sự sống đời đời) nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô" (Rm 3,21-22). Ở mấy câu sau  ông lặp lại lần nữa : "Người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy." (Rm 3,28). Tại sao vậy? Thánh nhân giải thích : "Người nào làm việc, thì lương trả cho người ấy không kể là ân huệ, mà là nợ. Trái lại, người nào không dựa vào việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo nên công chính, thì lòng tin làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính." (Rm 4,4-5). Thánh Phaolô đã diễn tả đúng: một người giữ luật chặt chẽ tương tự như người làm công, làm xong việc chờ được chủ (Chúa) trả lương (là sự sống đời đời). Nhưng trong kế hoạch cứu rỗi của Tân Ước, để được sự sống đời đời, Thiên Chúa không còn thích hay không còn muốn người ta cậy vào một bộ luật mà là tin vào một người đúng như Đức Giêsu tuyên bố với người Do Thái : "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến"(Ga 6.29).

Để minh họa chân lý ấy, Đức Giêsu kể dụ ngôn hai người lên Đền thờ cầu nguyện (Lc 18.10-14) : người thứ nhất là Biệt phái tự đắc kể công trạng mình đã làm được nhiều việc luật dạy…, và ông ta chỉ còn chờ Thiên Chúa trả công cho ông là sự sống đời đời ; còn người thứ hai là người thu thuế, vốn là người bị coi là hạng tội lỗi, nghĩa là đã vi phạm nhiều điều luật, thì chỉ biết đấm ngực xưng thú tội và tin cậy vào Thiên Chúa thương xót. Và phán quyết của Chúa Giêsu thật bất ngờ: người thu thuế tội lỗi ra về được Chúa tha thứ tội lỗi và được nên công chính, trái lại người Biệt phái thì không được!    

Quả thật là một Tin mừng cho chúng ta : Ngay cả khi chúng ta đang sống trong tội lỗi như anh thu thuế trên đây, thì cũng đừng nản lòng, đừng mặc cảm, rồi lánh xa Chúa…, vì Thiên Chúa không nhìn chúng ta theo kiểu chúng ta tự nhìn mình đầy tội lỗi, mà Thiên Chúa nhìn chúng ta có ở trong Đức Giêsu Kitô bởi Đức Tin hay không. Thánh Phêrô giảng cho Cor-nê-liô, một sĩ quan trong quân đội Rôma : "Hết thảy các tiên tri đã chứng thực rằng ai tin vào Đức Giêsu thì được lãnh ơn tha tội nhờ Danh Người" (Cv 10.43). Sau đó, ngay ở giữa Công đồng chung Giê-ru-sa-lem, ông còn tuyên bố : "Thiên Chúa đã tẩy sạch (tội lỗi trong) lòng người ta bằng đức tin" (15.9).

Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa tỏ lòng thương xót với các tội nhân: "Không một linh hồn nào phải sợ sệt khi đến gần Ta, dù tội lỗi của họ có đỏ như máu…"

Vì chịu ảnh hưởng Cựu Ước và Do thái giáo, đạo Công giáo chúng ta trước đây và có lẽ cả bây giờ vẫn còn chú trọng nhiều nhất vào việc giữ luật, làm các việc lập công để được thưởng vào Nước thiên đàng, đành rằng đó là điều tốt và cần, nhưng không mấy nhấn mạnh đến niềm tin. Nếu có nói đến đức tin thì coi như là một việc của trí khôn chấp nhận những chân lý mầu nhiệm. Song đó chỉ là bước đầu đến với Chúa. Và xong bước đầu ấy coi như là thủ đắc được đức tin rồi, là thôi không còn nhấn mạnh, không đào sâu, không củng cố về lòng tin nữa. Vì thế, đối với đa phần người Công giáo thì theo đạo có nghĩa là giữ 'đạo', là giữ luật. Do đó, họ đi dự Thánh Lễ cho đúng luật, nhận lấy các Bí Tích theo như luật truyền…còn trong lòng không có tâm tình thân thiết gắn bó với Chúa.

  Tin không phải là nắm giữ lấy 'đạo', lấy luật cho thật chặt mà là đến với Chúa, tin cậy yêu mến Chúa, sống gắn bó mật thiết với Chúa với cả tâm hồn, với trọn trái tim của người con thảo đối với Cha trên trời.

Như thế, niềm tin được đặt ở vị trí ưu tiên trên việc giữ luật và có giá trị bằng ngàn vạn việc giữ luật. TIN có một giá trị tuyệt đối bởi vì Thiên Chúa đã ban cho loài người tất cả mọi sự ngay cả chính Con Một của Người để cứu loài người khỏi hậu quả của tội lỗi là Cái chết đời đời. Và Cái chết của Con Một Thiên Chúa là giá máu chuộc lại cho chúng ta ân huệ dưng không cao cả là Sự sống đời đời. Vậy, Chúa đã ban cho chúng ta tất cả ngay cả chính mình Người nữa, Người chỉ mong một điều là ta tin yêu Chúa, sự đòi hỏi đó có phải là quá đáng không?

Và nếu đức tin là điều tối quan trọng đến thế để được sự sống đời đời, thì hẳn nhiên không tin là chọn cái chết chắc chắn : "…Kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa." (Ga 3,18). Nếu ta còn muốn một bằng chứng cao hơn nữa thì đây chính lời Chúa Giêsu phán : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án" (Mc 16,15-16).

TIN THẬT HAY TIN GIẢ ?

Vậy vấn đề là chúng ta có tin Chúa thật sự không hay chỉ trên môi miệng ?

Tôi đã được nghe kể chuyện cũng như mắt được thấy có những chị vừa nguyện kinh Lòng Chúa Thương Xót xong lại rủ nhau đi xem bói vì nhà chị có chuyện buồn ! Có những người vì xin ơn theo ý mình không được thì thôi nhà thờ, thôi đọc kinh, cầu nguyện. Có người buôn bán thì cũng cúng ông Địa nơi bán hàng hay ở trong nhà : trên là bàn thờ Chúa, ở dưới chưng ông Thần Tài. Có người trót lỡ phạm tội thì sợ hãi không muốn đến với Chúa nữa.

Ôi ! Thật là xót xa cho Lòng Chúa Xót Thương !

Nếu chúng ta tin Chúa là Đấng Cứu Thế, Đấng cứu thoát ta khỏi mọi sự dữ thì ta sẽ đến với Chúa và Người sẽ vực chúng ta dậy ra khỏi tội lỗi, gian nan, khốn khó như người con hoang đàng biết tin cậy cha của mình nên đã quay trở về, đã được cha tha thứ và phục hồi mọi vinh dự đã mất... 

NGUYỆN CẦU

Lạy Chúa, chúng con xin dâng lên Chúa lời thánh ca cũng là lời thống hối của chúng con :

"Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương vì chúng con đây đắc tội với Ngài. Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương vì chúng con đây đắc tội lắm thay."

***

Trở lại với bản văn Tin Mừng Gioan, thì thấy là người Do Thái không phải là kẻ dễ tin đâu. Họ vừa nghe Đức Giêsu nói: Phải tin. Họ chấp nhận : Được, phải tin. Nhưng tin ai ? Đức Giêsu bảo : "Tin vào Đấng Thiên Chúa sai đến !" Họ hiểu ngay là Chúa muốn ám chỉ về chính mình Người. Người Do Thái liền thách thức: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? Ông sẽ làm gì đây ? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời." (Ga 6,30-31)

Người Do Thái đòi hỏi một dấu lạ hay phép lạ như thế để họ tin, việc đó không phải là điều gì quá đáng, vì trong đời thường, chúng ta cũng đòi người ta phải đưa ra một bằng chứng hay một vật gì bảo đảm để ta tin họ, cách riêng trong những chuyện hệ trọng. "Chọn mặt mà gửi vàng !". Người Do Thái lại càng phải cẩn thận hơn, vì Thiên Chúa thường hay sai các tiên tri đến dạy bảo và sửa đổi cách ăn nết ở của họ. Muốn cho họ chấp nhận sứ điệp, các vị này thường phải làm những phép lạ để minh chứng mình đã được Thiên Chúa sai đến. Không làm được dấu lạ, đó là bằng chứng Thiên Chúa không ở với vị tiên tri ấy, chỉ là tiên tri giả, không  do Thiên Chúa sai đến, như vậy không thể tin được. Ông Nicôđêmô một đêm kia đến thỉnh vấn Chúa Giêsu cũng nói: "Chúng tôi biết Ngài tự Thiên Chúa mà đến… vì không ai làm được các dấu lạ Ngài làm trừ phi Thiên Chúa ở với người ấy" (Ga 3,2). Vậy nếu người Do Thái ở đây đòi Đức Giêsu làm dấu lạ để họ tin là theo đúng truyền thống mà họ đòi.

Đòi Đức Giêsu phải làm dấu lạ, chưa đủ, họ còn đưa ra một nhân vật lớn trong đạo họ hình như để thách Người có làm được dấu lạ bằng ông ấy không: Môsê đã ban cho chúng tôi bánh bởi trời qua phép lạ manna, còn ông có làm được bằng ông ấy không ? (6.31).

Mấy câu phản bác của Đức Giêsu sau đây có thể coi như tiền đề cho diễn từ Bánh hằng sống mà Người sẽ khai triển sau đó. Người phản bác hai điều :

1- Thiên Chúa ban manna chứ không phải Môsê: "Quả thật, Tôi bảo các ông không phải ông Môsê đã cho các ông bánh bởi trời, mà chính là Cha Tôi" (c.32). Đọc sách Xuất hành 16.4 thì thấy rõ ràng : "Giavê phán với Môsê : "Này Ta sẽ cho mưa bánh bởi trời xuống cho các ngươi và dân hãy ra mà lượm lấy…". Môsê chỉ là người báo điều ấy cho dân.

2- Manna không phải là bánh bởi trời, nó chỉ là một thứ bột mà Thiên Chúa làm cho từ không trung rơi xuống. Còn bánh đích thật do Thiên Chúa ban mới "là bánh bởi trời xuống và ban sự sống cho thế gian" (c.33). Vậy để được là bánh đích thực của Thiên Chúa, thì phải có hai điều kiện :

a) từ trời, tức là từ thiên giới nơi Thiên Chúa mà xuống và

b) ban sự sống muôn đời cho thế gian, chứ không phải cho người ta một sự sống tạm bợ ăn rồi vẫn phải chết.

Nghe thấy thế, người Do Thái bèn ngỏ lời xin cho họ thứ bánh ấy (c.34). Được lời họ mở lối, Đức Giêsu liền ban cho họ một Diễn từ để họ hiểu bánh sự sống ấy là thế nào, làm sao mà lãnh được, và bánh ấy sinh hiệu quả thần diệu đến chừng nào. Đó là nội dung của Diễn từ bánh sự sống. 

*

*     *

II/  DIỄN TỪ VỀ BÁNH SỰ SỐNG

sẽ được triển khai qua hai phần :

A. Phần nhất : Bánh Sự Sống là Bản Thân Chúa và cũng là Lời của Người, ta lãnh nhận bằng tâm trí và bởi đức tin.

B. Phần hai : Bánh Sự Sống là Thịt Máu Người, ta lãnh nhận bằng cách ăn uống, và cũng bởi lòng tin.

A. PHẦN THỨ NHẤT (cc.35-50)

35 Đức Giê-su bảo họ : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ ! 36 Nhưng tôi đã bảo các ông : các ông đã thấy tôi mà không tin. 37 Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”

41 Người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói : “Tôi là bánh từ trời xuống.” 42 Họ nói : “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói : “Tôi từ trời xuống ?” 43 Đức Giê-su bảo họ : “Các ông đừng có xầm xì với nhau ! 44 Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. 45 Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ : Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. 46 Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. 47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. 48 Tôi là bánh trường sinh. 49 Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. 50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.

*

Mở đầu Đức Giêsu khẳng định:

"Bánh Sự Sống, chính là Tôi"(c.35).

Sở dĩ Đức Giêsu nói "Tôi là Bánh Sự Sống" vì Người muốn dùng một hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống: cái bánh vốn là thực phẩm nuôi người ta khỏi chết đói, thì đây Lời và Bản Thân Người nuôi họ khỏi chết phần linh hồn. Các sách Khôn ngoan của Cựu Ước cũng thường dùng hình ảnh bánh để ám chỉ Lề luật và Đức Khôn Ngoan ví như bánh nuôi sống tâm linh con người. "Đức Khôn Ngoan đã hạ súc vật, hâm rượu, dựng bàn và phái tôi tớ rao truyền…: 'Ai là kẻ ngây ngô hãy qua đây…Hãy đến.. ăn bánh của Ta, uống rượu Ta đã hãm. Hãy trút bỏ ngây ngô và các ngươi sẽ sống'." (Cn 9.1-6). Nếu Lề luật và Đức Khôn ngoan còn nuôi sống như vậy huống chi chính bản thân và Lời Thiên Chúa là Đức Giêsu.

Vì thế Đức Giêsu mới nói rằng Bánh ban sự sống ấy là Tôi, là chính Bản Thân Tôi. Bản Thân Người lại chính là Lời Thiên Chúa, là Ngôi Lời Thiên Chúa, bằng chứng là Tin Mừng Gioan viết :

"Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành." (Ga 1,1-3)

  Khác xa Đức Khôn ngọan Cựu Ước, chỉ mời người ta đến ăn bánh tinh thần là các lời dạy để nhờ đó họ được sống thì nay, Ngôi Lời, Đấng Toàn Năng vô hình tạo thành vạn vật đã mặc xác thịt, trở nên Con Người Giêsu hữu hình bằng xương bằng thịt và ở giữa loài người ...

"Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ ở giữa chúng ta" (Ga 1,14)

... để có miệng lưỡi mà nói ra những lời thần linh ban sự sống, vì : "Lời Ta là Thần Khí và là Sự Sống" (c.63), và sau này còn sẽ hiến ban chính thịt máu mình nuôi sống nhân lọai.

Đáng tiếc, đối với một số người, Lời Chúa còn bị coi là trừu tượng, xa thực tế cơm áo gạo tiền, bởi vậy có lần nghe họ nói : “Bảo tôi đi học lời Chúa ả ? Thế học rồi lời Chúa có ban cho tôi cơm ăn áo mặc không ?”  Họ chưa nhận ra được Lời Chúa cũng là lương thực nuôi dưỡng linh hồn và thể xác, họ chưa tin thật rằng: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." ( Mt 4,4 ). Vì thế, trong sự khôn ngoan vô cùng, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Lời Chúa làm Bánh Sự Sống, để phàm nhân như chúng ta không còn phải đói khát, thiếu thốn, èo uột nữa.

Lời Chúa thật sự là Thần khí và Sự sống !

Điều này đã xảy ra rất cụ thể vì có nhiều bệnh nhân thay vì uống ba lần thuốc trong ngày thì họ lại đọc Thánh Kinh với niềm tin yêu tuyệt đối và bệnh của họ được thuyên giảm rõ rệt. Đó là một trong nhiều chứng từ chứng thực Lời Chúa mang lại sức sống cả cho phần xác con người nữa.

  Một điều đáng tiếc nữa là khi nghe nói "Bánh sự sống, chính là Ta", các tín hữu không biết là Chúa muốn nói về Lời Chúa mà chỉ thường hiểu về Mình Thánh Chúa. Hiểu như thế không phải là sai, song đúng hơn trong phần thứ nhất này của Diễn từ, Đức Giêsu chưa nói minh bạch đến Mình Máu Thánh, Người sẽ nói ở phần thứ hai. Chính vì hiểu đơn giản như trên mà các tín hữu thường chỉ quí trọng Mình Thánh mà rất lơ là học lời Chúa, lãng quên đọc Thánh Kinh.

Đã có lần Đức Nữ Vương Hòa bình hiện ra tại Medjugorje (Mễ Du) tỏ ra sầu thảm rơi nước mắt khi nói với linh mục Quản xứ là cha Jozo – dòng Phan Sinh và là tông đồ của Đức Mẹ:

  "Mẹ rất buồn vì người ta đã quên lãng Thánh Kinh. Các con hãy lấy sách Thánh Kinh ra khỏi các sách khác trên kệ sách và đặt vào chỗ danh dự trong nhà. Vì các con không đọc Thánh Kinh với tình yêu như đó là Lời Thiên Chúa đang sống động."

  "Chỉ cần hôn kínhSách Thánh, người ta cũng lãnh được nhiều ơn rồi." (SĐ 18-10-1984).

Thậm chí ngay cả lúc tham dự Thánh Lễ, được nghe Lời Chúa qua vị linh mục, người ta cũng chỉ nghe như là tiếng gió thoảng bên tai rồi không còn nhớ nữa như hạt giống gieo bên vệ đường nông cạn, hời hợt nên 'quỉ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng' mà chẳng đâm rễ, sinh hoa kết quả gì. Mỗi Chúa Nhật, người ta đến nhà thờ rồi lại vô tâm đi về chứ không mang Lời Chúa dạy về để đem thực hành trong cuộc sống mình. Vì thế đời sống họ tệ đến nỗi Mẹ phải than phiền : "Các con nói các con là người có đạo mà lại sống như người ngoại đạo."

Ước gì tất cả những ai đã biết yêu quí Thánh Thể thì cũng hãy quí trọng Lời Chúa là Thần khí và là Sự sống.

*

Tiếp theo lời khẳng định Tôi là Bánh Sự Sống, Đức Giêsu hứa :

"Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ" (c.35).

Chúa nói đến với Chúa thì không còn đói và không còn khát bao giờ nữa. Vì sao? Vì khi người ta đến với Chúa, ăn lấy bánh ban sự sống, thì chính Người và Lời Người sẽ ban cho ta thỏa mãn mọi ước vọng, lấp đầy những khao khát của trái tim ta, thỏa mãn những nguyện vọng luôn muốn tìm kiếm sự thật của tâm trí ta, khiến ta không còn thèm khát những sự đời này. Đành rằng sống ở đời ta phải lo kiếm tiền, lo học hành, đỗ đạt để có nơi làm việc, lo xây dựng nhà cửa, lo dựng vợ gả chồng  v.v… nhưng chúng ta sẽ không còn khao khát và đôn đáo miệt mài tìm kiếm tất cả những cái đó y như thể chúng là cứu cánh đời sống của mình vậy, và khi không được thì thất vọng ê chề, và đau khổ không còn thiết sống nữa.

Chúa kêu gọi chúng ta đến với Chúa để khỏi đói khát, nhưng vấn đề là :

CHÚNG TA ĐÃ ĐẾN VỚI CHÚA CHƯA ?

Đối với vị Thánh Sử Gioan, chữ "đến" thường đồng nghĩa với "tin". Trong câu Đức Giêsu nói ta thấy rõ điều ấy: " Ai đến với Ta sẽ…// và kẻ tin vào Ta sẽ…" Có mặt chưa phải là đến. Ngày xưa, bao nhiêu người Do Thái đã có mặt trước Chúa Giêsu, các Thượng tế Hanna và Caipha, quận vương Hêrôđê, Philatô v.v…đã có mặt trước Chúa mà đâu phải họ đến với Chúa, tin Chúa ? Họ chưa thực sự gặp gỡ Chúa. Chỉ gặp gỡ thật khi hai tâm hồn rung lên cùng một nhịp đồng cảm, thành tri âm tri kỷ với nhau, tin tưởng nhau, yêu mến nhau. Qua những việc chúng ta đọc kinh như máy móc, những lần dự Thánh lễ vì luật buộc, hay bao lần đi chầu Mình Thánh cách chiếu lệ v.v.. như thế có thể coi là chúng ta đã thật sự đến với Chúa chăng? Thảo nào …! Chúng ta vẫn cắm đầu cắm cổ mê mải tìm những sự vật đời này như những kẻ đói khát ! Hễ ai còn thấy mình miệt mài tìm kiếm các sự vật thế trần như thể chỉ có chúng mới đem lại hạnh phúc cho mình, đó là dấu người ấy chưa đến thật với Chúa.

SUY NIỆM

Khi chúng ta suy gẫm về Ngôi Lời là Ngôi Hai Thiên Chúa cao cả, uy linh mà lại hạ cố làm người phàm trần, sống giữa thế gian nhưng 'thế gian không nhận biết Người và cũng không chịu đón nhận' thì ta như thấy trong lòng có một nỗi ngậm ngùi, xót xa.

  Con người Giêsu phong sương ấy không nề gian khổ, dong ruổi trên khắp nẻo đường đời gió bụi để rao giảng Tin Mừng, để chữa lành, để trừ ma quỉ, để cứu giúp, giải quyết mọi nỗi khó khăn của loài người… và cuối cùng là đem hết tình yêu thí mạng trên thập giá để đền tội cho ta.

Tất cả những điều ấy Chúa Giêsu đã làm hết và có thể nói không còn gì có thể làm mà Người đã không làm, tất cả chỉ cốt đem lại cho chúng ta một cuộc đời hạnh phúc, cái hạnh phúc thật mà thế gian không thể đem đến cho ta được, để ta không còn phải đói khát khổ sở chạy theo các sự vật tầm thường và phù vân giả trá trần gian…

Nghĩ đến công ơn của Người to tát như vậy có làm tâm hồn ta lay động, xao xuyến ? Ta có khóc thương Con người Giêsu phải chịu đau khổ vì loài người trần gian ? Hay khóc cho chính ta đã bao năm qua thờ ơ, lãnh đạm, bội bạc trước Tình Yêu vô biên, vĩ đại ấy ?

  Hơn 2000 năm về trước Chúa Giêsu đã trách người Do Thái: "Các ông đã thấy Tôi mà không tin." (Ga 6, 36). Còn chúng ta bao năm qua đã vinh hạnh được thấy Chúa lòng tin ta mỏng manh, yếu kém, nhưng có điều là ta đã thật sự đến với Chúa hay chưa ?

Vậy mà, mặc cho tình người đen bạc, Chúa vẫn đến với chúng ta với tất cả ân tình, vẫn chờ đợi chúng ta như kẻ tình si, vẫn tìm cách nhắc nhở, kêu gọi chúng ta hãy đến với Người

“Này Ta đã đứng bên cửa mà gõ ! Ai nghe tiếng Ta má mở cửa, thì Ta sẽ vào với người ấy, và Ta sẽ dùng bữa tối với người ấy và người ấy với Ta.” (Kh 3.20). 

  Vì mong mỏi rằng với ngọn lửa yêu đương cháy bỏng của Người thì trái tim chai đá của chúng ta sẽ ra mềm mại, trí óc mờ đặc của chúng ta sẽ trong trẻo vẻ thông minh, khôn ngoan của Thần Khí và chúng ta sẽ đến gần Người, thật sự gặp gỡ Người với trọn niềm tin và yêu mến vì ' TIN là bước vào tương giao thân tình với Thiên Chúa.' (Sách Đọc Tin Mừng theo Yoan đã dẫn, tr.111)

  Thiên Chúa Cha yêu quí loài người biết bao và đã thể hiện tình thương ấy qua Tình Yêu hữu hình của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nói rằng : "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy." (Ga 15, 9). Chúa yêu thương chúng ta và Chúa cũng mong mỏi chúng ta yêu thương Chúa nữa. Chúa muốn ta thấu hiểu Lời Chúa và thực hành Lời Chúa dạy như những kẻ tri âm, tri kỷ hiểu nhau bằng trái tim chứ không qua môi miệng mà thôi.

  Thiên Chúa là Đấng giàu sang, phú quí tột đỉnh, mọi sự đều sung mãn vì Ngài là Chúa tể vũ trụ này. Sự có mặt của chúng ta thì cũng chẳng thêm gì cho Chúa nhưng "sự trình diện" của chúng ta trước Thánh Nhan Chúa lại mang đến cho chúng ta nhiều ân sủng, phúc lộc: "Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác." (Ga 1,16)

Chính Chúa đã kêu gọi :

"Chính tôi là Bánh ban Sự Sống. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ !"

(Ga 6,35)

Đến gần Chúa với trọn vẹn trái tim như thế cũng có nghĩa ta tin rằng: Người là tất cả ! Thế nên chúng ta sẽ không còn cảm thấy đói khát, thiếu thốn bất cứ điều gì, sự gì khác nữa. Bởi vì:

"Tất cả khát khao và ước vọng sâu thẳm nhất của tâm linh họ đã được thỏa mãn đầy đủ. Dĩ chí họ còn coi sự đói khát và cái chết phần xác như không còn ý nghĩa quyết định. Vậy chính Đức Giêsu mới là Đấng mà mọi người phải đến để được bồi dưỡng sức mạnh và sự sống của mình, mà sự chết không diệt được." (Sách đã dẫn trên, tr. 150)

Còn gì hạnh phúc hơn khi chúng ta được sống trong vòng tay yêu thương, che chở của Chúa, dù cuộc đời có khó khăn, vất vả nhưng ơn Chúa sẽ giúp mọi sự trở nên nhẹ nhàng vì Chúa bảo vệ, đỡ nâng ta trong mọi nghịch cảnh. Trong Chúa, chúng ta luôn được niềm vui và bình an tuyệt diệu của trời cao vì Chúa là nơi an nghỉ, là Bánh ban Sự Sống dưỡng nuôi tất cả những ai ĐẾN với Chúa được no thỏa không còn phải âu lo, đói khát nữa.

"Tất cả những ai vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng…" (Mt 11,28-29)

Tóm lại, tất cả vấn đề ở đây là chúng ta có Tin và Đến với Chúa thật sự hay không ?

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, Chúa luôn chờ đợi và mời gọi mọi người đến với Chúa. Chúng con hoan hỉ những tưởng đã đến với Chúa rồi vì bây giờ chúng con đã biết yêu quí Thánh Kinh, hàng ngày chúng con đã biết đọc Thánh Kinh cũng như gắng áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống để hoàn thiện mình, chúng con đã…và đã…

  Nhưng lạy Chúa, khi suy gẫm tình yêu tuyệt đỉnh của Chúa trên thập giá thì chúng con nhận ra mình thật bất xứng, đã chưa bao giờ đến với Chúa cho đủ và chẳng bao giờ có thể đủ được. Tình yêu của Chúa thật cao cả, vĩ đại lại thẳm sâu, nhiệm mầu vì đó là "tình yêu vượt quá sự hiểu biết của loài người" chúng con.

  Niềm tin của chúng con đối với Chúa thì hời hợt, nông cạn, ít ỏi lắm như có lần Đức Mẹ đã bảo: "Đức tin của các con còn yếu kém lắm."

  Tình yêu của chúng con đối với Chúa thì nhỏ nhoi, như hạt cát trong đại dương, mong manh như bọt nước mau tan giữa mặt biển khơi.

  Lạy Chúa, Chúa là núi đá, thành trì cho chúng con tựa nương. Xin Chúa ban cho con thêm niềm tin, thêm tình yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.

  Xin cho con được đến học với Chúa hiền lành và khiêm nhường, đơn sơ và bé nhỏ.

  Xin cho trái tim con khao khát Chúa, là Bánh ban Sự Sống, là Nước Hằng Sống trong bữa yến tiệc huy hoàng ở thiên cung để linh hồn con được no đầy ơn phúc của Tin Mừng vĩnh cửu.

  Xin cho con được đến với Chúa thật sự, thật sự phó thác cuộc đời mình trong tay Chúa như trẻ thơ tin tưởng trọn vẹn vào tình thương và quyền năng của Cha trên trời.

  Nhất là cho con vững tin rằng đối với chúng con: CHÚA LÀ TẤT CẢ. Amen.

CHÚA GIÊSU BAN GÌ

              CHO KẺ ĐẾN VỚI NGƯỜI  ? 

Chúng ta hãy nghe Người nói :

"Tất cả những người Chúa Cha ban cho Tôi đều sẽ đến với Tôi, và ai đến với Tôi,

a) Tôi sẽ không loại ra ngoài và không được để hư đi điều gì." (cc.37, 39) ;

b) Có sự sống đời đời

c) Và ngày sau hết Tôi sẽ cho họ sống lại (c.40)

Ta hãy cẩn thận cứu xét những lời hứa tuyệt vời ấy:

a) Tôi sẽ không loại ra ngoài và để hư đi. (cc.37,39)

Khi nghe Chúa nói như trên, ta cảm nhận niềm hạnh phúc được Chúa yêu thương, chăm sóc. Nào là chúng ta được Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đón nhận lấy và không bao giờ chúng ta bị loại trừ vì Người vâng lệnh Cha đã truyền là không được loại bỏ hay làm hư đi (c.39). Thiên Chúa Cha là tình yêu bao dung không muốn ai phải chết. Người là Chúa tể hiếu sinh (Kn 11,26) không hiếu sát nên dù loài người sa ngã phạm tội đáng phải chết trầm luân muôn kiếp (Eph 2,1), Người luôn kiên nhẫn, chờ đợi loài người hối cải để được sống (Ez 18, 23). Chỉ trừ những kẻ ngoan cố nhất định từ chối đến cùng không chịu hối cải.

  Cứ như theo tính loài người, Chúa Giêsu có thể loại bỏ chúng ta vì Người thấy ta chưa đủ "tiêu chuẩn". Chẳng phải có lần ta thấy Người cầm roi đuổi những người buôn bán gây ô uế nơi Đền Thờ; hoặc khi Chúa khiển trách Phêrô là Satan; khi quở mắng ông Gioan và Giacôbê đã theo tính người phàm nóng giận mà muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu đốt làng người Samari vì đã không tiếp đón Chúa…(Lc 9,54)

  Nhưng Chúa Giêsu đã từ trời xuống không để làm theo ý riêng mình mà là theo ý Cha (c.38). Mà ý của Cha là:

  "Không được loại bỏ và để hư đi điều gì" (c.39). Chúa yêu thương chúng ta như người mẹ chia sẻ cho ta phần máu thịt của riêng mẹ, để tạo nên tấm hình hài chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng những giọt sữa, bằng tình yêu âu yếm của mẹ. Hỏi rằng có người mẹ nào lại không thương con? Có người mẹ nào lại bỏ đứa con bà đã cưu mang chín tháng mười ngày trong dạ, và ba năm cho bú mớm? Tình yêu của mẹ bao la như "biển Thái Bình", không hề vơi cạn "như suối trong nguồn chảy ra" vì bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa là tình yêu không bến bờ mà Chúa dành cho loài thụ tạo chúng ta. Vì thế, "cho dù có người mẹ nào nỡ bỏ con mình, thì – theo lời tiên tri Isaia, 49.15 – Ta, Thiên Chúa, ta không hề bỏ các ngươi". Một tình yêu khắc khoải đợi chờ vì loài người mê đắm thế gian đi xa lạc khỏi vòng tay yêu thương của Người biết bao giờ mới trở lại.

  Trong một đoạn khác, Chúa Giêsu còn khẳng định  một cách mạnh mẽ hơn rằng sẽ không bỏ rơi chúng ta :

"Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi; Tôi biết chúng và chúng theo Tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi." (Ga 10,27-28)

E ngại rằng người nghe vẫn chưa thấy đủ bảo đảm, Đức Giêsu thêm câu này :

"Cha Tôi, Đấng đã ban chúng cho Tôi thì lớn lao hơn tất cả mọi sự, và không ai giật chúng khỏi tay Chúa Cha được." (Ga 10, 29)

Ai có thể cướp, có thể giật chúng ta khỏi tay Chúa Giêsu, tay Chúa Cha ? Ma quỉ ? Thế gian ? Xác thịt ư? Đó là ba thù nguy hiểm nhất của loài người. Dầu vậy, chúng vẫn không thể giật chúng ta khỏi tay Chúa, vì khi ta tin vào Chúa là ta đã tìm được nơi nương náu vững chắc nơi Chúa. Các Thánh vịnh thường hay ca ngợi Chúa là "núi đá cho tôi nương tựa", là "chốn ẩn náu vững chắc" cho tôi trong mọi cơn khốn khó, là "khiên mộc che đỡ cho tôi" trước mọi tên lửa của những kẻ địch thù hung tợn v.v…

Thánh Phaolô còn cho biết thêm những kẻ thù khác, nhưng tất cả những sự ấy, chẳng có gì có thể giật chúng ta ra khỏi Chúa chúng ta :

"Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?... Nhưng trong mọi thử thách ấy chúng ta dư sức toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, Thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta." (Rm 8,35-39)

Nhưng buồn thay,

CÓ MỘT KẺ CÓ THỂ GIẬT CHÚNG TA

RA KHỎI TAY ĐỨC KITÔ

Phải, có một kẻ có thể làm được chuyện ấy ! Có thể là chúng ta can trường vượt qua được các gian nan, đau khổ, thử thách... Nhưng trớ trêu thay! Chúng ta lại dễ dàng quị ngã bởi kẻ thù là chính mình. Lời Chúa còn đang vang vọng trong các thánh đường trên trần gian này:

"Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời." (Ga 12,25)

"Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, hãy vác lấy thập giá của mình mỗi ngày mà theo; quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ tìm được mạng sống ấy." (Lc 9.23-24)

Khi không chịu hy sinh, từ bỏ mà cứ nuông chiều theo tính xác thịt và để nó thống trị cuộc đời mình. Nào là lòng thì tin vơ, thờ quấy, tôn vinh nhan sắc, mê đắm xác thịt, say mê ăn uống, nhậu nhẹt…; nào là lưng thì đeo đầy một túi tham lam, bất hòa, chia rẽ, ghen tị, nóng giận, ích kỷ, tự ái, kiêu ngạo, nói hành, nghĩ xấu, xét đoán, chỉ trích, phê bình, …

  Nói tóm, chúng ta không biết làm chủ bản thân, không từ bỏ những ước muốn tội lỗi mà vác lấy ách luật của Chúa, tức là vác thập giá mình mỗi ngày đi theo Chúa. Vác thập giá mình mỗi ngày không phải là bằng lòng chịu đựng các bệnh tật (như chúng ta thường hay nói thế, vì đâu phải ngày nào cũng đều có bệnh tật để vác), mà là muốn nói đến sự từ bỏ mình mỗi ngày, bỏ các dục vọng, không tham sân si nữa…tuân giữ các luật Chúa đến nỗi sẵn sáng vì thế mà liều mất cả mạng sống như Chúa đã làm… Cái hy sinh đó thật nặng nề đau đớn như thể vác thập giá vậy.

  Còn nếu chúng ta buông mình theo tính xác thịt, quá mê đắm dục vọng, và chìm sâu quá đà trong tội lỗi thì đến một lúc nào đó, Chúa Cha cũng chẳng còn có thể nào lôi kéo chúng ta về với Chúa nổi nữa (Ga 6,44), nghĩa là lúc ấy, không phải Chúa không đủ quyền năng, nhưng là chúng ta đã đâm ra ù lỳ chai đá, không còn khả năng hay không còn muốn nghe theo Chúa nữa. Rõ ràng là lỗi tại chính chúng ta chứ không phải Chúa Cha không lôi kéo ta đến với Chúa Giêsu, hay là thế lực ma vương hay gian truân, khốn khổ…giật ta ra khỏi tay Chúa.

  Vậy không phải chỉ cần tin vào Chúa là "tự động" vào Thiên đàng mà phải biết từ bỏ mình, biết đi lối hẹp dẫn đến sự sống thật. Bởi tin, ta đã được Thiên Chúa ban cho ta sự sống đời đời (như ta đã xem trên đầu) ví như được Chúa ban "cây sự sống", phần của ta bây giờ là phải làm sao cho cây sự sống đó đừng bị chết đi, trái lại được chăm sóc bồi dưỡng bằng những sự hi sinh, từ bỏ, hãm mình, giữ luật Chúa làm các việc lành, đạo đức, đọc kinh, dự Thánh Lễ.. mà vun trồng cho cây ấy được phát triển và sinh hoa quả xum xuê. 

  Mặc dù còn yếu đuối, tội lỗi, chúng ta vẫn còn niềm trông cậy, tin tưởng vào Thánh Ý Cha sẽ không bao giờ loại bỏ chúng ta là những người Cha đã ban cho Chúa Giêsu (cc.37tt). Chỉ cần chúng ta cảnh giác kẻ thù "chính mình" hết sức nguy hiểm đó.

  Như vậy chúng ta đã thấy rõ câu trả lời cho câu hỏi: Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tay và tình yêu của Đức Kitô ?

  Xin thưa là: Chính chúng ta !

  NGUYỆN CẦU

  Lạy Chúa, xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa, biết đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa và sống theo Thần Khí hướng dẫn, để mỗi ngày một hơn chúng con được nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện, để rồi một ngày nào qua khỏi đời này chúng con có thể vinh hạnh được hội ngộ cùng Cha trên trời. Amen.

*

Tuy vậy, theo kinh nghiệm của nhiều người, nhất là những bậc cao niên, ngoài kẻ thù là chính mình cũng không nên coi thường những khó khăn, thử thách, đau đớn bệnh tật bên ngoài, hay nỗi đau khổ bên trong tâm hồn, vì trong những lúc ấy, nhất là khi chúng kéo dài, cơn cám dỗ bỏ đức tin cũng rất mãnh liệt, vũ bão, ghê gớm đến nỗi ta dường như thấy Chúa lánh mặt, Chúa không còn hiện diện trong cõi đời đầy khổ ải này nữa. Không còn Chúa nữa ! Không còn ai cứu giúp ta nữa ! Vô vọng và lạc lối trong đêm ! Những lúc ấy ta rất dễ rơi vào nỗi hoài nghi cùng cực và mất đức tin, nếu chúng ta không trang bị cho mình Lời Chúa !

  Lúc ấy, phúc cho ta nếu được một câu Lời Chúa không biết ta đã nghe và đón nhận từ bao giờ, chợt trổi lên, chiếu sáng trong tâm trí đang quay cuồng trong giông bão của ta, thế là ta thấy được con đường mà đi, hay sức mạnh để chống chọi lại với cơn cám dỗ. Vì thế, luôn luôn ta phải cầu xin Chúa cho ta Ơn Đức Tin để tin như trẻ thơ tin tuyệt đối vào cha nó; và biết cầu xin như bố đứa trẻ bị động kinh: "Con tin, nhưng xin Chúa hãy tăng thêm đức tin yếu kém của con" (Mc 9,24) ; và ta nên nhớ rằng: "Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát." (Mt 10, 22) Lời này đã mang lại cho chúng ta sự khích lệ lớn lao để có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình về Nước Trời.

***

Sau điều trên, Đức Giêsu còn hứa cho ai đến và tin vào Người thì được

b) Sự  Sống Đời Đời (c.40)

"Ai trông thấy Người Con và tin vào Người Con thì có sự sống muôn đời và Tôi sẽ cho họ được sống lại trong ngày sau hết." (Ga 6,39)

Sự sống đời đời là sự sống thần linh vì thông chia sự sống của chính Thiên Chúa trong tương quan hiểu biết và yêu mến. Đó là sự sống cho cả hồn lẫn xác, cho toàn diện con người, đem lại hạnh phúc toàn hảo cho cuộc sống. (sđd, tr.190)

  Sự sống đời đời không phải chỉ là sự sống kéo dài không bao giờ hết, cũng không nên hiểu là sự sống tinh thần thiêng liêng không có thể xác. Đó là sự sống đầy đủ trọn vẹn của toàn diện con người cho đến đời đời vì đã thắng Thần chết. Sự sống đời đời là thông chia sự sống  mà chính Thiên Chúa đang sống.

Chúng ta thử tưởng tượng một chút: Thiên Chúa đang sống như thế nào trên Thiên đàng ? Người sống hạnh phúc vô cùng vô tận, sống trong vinh quang, trong ánh sáng huy hoàng, Người không thiếu một thứ gì, hoan lạc không hề vơi v.v… Đấy chính sự sống ấy của Thiên Chúa mà ngay từ trần gian này chúng ta được thông phần.

Nhìn vào cuộc đời các người lành thánh, các thánh: vì họ cảm nghiệm được sự sống Thiên Chúa mà họ được thông phần, cho nên họ luôn được bình an, luôn thanh thản, luôn hạnh phúc, cho dù cuộc đời hằng gây đủ chuyện rắc rối phải lo toan, cho dù gặp những thử thách, gian truân, khốn khổ hay bị bách hại, ngược đãi, lòng họ vẫn an nhiên tự tại, giống như các con cá dưới biển sâu, vẫn tung tăng lượn lờ vẫy vùng, mặc cho trên mặt biển sóng gió bão bùng, giông tố gầm thét…Người ta sẽ nói rằng đối với họ, đang sống dưới trần gian bể khổ mà như đã sống trên Thiên đàng rồi vậy.

  Khi suy gẫm đi sâu vào Lời Chúa, ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa thật vô biên. Người muốn thông chia sự sống thần linh, sự sống vĩnh hằng của Người trên cõi đời hạnh phúc cho loài người, nên Người đã thực hiện tất cả vì chúng ta với biết bao kỳ công hết sức lạ lùng của Người: hạ cố xuống trần gian, sống cuộc đời nghèo khó, thanh sạch để nêu gương, rao giảng Tin Mừng, dạy dỗ, chuẩn bị mọi người sống sao cho xứng đáng công dân Nước Trời, ban Mình Máu Thánh để dưỡng nuôi loài người, Người còn phải uống chén đắng Mùa Thương Khó, Tử nạn và lên tới đỉnh Phục Sinh để đưa mọi người ra khỏi Sự chết.

  Bao nhiêu kỳ công là bấy nhiêu ân tình Thiên Chúa dành cho chúng ta đến không thể nói thành lời. Trái tim ta phải rung động, bồi hồi, chết lặng trước tình yêu tuyệt đỉnh của Chúa Giêsu biểu lộ ra trên Thánh Giá. Tâm hồn ta phải thinh lặng trước tình yêu Thánh Thể, là tình yêu tội nghiệp, khiêm nhu trong hình bánh đơn sơ, bé nhỏ trái nghịch với vinh quang cao cả của Chúa trên các tầng trời.

  Thiên Chúa đã làm tất cả cho chúng ta, ngõ hầu chúng ta có thể vững mạnh trên đường trở về với cõi sống đời đời hạnh phúc.

  Hàng ngày nếu ta để chút thời gian mà suy gẫm ta mới có thể cảm nghiệm được chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa, để có thể đạt được chiều sâu của đạo chứ không chỉ dừng lại ở vài việc đọc kinh, hay đôi việc đạo đức…

  ÁP DỤNG

  1. Gia đình và giáo xứ ta có nhận được sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi không ?

  Trong hội đoàn, trong giáo xứ có còn ganh tị, nói xấu, dèm pha, xét đoán, chia rẽ, xích mích, tranh giành ảnh hưởng…

  Trong gia đình có hạnh phúc không ? Có biết nhận ra khuyết điểm, yếu kém của mình để sửa chữa ? Khi bất hòa, va chạm có nhớ mình nhận được sự sống của Chúa mà không giận mãi vì như thế ta làm cho sự sống đời đời vô hiệu quả.

  Ta tin Chúa nhưng tại sao Tin Mừng không phát triển trong gia đình, khu xóm, giáo xứ ? Những nơi đó giống như khu đất bỏ hoang ta không ra tay phát cỏ hoang, không nỗ lực. Ta sống không khác gì người bên lương không biết Chúa.

  Vì sao ta sống không hạnh phúc ? Có phải vì tham vọng, ganh tị, giận ghét, ích kỷ…?     

                        ***

      SỰ SỐNG TRẦN GIAN

 LÀ SỰ  SỐNG ĐỂ MÀ CHẾT

Sự sống trong lãnh vực tự nhiên đáng được gọi là

"chết" hơn là "sống", hay là "sống để mà chết" như các loài động vật. Nếu không có sự sống Thiên Chúa trong mình, thì gọi nó là chết đúng hơn là sống. Như Đức Giêsu có lần đã nói với người thanh niên muốn đi theo Người song lại xin hoãn một thời gian để anh chôn cất cha già xong: "Anh hãy đi theo Ta, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ." (Mt 8,22). Câu nói xem ra có vẻ mâu thuẫn lại thật đúng một cách sâu xa : "kẻ chết" làm sao lại có thể đi chôn kẻ chết khác được ? Hoá ra Chúa muốn bảo, trước mắt Thiên Chúa, kẻ không có sự sống thần linh là "kẻ chết" tuy về mặt thể xác họ vẫn sống, vẫn ăn uống, vẫn vui chơi như mọi người khác.

Bởi đâu mà họ đã bị chết ?

Ở vườn Địa đàng, "cây sự sống" (St 2.9; 3.22) biểu tượng sự sống thần linh trường sinh mà Thiên Chúa dành cho loài người được hưởng, thì họ đã đánh mất vì bất tuân phục, từ đó : "Tội đã đột nhập trần gian, và vì tội thì phải chết, và … sự chết đã lan qua hết mọi người, một khi mọi người đều đã phạm tội" (Rm 5.12). "Anh em đã chết vì các sa ngã, các lỗi lầm của anh em" (Ep 2.1; Cl 2.13).

Nhưng nay Đức Giêsu đến ban cho kẻ tin và ăn Bánh Sự Sống thì được "cấy" mầm sống thần linh, sự sống đích thật vào than mình, lúc ấy không thể gọi họ là "kẻ chết" được nữa. Cái chết thân xác không hủy diệt được mầm sống thần linh đang ở trong phần tâm linh, phần cốt tủy của con người. Được sự sống thần linh trường sinh, từ nay họ không bao giờ còn chết nữa.

Có người sẽ thắc mắc : "Chẳng lẽ họ không có lúc nhắm mắt xuôi ta lìa đời ?" Xin trả lời : Có ! Nhưng đối với họ, cái chết phần xác chỉ là "giấc ngủ" mà thôi : Chúa Giêsu nói với các Tông đồ : "Ladarô người bạn chúng ta đã nghỉ yên, Ta phải đi đánh thức dậy !... Người có ý nói ông ấy đã chết, nhưng họ tưởng Người nói ông ấy đã ngủ yên giấc" (Ga 11,4-15; xem  Mc 5,39). Thánh Phaolô cũng nói về các tín hữu đã qua đời là "những người đã an nghỉ", "những kẻ đã an nghỉ trong Đức Giêsu" (1Tx 4,13-16), an nghỉ đang khi chờ đợi ngày được sống lại. (*)

------------------------

(*  Chú thích :    Giáo Hội coi ngày chết của các thánh là ngày sinh ra trong sự sống đích thật, sung mãn và trường tồn.)

------------------------------

Từ ý nghĩa đó, nghĩa trang được gọi là phòng ngủ, nhà ngủ. Trên các bia mộ thường thấy có ghi: "…chờ ngày phục sinh", "…đợi ngày sống lại", "…hãy sống trong Thiên Chúa". Trong Thánh Lễ, chỗ cầu nguyện cho người đã qua đời chúng ta nguyện : "Xin Chúa cũng nhớ đến các anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hi vọng sống lại." 

  Những điều trên đây đã mở mắt cho chúng ta thấy một điều quan trọng là : chúng ta vẫn thường hết sức  chăm lo cho sự sống thể xác, là phần mau hư nát, mà không quan tâm đến sự sống thần linh là sự sống đích thực Thiên Chúa hứa ban cho chúng ta. Chúa Giêsu đã cảnh báo:

  "Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục." (Mt 10, 28)

  Hiểu như thế ta mới cảm nhận được niềm vui, niềm vinh hạnh được là con của Thiên Chúa. Hơn ai hết chính các thánh tử đạo đã hiểu được sự sống thần linh cách sâu sắc nên mới có thể vì Chúa đành thí bỏ mạng sống để khỏi mất Sự Sống Đời Đời. Họ hiểu được cái chết phần xác là sự an nghỉ chờ ngày sống lại mãi mãi mà thôi.

  Và chúng ta đây, một khi đã tin vào Đức Kitô, ta hãy vui sướng hân hoan vì ta sẽ không còn là kẻ chết, không bao giờ chết nữa, nhưng là kẻ sống mãi mãi như Thiên Chúa. “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của người sống, vì hết thảy đều sống cho người” (Lc 20.38).

  NGUYỆN CẦU

  Lạy Chúa, chúng con xin tạ ơn Chúa vô cùng vì Chúa đã ban cho chúng con Sự Sống Thần Linh là Sự Sống quí giá của chính Chúa. Chúa đã sinh ra loài người chúng con cách nhiệm mầu và yêu thương chúng con quá đỗi đến nỗi Chúa chẳng muốn xa cách chúng con bao giờ, đến nỗi Chúa ở lại với chúng con cho đến tận thế cho dù chúng con có tội lỗi, khốn cùng thế nào đi nữa. Ôi ! Trái tim chúng con nhỏ bé, hữu hạn làm sao có thể đáp lại tình yêu cao cả vô biên, vô hạn của Chúa ?

          Thì này đây "con xin đến thực thi Ý Chúa, Chúa chẳng ưa gì lễ toàn thiêu, thì con xin đến thực thi Ý Chúa. Ý của Ngài con xin thực thi." Amen.

***

Cuối cùng Đức Giêsu ban lời hứa này :

c) Và ngày sau hết Tôi sẽ cho Sống lại (c.40)

Thỉnh thoảng, đứng trước thi hài của một thân nhân hay bạn hữu vừa nằm xuống, ta bùi ngùi thương tiếc và chợt nhớ đến thân phận bèo bọt của mình : "Con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị cắt đứt ngang hàng chỉ…" (Ca vãn Êzêkya, Is 38, 12). Sống trong một môi trường xã hội tôn thờ chủ nghĩa hưởng thụ tối đa, ta cũng như mọi người thường quên mình một ngày nào đó bất chợt rồi cũng phải ra đi…Mặc lời Chúa nhắc nhở, cứ lao mình vào dòng xoáy cuộc đời, bỏ Chúa, lơ là với nhà thờ, nhiều khi còn bóp nghẹt tiếng lương tâm, tất bật lo kiếm tìm bằng mọi giá cho được tất cả những gì làm cho cuộc đời mình thỏa mãn, sung sướng tối đa, cho bằng anh bằng chị…mà quên mất : "Đồ ngốc! Đêm nay thôi, người ta sẽ đòi mạng ngươi lại, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?" (Lc 12,20). Quả thật giờ chết, là một cuộc ra đi không bao giờ trở lại, mọi sự ta có nơi trần gian sẽ bị bỏ lại tất cả không mang theo được một mảy may gì cả : "Trần trụi tôi đã lọt lòng mẹ, thì cũng trần trụi tôi sẽ vào lòng đất" (Sách ông Gióp 1.21), nếu ta không có niềm tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại vì để ta được sự sống đời đời, là kho tàng độc nhất ta có thể giữ được, thì ta còn lại cái gì?

Nhưng nếu ta nhờ tin vào Chúa Giêsu mà được sự sống đời đời, chúng ta sẽ thấy rằng trong sự sống đời đời ấy ta sẽ có tất cả, và còn có những gì "mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người phàm không hề dám ao ước" (1Cr 2.9). Mà tuyệt vời nhất là những cái Thiên Chúa dành để cho ta trên cõi sống ấy không chỉ là những điều thiêng liêng trừu tượng, mà là còn là những gì cả thân xác chúng ta cũng được hưởng, vì ta sẽ được sống lại cả thân xác !

Thật vậy, ở đời sau, sự gì Thiên Chúa ban thưởng cho ta là ban cho những con người, mà đã là con người thì gồm có hồn có xác, vậy thì nếu muốn thật toàn vẹn hạnh phúc ở đấy, họ phải được hưởng sự sống và những sự tốt lành cho cả thân xác họ nữa. Đã sống cuộc đời trần gian ngọt bùi cay đắng xác hồn cùng chia, thì hạnh phúc cũng phải cả hồn lẫn xác cùng hưởng, vì thế, chúng ta mới nghe Đức Giêsu hứa: "Ai trông thấy Người Con và tin vào Người thì có sự sống muôn đời và Tôi sẽ cho họ được sống lại trong ngày sau hết."(Ga 6,39-40).

Quả thật đây là một điều chưa từng nghe, chưa từng có ai dám hứa cho loài người như vậy, vì ngược với luật chung đã được thiết định: "Bởi ngươi được nắn ra từ bụi đất, ngươi sẽ trở về bụi đất" (St 3,19). Khoa học cũng như kinh nghiệm đời thường vẫn thấy sự chết diễn ra như một qui luật tất yếu của địa cầu này. Sự sống lại ư ? Tin nổi không ? Dân Do Thái được tuyển chọn để mang mặc khải Thiên Chúa cho thế giới mà vẫn còn có những thành phần trong dân chống báng ý tưởng khó tin đó, chẳng hạn bè Sađukêu, và sách Tin Mừng Matthêu 22,23-32 đã kể lại cho ta tích truyện đó. Đức Giêsu đã đáp lại họ và khẳng định: Không tin điều ấy là vì "không biết đọc Thánh Kinh và không am tường về quyền năng của Thiên Chúa". Sống lại thể xác hoàn toàn cần thiết để cho chiến thắng trên Thần chết được trọn vẹn, cũng như để cho sự sống đời đời của những người tin Chúa được sung mãn. Thiên Chúa làm gì cũng làm cách hoàn hảo, không bao giờ làm nửa chừng. Không những Thiên Chúa có quyền năng làm cho linh hồn kẻ tin được sống mà còn làm cho cả thân xác họ cũng được sống lại.

Thánh Irênê viết : “Uống chén Máu Thánh Thể để thông chia Máu của Chúa, ăn bánh Thánh Thể để thông chia Thịt mình Chúa... Vậy nếu chén rượu cùng tấm bánh (vật chất) ấy có thể  đón nhận Đấng Lời Thiên Chúa để trở thành Mình và Máu Chúa Kitô..., thì tại sao người ta dám bảo rằng thân xác không có khả năng đón nhận ơn huệ Thiên Chúa, tức là sự sống đời đời (không bao giờ phải chết nữa) ? Cũng như hạt lúa kia, vùi xuống lòng đất, sẽ mục nát đi, rồi chỗi dậy, thành cây lúa mang nhiều hạt lúa vàng, nhờ bởi Thần Khí Thiên Chúa (ban sức sống cho)...; cũng vậy, thân xác ta, một khi được nuôi dưỡng bằng Mình Máu Thánh Chúa, dù có phải chết vì án phạt trở về bụi đất (St 3.19), thì đến thời đến buổi, sẽ chỗi dậy, nhờ Đấng Lời Thiên Chúa phục sinh nó, để vinh hiển cho Thiên Chúa Cha, Đấng ban cho loài phải chết được bất tử, cho loài hư hoại được bất hoại, bởi vì quyền năng Thiên Chúa được thi thố trọn vẹn ở nơi nào có sự yếu đuối”. (Sách Kinh nhật tụng, Bài Kinh sách, Mùa Phục sinh, tuần III, thứ năm, trích đăng ở sđd trên , tr.225)

***

Sống lại cách thế nào?

Thánh Phaolô đã mô tả về sự ấy cách rõ ràng : "Kẻ chết chỗi dậy thế nào? Họ lấy thân xác nào mà trở về? Đồ ngốc! Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết đã (thối bấn, tan rã) mới sống dậy. Cái ngươi gieo xuống không phải là hình thể sẽ mọc lên, nhưng là (hình thể) một hạt trơ trụi, chẳng hạn như hạt lúa hay một thứ nào khác. Rồi Thiên Chúa cho nó mọc lên với một hình thể như ý Người muốn …". Áp dụng vào sự sống