Để
đáp
ứng
lời
kêu
gọi
ấy,
chúng
tôi
xin
đóng
góp
phần
mình
qua
bài
dưới
đây :
MẠC
KHẢI
VỀ
THÁNH
THỂ
Mục
Lục:
Bài 1
-
Bài 2

MẶC
KHẢI
VỀ
THÁNH
THỂ
trong
Gioan
6.1-58
Nguồn
:
ĐỌC
TIN
MỪNG
THEO
YOAN,
TẬP
III :
BÁNH
TRƯỜNG
SINH
BẤT TỬ
(Lm.
Phêrô
Hoàng
Minh
Tuấn)
Ghi
nhanh
các
bài
dạy
trong
lớp
Kinh
Thánh
của
L.m.
Phêrô
Hoàng
Minh
Tuấn,
do
Têrêsa
Kim
Loan
thực
hiện.
(Lưu
hành
nội
bộ)
BÀI
MỘT:
Niềm
Hy
Vọng
Hằng
Sống
Diễn
từ
Bánh
Sự
sống,
Phần
một
(Ga
6,1-50)
2008
I
/
KHAI
ĐỀ
Mời
đọc
đoạn
Ga
6.1-15
về
Phép
lạ
bánh
1Sau
đó,
Đức
Giêsu
đi qua
bên
kia,
biển
Galilê
- cũng
là
biển
Tibêria.
2Có
đông
dân
chúng
đi
theo
Người,
vì họ
đã
từng
được
mục
kích
các
phép
lạ
Người
làm
trên
những
người
đau
ốm.
3Đức
Giêsu
lên
núi,
và
ngồi
đó với
môn đồ
của
Người.
4Lễ
Vượt
qua,
đại lễ
của
người
Do
Thái
đã
gần.
5Ngước
mắt
lên,
Đức
Giêsu
thấy
có
đông
dân
chúng
đến
cùng
Người,
Người
nói
với
Philip:
“Ta
mua
đâu
được
bánh
cho họ
ăn?"
6Người
nói
vậy để
thử
ông vì
Người
đã
biết
điều
Người
sắp
làm.
7Philip
đáp
lại
Người:
“Hai
trăm
đồng
quan
bánh
cũng
không
đủ cho
họ để
mỗi
người
được
chút
đỉnh!"
8Một
môn đồ
khác,
Anrê,
em của
Simôn
Phêrô
nói
với
Người:
9“Đây
có em
bé có
năm
chiếc
bánh
lúa
mạch
và hai
con
cá.
Nhưng
ngần
ấy thì
thấm
vào
đâu
cho
bấy
nhiêu
người?"
10Đức
Giêsu
nói:
“Bảo
người
ta
ngồi
xuống”.
Nơi ấy
có
nhiều
cỏ.
Người
ta
ngồi
xuống,
số
chừng
cũng
đến
năm
ngàn
người.
11Vậy
Đức
Giêsu
cầm
lấy
bánh
và tạ
ơn,
đoạn
phân
phát
cho
những
người
dùng
bữa,
và cá
cũng
thế,
bao
nhiêu
tùy
thích
mỗi
người.
12Khi
họ đã
ăn đầy
đủ
rồi,
Người
bảo
môn
đồ:
“Hãy
thu
nhặt
các
mảnh
vụn dư
lại,
kẻo có
gì hư
đi
mất”.
13Họ
thu
nhặt
lại và
đổ đầy
mười
hai
giỏ
mảnh
vụn,
do năm
chiếc
bánh
lúa
mạch
người
ăn còn
để dư
lại.
14Thấy
phép
lạ
Người
vừa
làm,
người
ta
nói:
“Hẳn
Ngài
là vị
tiên
tri,
Đấng
sẽ đến
trong
thế
gian!"
15Đức
Giêsu
rõ
được
là họ
sắp
đến
bắt
lấy
Người
để tôn
làm
vua,
thì
Người
lại
rút
lui
trên
núi
một
mình.
Sau
phép
lạ vĩ
đại
hóa
bánh
ra
nuôi
5000
người
ăn no
dân
chúng
nhất
định
coi
Đức
Giêsu
là
Đấng
Thiên
sai,
Đấng
Thiên
Chúa
xức
dầu và
sai
đến
cứu
dân
Người,
cho
nên họ
định
công
kênh
Người
lên
làm
Vua
(Ga
6,15)
để lo
cho họ
được
no cơm
ấm áo,
thay
đổi số
phận
hẩm
hiu
hiện
tại họ
đang
phải
chịu
dưới
ách đô
hộ sắt
máu
của
người
Rôma.
Thấy
dân
chúng
hiểu
lầm sứ
mệnh
thiên
sai
của
mình
quá
nhiều,
Đức
Giêsu
liền
lánh
lên
núi,
còn
các
Tông
đồ
đang
phấn
khởi
bởi
phép
lạ và
cũng
muốn
hùa
với
dân
chúng,
thì
Người
bắt họ
xuống
thuyền
đi
sang
bên
kia
biển
hồ
Galilê.
Và khi
đêm
xuống,
Người
đi
trên
mặt
nước
Biển
Hồ mà
đến
với
các
môn đệ
và
thuyền
đã cập
bến
nơi họ
muốn
tới
(cc.16-21).
Hôm
sau,
vì
không
thấy
Đức
Giêsu
trên
núi,
nơi
xảy ra
phép
lạ,
dân
chúng
kẻ
xuống
thuyền,
kẻ đi
vòng
quanh
bờ hồ
đến
Ca-phac-na-um
tìm
Người
(cc.22-25).
Và khi
thấy
họ vất
vả tìm
gặp
Người
như
thế,
Đức
Giêsu
chỉ ra
cho họ
thấy
công
lao
vất vả
của họ
thật
uổng
phí :
họ đi
tìm
Người
không
vì
được
thấy
"dấu
lạ"
qua
việc
hóa
bánh
ra
nhiều
nhưng
chỉ vì
được
ăn no
bánh
mà
thôi
(c.26).
"Dấu
lạ"
hay
"dấu
chỉ"
giống
như
mũi
tên
chỉ
đường,
được
dựng
lên
không
thể
nào vô
nghĩa
nhưng
nó
muốn
chỉ
cho
người
ta một
hướng
đi
đúng
để đạt
tới
đích.
Người
Do
thái
không
nhận
ra
được
ngụ ý
ẩn
chứa
bên
trong
"dấu
lạ hóa
bánh"
kỳ
diệu
đó.
Phải
thú
thực :
làm
sao
loài
người
phàm
hèn có
thể
hiểu
được
hàm ý
sâu
sắc,
cao cả
và
siêu
phàm
ẩn
giấu
trong
phép
lạ ấy
được ?
Dấu lạ
hóa
bánh
ra
nhiều
đó báo
trước
một ân
huệ vĩ
đại,
tuyệt
diệu :
Bánh
Sự
Sống
(Bread
of
life)
là
chính
bản
thân
Chúa
Giêsu
và Lời
của
Người,
được
trao
ban
cho
nhân
loại
để họ
được
nuôi
dưỡng
bằng
sự
sống
thần
linh.
Phép
lạ hóa
bánh
ra
nhiều
đó còn
là
biểu
tượng
cho
Bánh
Hằng
Sống
(Living
Bread)
mà
Chúa
Giêsu
sẽ ban
cho
loài
người
sau
này:
đó là
chính
Thịt
Máu
Người
đã
được
thần
hóa
sau
khi đã
hiến
tế
trên
thập
giá và
sống
lại,
sẽ
được
ban
phát
vô hạn
lượng
làm
thực
phẩm
thần
linh
nuôi
sống
loài
người
đang
hấp
hối vì
tội
lỗi
này.
HƯỚNG
ĐẾN
LƯƠNG
THỰC
THƯỜNG
TỒN
(cc.27-34)
Chúa
biết
những
người
Do
Thái
hôm
nay
chạy
theo
Người
chỉ vì
miếng
ăn, là
nhu
cầu
vật
chất
thường
ngày,
là
những
thứ
không
tồn
tại
lâu
dài
nên
Chúa
khuyên
bảo:
"Các
ông
hãy ra
công
làm
việc
không
phải
vì
lương
thực
mau hư
nát,
nhưng
để có
lương
thực
thường
tồn
mang
lại
phúc
trường
sinh,
là thứ
lương
thực
Con
Người
sẽ ban
cho
các
ông,
bởi vì
chính
Con
Người
là
Đấng
Thiên
Chúa
Cha đã
ghi
dấu
xác
nhận."(c.27)
Nói
cho
người
Do
Thái,
Chúa
cũng
muốn
nhắc
nhở
chúng
ta,
đành
rằng
một
khi đã
mang
lấy
cái
thân
xác
này,
con
người
cần
cơm ăn
áo
mặc,
các
của
cải và
tiện
nghi
vật
chất…
Nhưng
quả
thật
chúng
ta đã
lãng
phí
quá
nhiều
thời
gian,
lao
tâm
khổ
trí
gây
dựng
những
chuyện
chóng
qua,
để đạt
được
những
thứ
vật
chất
mau hư
nát để
rồi
khi
nhắm
mắt
xuôi
tay,
chúng
ta
cũng
đành
buông
trôi
tất
cả,
chẳng
mang
theo
được
gì.
Thật
là phí
công
vô ích
như
loài
"dã
tràng
se cát
bể
Đông"
mà
thôi !
Chẳng
lẽ tất
cả
cuộc
đời
của ta
chỉ là
để cho
có
những
của
vật
chất
ấy
thôi
sao mà
không
còn
biết
có một
thứ
lương
thực
cao
quí
hơn,
thường
tồn
hơn ?
Lời
Chúa
Giêsu
nhắc
nhở
trên
đây có
lay
tỉnh
được
ta
không
? Có
biết
bao
người
con
của
Chúa
vì nỗi
lo
lắng
sự đời
: cơm
áo gạo
tiền,
địa
vị,
danh
vọng
mà
ngày
lo,
đêm
nghĩ.
Rồi
cuộc
vui
thế
gian,
cơn mê
lạc
thú,
những
cuộc
chạy
đua
theo
các
tiện
nghi,
máy
móc
hiện
đại,
ngay
cả
những
thú
vui
lành
mạnh
như
tivi,
sách
báo…làm
chúng
ta mê
mải mà
quên
rằng
đó là
những
sự vật
chất
chóng
qua.
Tất cả
như
cơn
sóng
kéo
chúng
ta ra
xa
khỏi
bến bờ
sự
sống
đời
đời.
Đôi
mắt
chúng
ta chỉ
chăm
nhìn
vào
thế
gian,
và tay
ta
muốn
nắm
giữ
mọi
thứ
cho
đến
giờ
phút
cuối
cùng
mới
choàng
mở mắt
thấy
mọi sự
thế
gian
là hư
ảo và
cuộc
sống
thế
trần
ngắn
ngủi
như cỏ
hoa
soớm
nở
chiều
tàn...
NGUYỆN
CẦU
Lạy
Chúa,
chúng
con
xin
cảm tạ
Chúa
đã ban
cho
chúng
con sự
sống
quí
giá
này,
nhưng
gần cả
một
cuộc
đời
chúng
con
chưa
biết
trân
trọng
sự
sống
Chúa
trao
ban.
Chúng
con đã
phí
phạm
biết
bao
thời
gian
mà
không
đi
kiếm
sự
sống
thần
linh
cho
tâm
hồn,
còn
nói
chi
đến
sinh
lời
lãi gì
cho
Nước
Chúa.
Biết
bao
hạt
giống
Chúa
gieo
trồng,
chúng
con để
rơi
bên vệ
đường,
trên
nơi
sỏi đá
hay
vào
bụi
gai mà
không
biết
xót xa
tình
Chúa.
Gần
hết cả
cuộc
đời
chúng
con
chỉ
lao
công
gắng
sức vì
lương
thực
mau hư
nát,
làm
những
việc
vô ích
như
loài
dã
tràng…vì
không
đem
lại
cho
chúng
con sự
sống
thường
tồn.
Lạy
Chúa,
chúng
con
nay
trở về
quì
gối tạ
tội
trước
Thánh
Nhan
Chúa
như
con
chiên
lạc
loài
mong
Chúa
mở
lượng
hải hà
thứ
tha.
Amen.
*
Người
Do
Thái
nghe
Đức
Giêsu
nói
đến sự
phải
ra
công
làm
việc
để
có
lương
thực
thường
tồn
mang
lại
phúc
trường
sinh,
thì
lập
tức
theo
thói
quen
giữ
luật,
họ lại
hiểu
là
"làm
các
việc
Luật
dạy",
nên
liền
hỏi
Người
là họ
sẽ
phải
làm
những
việc
luật
dạy
nào
trong
số mấy
ngàn
điều
luật
lớn
nhỏ
(c.28)
? Một
lần
nữa họ
lại đi
trật
đường
rầy!
Sống
trong
não
trạng
Cựu
Ước,
làm
các
điều
Lề
luật
dạy là
điều
kiện
để
được
sự
sống
đời
đời.
Nhưng
nay
thì
khác
rồi,
Đức
Giêsu
đã đến
khai
mạc
một kỷ
nguyên
mới,
trong
thời
kỳ
này,
để
được
sự
sống
đời
đời,
đức
tin
thay
thế
cho Lề
luật.
Do đó
Đức
Giêsu
nói
với
họ: "Việc
Thiên
Chúa
muốn
cho
các
ông
làm,
là tin
vào
Đấng
Người
đã sai
đến"(c.29).
Thánh
Phaolô,
trước
kia là
một
người
theo
bè
Biệt
phái
giữ
luật
rất
nghiêm
ngặt,
nhưng
sau
khi
được
ơn trở
lại,
ông đã
hiểu
và đã
nói :
"Nay
Thiên
Chúa
công
chính
hóa
người
ta mà
không
cần
đến
luật…Quả
thế,
người
ta
được
Thiên
Chúa
làm
cho
nên
công
chính
(tức
là
được
sự
sống
đời
đời)
nhờ
lòng
tin
vào
Đức
Giêsu
Kitô"
(Rm
3,21-22).
Ở
mấy
câu
sau
ông
lặp
lại
lần
nữa :
"Người
ta
được
nên
công
chính
vì
tin,
chứ
không
phải
vì làm
những
gì
Luật
dạy."
(Rm
3,28).
Tại
sao
vậy?
Thánh
nhân
giải
thích
:
"Người
nào
làm
việc,
thì
lương
trả
cho
người
ấy
không
kể là
ân
huệ,
mà là
nợ.
Trái
lại,
người
nào
không
dựa
vào
việc
làm
nhưng
tin
vào
Thiên
Chúa,
Đấng
làm
cho kẻ
vô đạo
nên
công
chính,
thì
lòng
tin
làm
cho
người
ấy
được
Thiên
Chúa
kể là
công
chính."
(Rm
4,4-5).
Thánh
Phaolô
đã
diễn
tả
đúng:
một
người
giữ
luật
chặt
chẽ
tương
tự như
người
làm
công,
làm
xong
việc
chờ
được
chủ
(Chúa)
trả
lương
(là sự
sống
đời
đời).
Nhưng
trong
kế
hoạch
cứu
rỗi
của
Tân
Ước,
để
được
sự
sống
đời
đời,
Thiên
Chúa
không
còn
thích
hay
không
còn
muốn
người
ta
cậy
vào
một bộ
luật
mà là
tin
vào
một
người
đúng
như
Đức
Giêsu
tuyên
bố với
người
Do
Thái :
"Việc
Thiên
Chúa
muốn
cho
các
ông
làm,
là tin
vào
Đấng
Người
đã sai
đến"(Ga
6.29).
Để
minh
họa
chân
lý ấy,
Đức
Giêsu
kể dụ
ngôn
hai
người
lên
Đền
thờ
cầu
nguyện
(Lc
18.10-14)
:
người
thứ
nhất
là
Biệt
phái
tự
đắc
kể
công
trạng
mình
đã làm
được
nhiều
việc
luật
dạy…,
và ông
ta chỉ
còn
chờ
Thiên
Chúa
trả
công
cho
ông là
sự
sống
đời
đời ;
còn
người
thứ
hai là
người
thu
thuế,
vốn là
người
bị coi
là
hạng
tội
lỗi,
nghĩa
là đã
vi
phạm
nhiều
điều
luật,
thì
chỉ
biết
đấm
ngực
xưng
thú
tội và
tin
cậy
vào
Thiên
Chúa
thương
xót.
Và
phán
quyết
của
Chúa
Giêsu
thật
bất
ngờ:
người
thu
thuế
tội
lỗi ra
về
được
Chúa
tha
thứ
tội
lỗi và
được
nên
công
chính,
trái
lại
người
Biệt
phái
thì
không
được!
Quả
thật
là một
Tin
mừng
cho
chúng
ta :
Ngay
cả khi
chúng
ta
đang
sống
trong
tội
lỗi
như
anh
thu
thuế
trên
đây,
thì
cũng
đừng
nản
lòng,
đừng
mặc
cảm,
rồi
lánh
xa
Chúa…,
vì
Thiên
Chúa
không
nhìn
chúng
ta
theo
kiểu
chúng
ta tự
nhìn
mình
đầy
tội
lỗi,
mà
Thiên
Chúa
nhìn
chúng
ta có
ở
trong
Đức
Giêsu
Kitô
bởi
Đức
Tin
hay
không.
Thánh
Phêrô
giảng
cho
Cor-nê-liô,
một sĩ
quan
trong
quân
đội
Rôma :
"Hết
thảy
các
tiên
tri đã
chứng
thực
rằng
ai tin
vào
Đức
Giêsu
thì
được
lãnh
ơn tha
tội
nhờ
Danh
Người"
(Cv
10.43).
Sau
đó,
ngay ở
giữa
Công
đồng
chung
Giê-ru-sa-lem,
ông
còn
tuyên
bố :
"Thiên
Chúa
đã tẩy
sạch
(tội
lỗi
trong)
lòng
người
ta
bằng
đức
tin"
(15.9).
Chúng
ta hãy
lắng
nghe
lời
Chúa
tỏ
lòng
thương
xót
với
các
tội
nhân:
"Không
một
linh
hồn
nào
phải
sợ sệt
khi
đến
gần
Ta, dù
tội
lỗi
của họ
có đỏ
như
máu…"
Vì
chịu
ảnh
hưởng
Cựu
Ước và
Do
thái
giáo,
đạo
Công
giáo
chúng
ta
trước
đây và
có lẽ
cả bây
giờ
vẫn
còn
chú
trọng
nhiều
nhất
vào
việc
giữ
luật,
làm
các
việc
lập
công
để
được
thưởng
vào
Nước
thiên
đàng,
đành
rằng
đó là
điều
tốt và
cần,
nhưng
không
mấy
nhấn
mạnh
đến
niềm
tin.
Nếu có
nói
đến
đức
tin
thì
coi
như là
một
việc
của
trí
khôn
chấp
nhận
những
chân
lý mầu
nhiệm.
Song
đó chỉ
là
bước
đầu
đến
với
Chúa.
Và
xong
bước
đầu ấy
coi
như là
thủ
đắc
được
đức
tin
rồi,
là
thôi
không
còn
nhấn
mạnh,
không
đào
sâu,
không
củng
cố về
lòng
tin
nữa.
Vì
thế,
đối
với đa
phần
người
Công
giáo
thì
theo
đạo có
nghĩa
là giữ
'đạo',
là giữ
luật.
Do đó,
họ đi
dự
Thánh
Lễ cho
đúng
luật,
nhận
lấy
các Bí
Tích
theo
như
luật
truyền…còn
trong
lòng
không
có tâm
tình
thân
thiết
gắn bó
với
Chúa.
Tin
không
phải
là nắm
giữ
lấy
'đạo',
lấy
luật
cho
thật
chặt
mà là
đến
với
Chúa,
tin
cậy
yêu
mến
Chúa,
sống
gắn bó
mật
thiết
với
Chúa
với cả
tâm
hồn,
với
trọn
trái
tim
của
người
con
thảo
đối
với
Cha
trên
trời.
Như
thế,
niềm
tin
được
đặt ở
vị trí
ưu
tiên
trên
việc
giữ
luật
và có
giá
trị
bằng
ngàn
vạn
việc
giữ
luật.
TIN có
một
giá
trị
tuyệt
đối
bởi vì
Thiên
Chúa
đã ban
cho
loài
người
tất cả
mọi sự
ngay
cả
chính
Con
Một
của
Người
để cứu
loài
người
khỏi
hậu
quả
của
tội
lỗi là
Cái
chết
đời
đời.
Và Cái
chết
của
Con
Một
Thiên
Chúa
là giá
máu
chuộc
lại
cho
chúng
ta ân
huệ
dưng
không
cao cả
là Sự
sống
đời
đời.
Vậy,
Chúa
đã ban
cho
chúng
ta tất
cả
ngay
cả
chính
mình
Người
nữa,
Người
chỉ
mong
một
điều
là ta
tin
yêu
Chúa,
sự đòi
hỏi đó
có
phải
là quá
đáng
không?
Và nếu
đức
tin là
điều
tối
quan
trọng
đến
thế để
được
sự
sống
đời
đời,
thì
hẳn
nhiên
không
tin là
chọn
cái
chết
chắc
chắn :
"…Kẻ
không
tin,
thì bị
lên án
rồi,
vì đã
không
tin
vào
danh
của
Con
Một
Thiên
Chúa."
(Ga
3,18).
Nếu ta
còn
muốn
một
bằng
chứng
cao
hơn
nữa
thì
đây
chính
lời
Chúa
Giêsu
phán :
"Anh
em hãy
đi
khắp
tứ
phương
thiên
hạ,
loan
báo
Tin
Mừng
cho
mọi
loài
thụ
tạo.
Ai tin
và
chịu
phép
Rửa,
sẽ
được
cứu
độ,
còn ai
không
tin sẽ
bị kết
án"
(Mc
16,15-16).
TIN
THẬT
HAY
TIN
GIẢ ?
Vậy
vấn đề
là
chúng
ta có
tin
Chúa
thật
sự
không
hay
chỉ
trên
môi
miệng
?
Tôi đã
được
nghe
kể
chuyện
cũng
như
mắt
được
thấy
có
những
chị
vừa
nguyện
kinh
Lòng
Chúa
Thương
Xót
xong
lại rủ
nhau
đi xem
bói vì
nhà
chị có
chuyện
buồn !
Có
những
người
vì xin
ơn
theo ý
mình
không
được
thì
thôi
nhà
thờ,
thôi
đọc
kinh,
cầu
nguyện.
Có
người
buôn
bán
thì
cũng
cúng
ông
Địa
nơi
bán
hàng
hay ở
trong
nhà :
trên
là bàn
thờ
Chúa,
ở dưới
chưng
ông
Thần
Tài.
Có
người
trót
lỡ
phạm
tội
thì sợ
hãi
không
muốn
đến
với
Chúa
nữa.
Ôi !
Thật
là xót
xa cho
Lòng
Chúa
Xót
Thương
!
Nếu
chúng
ta tin
Chúa
là
Đấng
Cứu
Thế,
Đấng
cứu
thoát
ta
khỏi
mọi sự
dữ thì
ta sẽ
đến
với
Chúa
và
Người
sẽ vực
chúng
ta dậy
ra
khỏi
tội
lỗi,
gian
nan,
khốn
khó
như
người
con
hoang
đàng
biết
tin
cậy
cha
của
mình
nên đã
quay
trở
về, đã
được
cha
tha
thứ và
phục
hồi
mọi
vinh
dự đã
mất...
NGUYỆN
CẦU
Lạy
Chúa,
chúng
con
xin
dâng
lên
Chúa
lời
thánh
ca
cũng
là lời
thống
hối
của
chúng
con :
"Lạy
Chúa,
xin dủ
lòng
xót
thương
vì
chúng
con
đây
đắc
tội
với
Ngài.
Lạy
Chúa,
xin dủ
lòng
xót
thương
vì
chúng
con
đây
đắc
tội
lắm
thay."
***
Trở
lại
với
bản
văn
Tin
Mừng
Gioan,
thì
thấy
là
người
Do
Thái
không
phải
là kẻ
dễ tin
đâu.
Họ vừa
nghe
Đức
Giêsu
nói:
Phải
tin.
Họ
chấp
nhận :
Được,
phải
tin.
Nhưng
tin ai
? Đức
Giêsu
bảo :
"Tin
vào
Đấng
Thiên
Chúa
sai
đến !"
Họ
hiểu
ngay
là
Chúa
muốn
ám chỉ
về
chính
mình
Người.
Người
Do
Thái
liền
thách
thức:
"Vậy
chính
ông,
ông
làm
được
dấu lạ
nào
cho
chúng
tôi
thấy
để tin
ông ?
Ông sẽ
làm gì
đây ?
Tổ
tiên
chúng
tôi đã
ăn
man-na
trong
sa
mạc,
như có
lời
chép:
Người
đã cho
họ ăn
bánh
bởi
trời."
(Ga
6,30-31)
Người
Do
Thái
đòi
hỏi
một
dấu lạ
hay
phép
lạ như
thế để
họ
tin,
việc
đó
không
phải
là
điều
gì quá
đáng,
vì
trong
đời
thường,
chúng
ta
cũng
đòi
người
ta
phải
đưa ra
một
bằng
chứng
hay
một
vật gì
bảo
đảm để
ta tin
họ,
cách
riêng
trong
những
chuyện
hệ
trọng.
"Chọn
mặt mà
gửi
vàng
!".
Người
Do
Thái
lại
càng
phải
cẩn
thận
hơn,
vì
Thiên
Chúa
thường
hay
sai
các
tiên
tri
đến
dạy
bảo và
sửa
đổi
cách
ăn nết
ở của
họ.
Muốn
cho họ
chấp
nhận
sứ
điệp,
các vị
này
thường
phải
làm
những
phép
lạ để
minh
chứng
mình
đã
được
Thiên
Chúa
sai
đến.
Không
làm
được
dấu
lạ, đó
là
bằng
chứng
Thiên
Chúa
không
ở với
vị
tiên
tri
ấy,
chỉ là
tiên
tri
giả,
không
do
Thiên
Chúa
sai
đến,
như
vậy
không
thể
tin
được.
Ông
Nicôđêmô
một
đêm
kia
đến
thỉnh
vấn
Chúa
Giêsu
cũng
nói:
"Chúng
tôi
biết
Ngài
tự
Thiên
Chúa
mà
đến…
vì
không
ai làm
được
các
dấu lạ
Ngài
làm
trừ
phi
Thiên
Chúa ở
với
người
ấy"
(Ga
3,2).
Vậy
nếu
người
Do
Thái ở
đây
đòi
Đức
Giêsu
làm
dấu lạ
để họ
tin là
theo
đúng
truyền
thống
mà họ
đòi.
Đòi
Đức
Giêsu
phải
làm
dấu
lạ,
chưa
đủ, họ
còn
đưa ra
một
nhân
vật
lớn
trong
đạo họ
hình
như để
thách
Người
có làm
được
dấu lạ
bằng
ông ấy
không:
Môsê
đã ban
cho
chúng
tôi
bánh
bởi
trời
qua
phép
lạ
manna,
còn
ông có
làm
được
bằng
ông ấy
không
?
(6.31).
Mấy
câu
phản
bác
của
Đức
Giêsu
sau
đây có
thể
coi
như
tiền
đề cho
diễn
từ
Bánh
hằng
sống
mà
Người
sẽ
khai
triển
sau
đó.
Người
phản
bác
hai
điều :
1-
Thiên
Chúa
ban
manna
chứ
không
phải
Môsê:
"Quả
thật,
Tôi
bảo
các
ông
không
phải
ông
Môsê
đã cho
các
ông
bánh
bởi
trời,
mà
chính
là Cha
Tôi"
(c.32).
Đọc
sách
Xuất
hành
16.4
thì
thấy
rõ
ràng :
"Giavê
phán
với
Môsê
:
"Này
Ta sẽ
cho
mưa
bánh
bởi
trời
xuống
cho
các
ngươi
và dân
hãy ra
mà
lượm
lấy…".
Môsê
chỉ là
người
báo
điều
ấy cho
dân.
2-
Manna
không
phải
là
bánh
bởi
trời,
nó chỉ
là một
thứ
bột mà
Thiên
Chúa
làm
cho từ
không
trung
rơi
xuống.
Còn
bánh
đích
thật
do
Thiên
Chúa
ban
mới
"là
bánh
bởi
trời
xuống
và ban
sự
sống
cho
thế
gian"
(c.33).
Vậy để
được
là
bánh
đích
thực
của
Thiên
Chúa,
thì
phải
có
hai
điều
kiện :
a)
từ
trời,
tức là
từ
thiên
giới
nơi
Thiên
Chúa
mà
xuống
và
b)
ban
sự
sống
muôn
đời
cho
thế
gian,
chứ
không
phải
cho
người
ta một
sự
sống
tạm bợ
ăn rồi
vẫn
phải
chết.
Nghe
thấy
thế,
người
Do
Thái
bèn
ngỏ
lời
xin
cho họ
thứ
bánh
ấy
(c.34).
Được
lời họ
mở
lối,
Đức
Giêsu
liền
ban
cho họ
một
Diễn
từ để
họ
hiểu
bánh
sự
sống
ấy là
thế
nào,
làm
sao mà
lãnh
được,
và
bánh
ấy
sinh
hiệu
quả
thần
diệu
đến
chừng
nào.
Đó là
nội
dung
của
Diễn
từ
bánh
sự
sống.
*
*
*
II/
DIỄN
TỪ VỀ
BÁNH
SỰ
SỐNG
sẽ
được
triển
khai
qua
hai
phần :
A.
Phần
nhất :
Bánh
Sự
Sống
là Bản
Thân
Chúa
và
cũng
là Lời
của
Người,
ta
lãnh
nhận
bằng
tâm
trí và
bởi
đức
tin.
B.
Phần
hai :
Bánh
Sự
Sống
là
Thịt
Máu
Người,
ta
lãnh
nhận
bằng
cách
ăn
uống,
và
cũng
bởi
lòng
tin.
A.
PHẦN
THỨ
NHẤT
(cc.35-50)
35
Đức
Giê-su
bảo họ
:
“Chính
tôi là
bánh
trường
sinh.
Ai đến
với
tôi,
không
hề
phải
đói ;
ai tin
vào
tôi,
chẳng
khát
bao
giờ !
36
Nhưng
tôi đã
bảo
các
ông :
các
ông đã
thấy
tôi mà
không
tin.
37
Tất cả
những
người
Chúa
Cha
ban
cho
tôi
đều sẽ
đến
với
tôi,
và ai
đến
với
tôi,
tôi sẽ
không
loại
ra
ngoài,
38
vì
tôi tự
trời
mà
xuống,
không
phải
để làm
theo ý
tôi,
nhưng
để làm
theo ý
Đấng
đã sai
tôi.
39
Mà
ý của
Đấng
đã sai
tôi là
tất cả
những
kẻ
Người
đã ban
cho
tôi,
tôi sẽ
không
để mất
một
ai,
nhưng
sẽ cho
họ
sống
lại
trong
ngày
sau
hết.
40
Thật
vậy, ý
của
Cha
tôi là
tất cả
những
ai
thấy
người
Con và
tin
vào
người
Con,
thì
được
sống
muôn
đời,
và tôi
sẽ cho
họ
sống
lại
trong
ngày
sau
hết.”
41
Người
Do-thái
liền
xầm xì
phản
đối,
bởi vì
Đức
Giê-su
đã nói
: “Tôi
là
bánh
từ
trời
xuống.”
42
Họ
nói :
“Ông
này
chẳng
phải
là ông
Giê-su,
con
ông
Giu-se
đó sao
? Cha
mẹ ông
ta,
chúng
ta đều
biết
cả,
sao
bây
giờ
ông ta
lại
nói :
“Tôi
từ
trời
xuống
?”
43
Đức
Giê-su
bảo họ
: “Các
ông
đừng
có xầm
xì với
nhau !
44
Chẳng
ai đến
với
tôi
được,
nếu
Chúa
Cha là
Đấng
đã sai
tôi,
không
lôi
kéo
người
ấy, và
tôi,
tôi sẽ
cho
người
ấy
sống
lại
trong
ngày
sau
hết.
45
Xưa có
lời
chép
trong
sách
các
ngôn
sứ :
Hết
mọi
người
sẽ
được
Thiên
Chúa
dạy
dỗ.
Vậy
phàm
ai
nghe
và đón
nhận
giáo
huấn
của
Chúa
Cha,
thì sẽ
đến
với
tôi.
46
Không
phải
là đã
có ai
thấy
Chúa
Cha
đâu,
nhưng
chỉ có
Đấng
từ nơi
Thiên
Chúa
mà
đến,
chính
Đấng
ấy đã
thấy
Chúa
Cha.
47
Thật,
tôi
bảo
thật
các
ông,
ai tin
thì
được
sự
sống
đời
đời.
48
Tôi là
bánh
trường
sinh.
49
Tổ
tiên
các
ông đã
ăn
man-na
trong
sa
mạc,
nhưng
đã
chết.
50
Còn
bánh
này là
bánh
từ
trời
xuống,
để ai
ăn thì
khỏi
phải
chết.
*
Mở đầu
Đức
Giêsu
khẳng
định:
"Bánh
Sự
Sống,
chính
là
Tôi"(c.35).
Sở dĩ
Đức
Giêsu
nói
"Tôi
là
Bánh
Sự
Sống"
vì
Người
muốn
dùng
một
hình
ảnh
rất
quen
thuộc
trong
đời
sống:
cái
bánh
vốn là
thực
phẩm
nuôi
người
ta
khỏi
chết
đói,
thì
đây
Lời và
Bản
Thân
Người
nuôi
họ
khỏi
chết
phần
linh
hồn.
Các
sách
Khôn
ngoan
của
Cựu
Ước
cũng
thường
dùng
hình
ảnh
bánh
để ám
chỉ Lề
luật
và Đức
Khôn
Ngoan
ví như
bánh
nuôi
sống
tâm
linh
con
người.
"Đức
Khôn
Ngoan
đã hạ
súc
vật,
hâm
rượu,
dựng
bàn và
phái
tôi tớ
rao
truyền…:
'Ai là
kẻ
ngây
ngô
hãy
qua
đây…Hãy
đến..
ăn
bánh
của
Ta,
uống
rượu
Ta đã
hãm.
Hãy
trút
bỏ
ngây
ngô và
các
ngươi
sẽ
sống'."
(Cn
9.1-6).
Nếu Lề
luật
và Đức
Khôn
ngoan
còn
nuôi
sống
như
vậy
huống
chi
chính
bản
thân
và Lời
Thiên
Chúa
là Đức
Giêsu.
Vì thế
Đức
Giêsu
mới
nói
rằng
Bánh
ban sự
sống
ấy là
Tôi,
là
chính
Bản
Thân
Tôi.
Bản
Thân
Người
lại
chính
là Lời
Thiên
Chúa,
là
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa,
bằng
chứng
là Tin
Mừng
Gioan
viết :
"Lúc
khởi
đầu đã
có
Ngôi
Lời.
Ngôi
Lời
vẫn
hướng
về
Thiên
Chúa,
và
Ngôi
Lời là
Thiên
Chúa.
Lúc
khởi
đầu,
Người
vẫn
hướng
về
Thiên
Chúa.
Nhờ
Ngôi
Lời,
vạn
vật
được
tạo
thành,
và
không
có
Người,
thì
chẳng
có gì
được
tạo
thành."
(Ga
1,1-3)
Khác
xa Đức
Khôn
ngọan
Cựu
Ước,
chỉ
mời
người
ta đến
ăn
bánh
tinh
thần
là các
lời
dạy để
nhờ đó
họ
được
sống
thì
nay,
Ngôi
Lời,
Đấng
Toàn
Năng
vô
hình
tạo
thành
vạn
vật đã
mặc
xác
thịt,
trở
nên
Con
Người
Giêsu
hữu
hình
bằng
xương
bằng
thịt
và ở
giữa
loài
người
...
"Ngôi
Lời đã
trở
nên
người
phàm
và cư
ngụ ở
giữa
chúng
ta"
(Ga
1,14)
... để
có
miệng
lưỡi
mà nói
ra
những
lời
thần
linh
ban sự
sống,
vì :
"Lời
Ta là
Thần
Khí và
là Sự
Sống"
(c.63),
và sau
này
còn sẽ
hiến
ban
chính
thịt
máu
mình
nuôi
sống
nhân
lọai.
Đáng
tiếc,
đối
với
một số
người,
Lời
Chúa
còn bị
coi là
trừu
tượng,
xa
thực
tế cơm
áo gạo
tiền,
bởi
vậy có
lần
nghe
họ nói
: “Bảo
tôi đi
học
lời
Chúa ả
? Thế
học
rồi
lời
Chúa
có ban
cho
tôi
cơm
ăn áo
mặc
không
?” Họ
chưa
nhận
ra
được
Lời
Chúa
cũng
là
lương
thực
nuôi
dưỡng
linh
hồn và
thể
xác,
họ
chưa
tin
thật
rằng:
"Người
ta
sống
không
chỉ
nhờ
cơm
bánh
mà còn
nhờ
mọi
lời
miệng
Thiên
Chúa
phán
ra." (
Mt 4,4
).
Vì
thế,
trong
sự
khôn
ngoan
vô
cùng,
Thiên
Chúa
đã ban
cho
chúng
ta Lời
Chúa
làm
Bánh
Sự
Sống,
để
phàm
nhân
như
chúng
ta
không
còn
phải
đói
khát,
thiếu
thốn,
èo uột
nữa.
Lời
Chúa
thật
sự là
Thần
khí và
Sự
sống !
Điều
này đã
xảy ra
rất cụ
thể vì
có
nhiều
bệnh
nhân
thay
vì
uống
ba lần
thuốc
trong
ngày
thì họ
lại
đọc
Thánh
Kinh
với
niềm
tin
yêu
tuyệt
đối và
bệnh
của họ
được
thuyên
giảm
rõ
rệt.
Đó là
một
trong
nhiều
chứng
từ
chứng
thực
Lời
Chúa
mang
lại
sức
sống
cả cho
phần
xác
con
người
nữa.
Một
điều
đáng
tiếc
nữa là
khi
nghe
nói
"Bánh
sự
sống,
chính
là Ta",
các
tín
hữu
không
biết
là
Chúa
muốn
nói về
Lời
Chúa
mà chỉ
thường
hiểu
về
Mình
Thánh
Chúa.
Hiểu
như
thế
không
phải
là
sai,
song
đúng
hơn
trong
phần
thứ
nhất
này
của
Diễn
từ,
Đức
Giêsu
chưa
nói
minh
bạch
đến
Mình
Máu
Thánh,
Người
sẽ nói
ở phần
thứ
hai.
Chính
vì
hiểu
đơn
giản
như
trên
mà các
tín
hữu
thường
chỉ
quí
trọng
Mình
Thánh
mà rất
lơ là
học
lời
Chúa,
lãng
quên
đọc
Thánh
Kinh.
Đã có
lần
Đức Nữ
Vương
Hòa
bình
hiện
ra tại
Medjugorje
(Mễ
Du) tỏ
ra sầu
thảm
rơi
nước
mắt
khi
nói
với
linh
mục
Quản
xứ là
cha
Jozo –
dòng
Phan
Sinh
và là
tông
đồ của
Đức
Mẹ:
"Mẹ
rất
buồn
vì
người
ta đã
quên
lãng
Thánh
Kinh.
Các
con
hãy
lấy
sách
Thánh
Kinh
ra
khỏi
các
sách
khác
trên
kệ
sách
và đặt
vào
chỗ
danh
dự
trong
nhà.
Vì các
con
không
đọc
Thánh
Kinh
với
tình
yêu
như đó
là Lời
Thiên
Chúa
đang
sống
động."
"Chỉ
cần
hôn
kínhSách
Thánh,
người
ta
cũng
lãnh
được
nhiều
ơn
rồi."
(SĐ
18-10-1984).
Thậm
chí
ngay
cả lúc
tham
dự
Thánh
Lễ,
được
nghe
Lời
Chúa
qua vị
linh
mục,
người
ta
cũng
chỉ
nghe
như là
tiếng
gió
thoảng
bên
tai
rồi
không
còn
nhớ
nữa
như
hạt
giống
gieo
bên vệ
đường
nông
cạn,
hời
hợt
nên
'quỉ
dữ đến
cướp
đi
điều
đã
gieo
trong
lòng'
mà
chẳng
đâm
rễ,
sinh
hoa
kết
quả
gì.
Mỗi
Chúa
Nhật,
người
ta
đến
nhà
thờ
rồi
lại vô
tâm đi
về chứ
không
mang
Lời
Chúa
dạy
về
để đem
thực
hành
trong
cuộc
sống
mình.
Vì thế
đời
sống
họ
tệ đến
nỗi Mẹ
phải
than
phiền
:
"Các
con
nói
các
con là
người
có đạo
mà lại
sống
như
người
ngoại
đạo."
Ước gì
tất cả
những
ai đã
biết
yêu
quí
Thánh
Thể
thì
cũng
hãy
quí
trọng
Lời
Chúa
là
Thần
khí và
là Sự
sống.
*
Tiếp
theo
lời
khẳng
định
Tôi là
Bánh
Sự
Sống,
Đức
Giêsu
hứa :
"Ai
đến
với
Tôi,
không
hề
phải
đói;
ai tin
vào
Tôi,
chẳng
khát
bao
giờ"
(c.35).
Chúa
nói
đến
với
Chúa
thì
không
còn
đói và
không
còn
khát
bao
giờ
nữa.
Vì
sao?
Vì khi
người
ta đến
với
Chúa,
ăn lấy
bánh
ban sự
sống,
thì chính
Người
và Lời
Người
sẽ ban
cho ta
thỏa
mãn
mọi
ước
vọng,
lấp
đầy
những
khao
khát
của
trái
tim ta,
thỏa
mãn
những
nguyện
vọng
luôn
muốn
tìm
kiếm
sự
thật
của
tâm
trí ta,
khiến
ta
không
còn
thèm
khát
những
sự đời
này.
Đành
rằng
sống ở
đời ta
phải
lo
kiếm
tiền,
lo học
hành,
đỗ đạt
để có
nơi
làm
việc,
lo xây
dựng
nhà
cửa,
lo
dựng
vợ gả
chồng
v.v…
nhưng
chúng
ta sẽ
không
còn
khao
khát
và đôn
đáo
miệt
mài
tìm
kiếm
tất cả
những
cái đó
y như
thể
chúng
là cứu
cánh
đời
sống
của
mình
vậy,
và khi
không
được
thì
thất
vọng ê
chề,
và đau
khổ
không
còn
thiết
sống
nữa.
Chúa
kêu
gọi
chúng
ta
đến
với
Chúa
để
khỏi
đói
khát,
nhưng
vấn đề
là
:
CHÚNG
TA ĐÃ
ĐẾN
VỚI
CHÚA
CHƯA ?
Đối
với vị
Thánh
Sử
Gioan,
chữ
"đến"
thường
đồng
nghĩa
với
"tin".
Trong
câu
Đức
Giêsu
nói ta
thấy
rõ
điều
ấy: "
Ai đến
với Ta
sẽ…//
và kẻ
tin
vào Ta
sẽ…"
Có
mặt
chưa
phải
là
đến.
Ngày
xưa,
bao
nhiêu
người
Do
Thái
đã có
mặt
trước
Chúa
Giêsu,
các
Thượng
tế
Hanna
và
Caipha,
quận
vương
Hêrôđê,
Philatô
v.v…đã
có mặt
trước
Chúa
mà đâu
phải
họ đến
với
Chúa,
tin
Chúa
? Họ
chưa
thực
sự gặp
gỡ
Chúa.
Chỉ
gặp gỡ
thật
khi
hai
tâm
hồn
rung
lên
cùng
một
nhịp
đồng
cảm,
thành
tri âm
tri kỷ
với
nhau,
tin
tưởng
nhau,
yêu
mến
nhau.
Qua
những
việc
chúng
ta đọc
kinh
như
máy
móc,
những
lần dự
Thánh
lễ vì
luật
buộc,
hay
bao
lần đi
chầu
Mình
Thánh
cách
chiếu
lệ
v.v..
như
thế có
thể
coi là
chúng
ta đã
thật
sự đến
với
Chúa
chăng?
Thảo
nào …!
Chúng
ta vẫn
cắm
đầu
cắm cổ
mê mải
tìm
những
sự vật
đời
này
như
những
kẻ đói
khát !
Hễ ai
còn
thấy
mình
miệt
mài
tìm
kiếm
các sự
vật
thế
trần
như
thể
chỉ có
chúng
mới
đem
lại
hạnh
phúc
cho
mình,
đó là
dấu
người
ấy
chưa
đến
thật
với
Chúa.
SUY
NIỆM
Khi
chúng
ta suy
gẫm về
Ngôi
Lời là
Ngôi
Hai
Thiên
Chúa
cao
cả, uy
linh
mà lại
hạ cố
làm
người
phàm
trần,
sống
giữa
thế
gian
nhưng
'thế
gian
không
nhận
biết
Người
và
cũng
không
chịu
đón
nhận'
thì ta
như
thấy
trong
lòng
có một
nỗi
ngậm
ngùi,
xót
xa.
Con
người
Giêsu
phong
sương
ấy
không
nề
gian
khổ,
dong
ruổi
trên
khắp
nẻo
đường
đời
gió
bụi để
rao
giảng
Tin
Mừng,
để
chữa
lành,
để trừ
ma
quỉ,
để cứu
giúp,
giải
quyết
mọi
nỗi
khó
khăn
của
loài
người…
và
cuối
cùng
là đem
hết
tình
yêu
thí
mạng
trên
thập
giá để
đền
tội
cho
ta.
Tất cả
những
điều
ấy
Chúa
Giêsu
đã làm
hết và
có thể
nói
không
còn gì
có thể
làm mà
Người
đã
không
làm,
tất cả
chỉ
cốt
đem
lại
cho
chúng
ta một
cuộc
đời
hạnh
phúc,
cái
hạnh
phúc
thật
mà thế
gian
không
thể
đem
đến
cho ta
được,
để ta
không
còn
phải
đói
khát
khổ sở
chạy
theo
các sự
vật
tầm
thường
và
phù
vân
giả
trá
trần
gian…
Nghĩ
đến
công
ơn của
Người
to tát
như
vậy có
làm
tâm
hồn ta
lay
động,
xao
xuyến
? Ta
có
khóc
thương
Con
người
Giêsu
phải
chịu
đau
khổ vì
loài
người
trần
gian ?
Hay
khóc
cho
chính
ta đã
bao
năm
qua
thờ ơ,
lãnh
đạm,
bội
bạc
trước
Tình
Yêu vô
biên,
vĩ đại
ấy ?
Hơn
2000
năm về
trước
Chúa
Giêsu
đã
trách
người
Do
Thái:
"Các
ông đã
thấy
Tôi mà
không
tin."
(Ga 6,
36).
Còn
chúng
ta bao
năm
qua đã
vinh
hạnh
được
thấy
Chúa
dù
lòng
tin
ta
mỏng
manh,
yếu
kém,
nhưng
có
điều
là ta
đã
thật
sự
đến
với
Chúa
hay
chưa ?
Vậy
mà,
mặc
cho
tình
người
đen
bạc,
Chúa
vẫn
đến
với
chúng
ta
với
tất cả
ân
tình,
vẫn
chờ
đợi
chúng
ta như
kẻ
tình
si,
vẫn
tìm
cách
nhắc
nhở,
kêu
gọi
chúng
ta hãy
đến
với
Người
:
“Này
Ta đã
đứng
bên
cửa mà
gõ !
Ai
nghe
tiếng
Ta má
mở
cửa,
thì Ta
sẽ vào
với
người
ấy, và
Ta sẽ
dùng
bữa
tối
với
người
ấy và
người
ấy với
Ta.”
(Kh
3.20).
Vì
mong
mỏi
rằng
với
ngọn
lửa
yêu
đương
cháy
bỏng
của
Người
thì
trái
tim
chai
đá của
chúng
ta sẽ
ra mềm
mại,
trí óc
mờ đặc
của
chúng
ta sẽ
trong
trẻo
vẻ
thông
minh,
khôn
ngoan
của
Thần
Khí và
chúng
ta sẽ
đến
gần
Người,
thật
sự gặp
gỡ
Người
với
trọn
niềm
tin và
yêu
mến vì
' TIN
là
bước
vào
tương
giao
thân
tình
với
Thiên
Chúa.'
(Sách
Đọc
Tin
Mừng
theo
Yoan
đã
dẫn,
tr.111)
Thiên
Chúa
Cha
yêu
quí
loài
người
biết
bao và
đã thể
hiện
tình
thương
ấy qua
Tình
Yêu
hữu
hình
của
Chúa
Giêsu.
Chúa
Giêsu
nói
rằng
:
"Chúa
Cha đã
yêu
mến
Thầy
thế
nào,
Thầy
cũng
yêu
mến
anh em
như
vậy.
Anh em
hãy ở
lại
trong
tình
thương
của
Thầy."
(Ga
15,
9).
Chúa
yêu
thương
chúng
ta và
Chúa
cũng
mong
mỏi
chúng
ta yêu
thương
Chúa
nữa.
Chúa
muốn
ta
thấu
hiểu
Lời
Chúa
và
thực
hành
Lời
Chúa
dạy
như
những
kẻ tri
âm,
tri kỷ
hiểu
nhau
bằng
trái
tim
chứ
không
qua
môi
miệng
mà
thôi.
Thiên
Chúa
là
Đấng
giàu
sang,
phú
quí
tột
đỉnh,
mọi sự
đều
sung
mãn vì
Ngài
là
Chúa
tể vũ
trụ
này.
Sự có
mặt
của
chúng
ta thì
cũng
chẳng
thêm
gì cho
Chúa
nhưng
"sự
trình
diện"
của
chúng
ta
trước
Thánh
Nhan
Chúa
lại
mang
đến
cho
chúng
ta
nhiều
ân
sủng,
phúc
lộc:
"Từ
nguồn
sung
mãn
của
Người,
tất cả
chúng
ta đã
lãnh
nhận
hết ơn
này
đến ơn
khác."
(Ga
1,16)
Chính
Chúa
đã kêu
gọi :
"Chính
tôi là
Bánh
ban Sự
Sống.
Ai đến
với
tôi,
không
hề
phải
đói;
ai tin
vào
tôi,
chẳng
khát
bao
giờ !"
(Ga
6,35)
Đến
gần
Chúa
với
trọn
vẹn
trái
tim
như
thế
cũng
có
nghĩa
ta tin
rằng:
Người
là tất
cả
! Thế
nên
chúng
ta sẽ
không
còn
cảm
thấy
đói
khát,
thiếu
thốn
bất cứ
điều
gì, sự
gì
khác
nữa.
Bởi
vì:
"Tất
cả
khát
khao
và ước
vọng
sâu
thẳm
nhất
của
tâm
linh
họ đã
được
thỏa
mãn
đầy
đủ. Dĩ
chí họ
còn
coi sự
đói
khát
và cái
chết
phần
xác
như
không
còn ý
nghĩa
quyết
định.
Vậy
chính
Đức
Giêsu
mới là
Đấng
mà mọi
người
phải
đến
để
được
bồi
dưỡng
sức
mạnh
và sự
sống
của
mình,
mà sự
chết
không
diệt
được."
(Sách
đã dẫn
trên,
tr.
150)
Còn gì
hạnh
phúc
hơn
khi
chúng
ta
được
sống
trong
vòng
tay
yêu
thương,
che
chở
của
Chúa,
dù
cuộc
đời có
khó
khăn,
vất vả
nhưng
ơn
Chúa
sẽ
giúp
mọi sự
trở
nên
nhẹ
nhàng
vì
Chúa
bảo
vệ, đỡ
nâng
ta
trong
mọi
nghịch
cảnh.
Trong
Chúa,
chúng
ta
luôn
được
niềm
vui và
bình
an
tuyệt
diệu
của
trời
cao vì
Chúa
là nơi
an
nghỉ,
là
Bánh
ban Sự
Sống
dưỡng
nuôi
tất cả
những
ai ĐẾN
với
Chúa
được
no
thỏa
không
còn
phải
âu lo,
đói
khát
nữa.
"Tất
cả
những
ai vất
vả
mang
gánh
nặng
nề,
hãy
đến
cùng
tôi,
tôi sẽ
cho
nghỉ
ngơi,
bồi
dưỡng…"
(Mt
11,28-29)
Tóm
lại,
tất cả
vấn đề
ở đây
là
chúng
ta có
Tin và
Đến
với
Chúa
thật
sự hay
không
?
CẦU
NGUYỆN
Lạy
Chúa,
Chúa
luôn
chờ
đợi và
mời
gọi
mọi
người
đến
với
Chúa.
Chúng
con
hoan
hỉ
những
tưởng
đã
đến
với
Chúa
rồi vì
bây
giờ
chúng
con đã
biết
yêu
quí
Thánh
Kinh,
hàng
ngày
chúng
con đã
biết
đọc
Thánh
Kinh
cũng
như
gắng
áp
dụng
Lời
Chúa
vào
trong
cuộc
sống
để
hoàn
thiện
mình,
chúng
con
đã…và
đã…
Nhưng
lạy
Chúa,
khi
suy
gẫm
tình
yêu
tuyệt
đỉnh
của
Chúa
trên
thập
giá
thì
chúng
con
nhận
ra
mình
thật
bất
xứng,
đã
chưa
bao
giờ
đến
với
Chúa
cho đủ
và
chẳng
bao
giờ có
thể đủ
được.
Tình
yêu
của
Chúa
thật
cao
cả, vĩ
đại
lại
thẳm
sâu,
nhiệm
mầu vì
đó là
"tình
yêu
vượt
quá sự
hiểu
biết
của
loài
người"
chúng
con.
Niềm
tin
của
chúng
con
đối
với
Chúa
thì
hời
hợt,
nông
cạn,
ít ỏi
lắm
như có
lần
Đức
Mẹ đã
bảo:
"Đức
tin
của
các
con
còn
yếu
kém
lắm."
Tình
yêu
của
chúng
con
đối
với
Chúa
thì
nhỏ
nhoi,
như
hạt
cát
trong
đại
dương,
mong
manh
như
bọt
nước
mau
tan
giữa
mặt
biển
khơi.
Lạy
Chúa,
Chúa
là núi
đá,
thành
trì
cho
chúng
con
tựa
nương.
Xin
Chúa
ban
cho
con
thêm
niềm
tin,
thêm
tình
yêu
mến
Chúa
mỗi
ngày
một
hơn.
Xin
cho
con
được
đến
học
với
Chúa
hiền
lành
và
khiêm
nhường,
đơn sơ
và bé
nhỏ.
Xin
cho
trái
tim
con
khao
khát
Chúa,
là
Bánh
ban Sự
Sống,
là
Nước
Hằng
Sống
trong
bữa
yến
tiệc
huy
hoàng
ở
thiên
cung
để
linh
hồn
con
được
no đầy
ơn
phúc
của
Tin
Mừng
vĩnh
cửu.
Xin
cho
con
được
đến
với
Chúa
thật
sự,
thật
sự phó
thác
cuộc
đời
mình
trong
tay
Chúa
như
trẻ
thơ
tin
tưởng
trọn
vẹn
vào
tình
thương
và
quyền
năng
của
Cha
trên
trời.
Nhất
là cho
con
vững
tin
rằng
đối
với
chúng
con:
CHÚA
LÀ TẤT
CẢ.
Amen.
CHÚA
GIÊSU
BAN GÌ
CHO KẺ
ĐẾN
VỚI
NGƯỜI
?
Chúng
ta hãy
nghe
Người
nói :
"Tất
cả
những
người
Chúa
Cha
ban
cho
Tôi
đều sẽ
đến
với
Tôi,
và ai
đến
với
Tôi,
a)
Tôi sẽ
không
loại
ra
ngoài
và
không
được
để hư
đi
điều
gì."
(cc.37,
39)
;
b) Có
sự
sống
đời
đời
c) Và
ngày
sau
hết
Tôi sẽ
cho họ
sống
lại
(c.40)
Ta hãy
cẩn
thận
cứu
xét
những
lời
hứa
tuyệt
vời
ấy:
a)
Tôi sẽ
không
loại
ra
ngoài
và để
hư đi.
(cc.37,39)
Khi
nghe
Chúa
nói
như
trên,
ta cảm
nhận
niềm
hạnh
phúc
được
Chúa
yêu
thương,
chăm
sóc.
Nào là
chúng
ta
được
Chúa
Cha
ban
cho
Chúa
Giêsu.
Chúa
Giêsu
đón
nhận
lấy và
không
bao
giờ
chúng
ta bị
loại
trừ vì
Người
vâng
lệnh
Cha đã
truyền
là
không
được
loại
bỏ hay
làm hư
đi
(c.39).
Thiên
Chúa
Cha là
tình
yêu
bao
dung
không
muốn
ai
phải
chết.
Người
là
Chúa
tể
hiếu
sinh
(Kn
11,26)
không
hiếu
sát
nên dù
loài
người
sa ngã
phạm
tội
đáng
phải
chết
trầm
luân
muôn
kiếp
(Eph
2,1),
Người
luôn
kiên
nhẫn,
chờ
đợi
loài
người
hối
cải để
được
sống
(Ez
18,
23).
Chỉ
trừ
những
kẻ
ngoan
cố
nhất
định
từ
chối
đến
cùng
không
chịu
hối
cải.
Cứ
như
theo
tính
loài
người,
Chúa
Giêsu
có thể
loại
bỏ
chúng
ta vì
Người
thấy
ta
chưa
đủ
"tiêu
chuẩn".
Chẳng
phải
có lần
ta
thấy
Người
cầm
roi
đuổi
những
người
buôn
bán
gây ô
uế nơi
Đền
Thờ;
hoặc
khi
Chúa
khiển
trách
Phêrô
là
Satan;
khi
quở
mắng
ông
Gioan
và
Giacôbê
đã
theo
tính
người
phàm
nóng
giận
mà
muốn
khiến
lửa từ
trời
xuống
thiêu
đốt
làng
người
Samari
vì đã
không
tiếp
đón
Chúa…(Lc
9,54)
Nhưng
Chúa
Giêsu
đã từ
trời
xuống
không
để làm
theo ý
riêng
mình
mà là
theo ý
Cha
(c.38).
Mà ý
của
Cha
là:
"Không
được
loại
bỏ và
để hư
đi
điều
gì"
(c.39).
Chúa
yêu
thương
chúng
ta như
người
mẹ
chia
sẻ cho
ta
phần
máu
thịt
của
riêng
mẹ,
để tạo
nên
tấm
hình
hài
chúng
ta và
nuôi
dưỡng
chúng
ta
bằng
những
giọt
sữa,
bằng
tình
yêu âu
yếm
của
mẹ.
Hỏi
rằng
có
người
mẹ nào
lại
không
thương
con?
Có
người
mẹ nào
lại bỏ
đứa
con bà
đã cưu
mang
chín
tháng
mười
ngày
trong
dạ, và
ba năm
cho bú
mớm?
Tình
yêu
của mẹ
bao la
như
"biển
Thái
Bình",
không
hề vơi
cạn
"như
suối
trong
nguồn
chảy
ra" vì
bắt
nguồn
từ
tình
yêu
Thiên
Chúa
là
tình
yêu
không
bến bờ
mà
Chúa
dành
cho
loài
thụ
tạo
chúng
ta. Vì
thế,
"cho
dù có
người
mẹ nào
nỡ bỏ
con
mình,
thì
– theo
lời
tiên
tri
Isaia,
49.15
–
Ta,
Thiên
Chúa,
ta
không
hề bỏ
các
ngươi".
Một
tình
yêu
khắc
khoải
đợi
chờ vì
loài
người
mê đắm
thế
gian
đi xa
lạc
khỏi
vòng
tay
yêu
thương
của
Người
biết
bao
giờ
mới
trở
lại.
Trong
một
đoạn
khác,
Chúa
Giêsu
còn
khẳng
định
một
cách
mạnh
mẽ
hơn
rằng
sẽ
không
bỏ rơi
chúng
ta
:
"Chiên
của
Tôi
thì
nghe
tiếng
Tôi;
Tôi
biết
chúng
và
chúng
theo
Tôi.
Tôi
ban
cho
chúng
sự
sống
đời
đời;
không
bao
giờ
chúng
phải
diệt
vong
và
không
ai
cướp
được
chúng
khỏi
tay
Tôi."
(Ga
10,27-28)
E ngại
rằng
người
nghe
vẫn
chưa
thấy
đủ bảo
đảm,
Đức
Giêsu
thêm
câu
này
:
"Cha
Tôi,
Đấng
đã ban
chúng
cho
Tôi
thì
lớn
lao
hơn
tất cả
mọi
sự, và
không
ai
giật
chúng
khỏi
tay
Chúa
Cha
được."
(Ga
10,
29)
Ai có
thể
cướp,
có thể
giật
chúng
ta
khỏi
tay
Chúa
Giêsu,
tay
Chúa
Cha ?
Ma quỉ
? Thế
gian ?
Xác
thịt
ư?
Đó là
ba thù
nguy
hiểm
nhất
của
loài
người.
Dầu
vậy,
chúng
vẫn
không
thể
giật
chúng
ta
khỏi
tay
Chúa,
vì khi
ta tin
vào
Chúa
là ta
đã tìm
được
nơi
nương
náu
vững
chắc
nơi
Chúa.
Các
Thánh
vịnh
thường
hay ca
ngợi
Chúa
là
"núi
đá cho
tôi
nương
tựa",
là
"chốn
ẩn náu
vững
chắc"
cho
tôi
trong
mọi
cơn
khốn
khó,
là
"khiên
mộc
che đỡ
cho
tôi"
trước
mọi
tên
lửa
của
những
kẻ
địch
thù
hung
tợn
v.v…
Thánh
Phaolô
còn
cho
biết
thêm
những
kẻ thù
khác,
nhưng
tất cả
những
sự ấy,
chẳng
có gì
có thể
giật
chúng
ta ra
khỏi
Chúa
chúng
ta :
"Ai có
thể
tách
chúng
ta ra
khỏi
tình
yêu
của
Chúa
Kitô ?
Phải
chăng
là
gian
truân,
khốn
khổ,
đói
rách,
hiểm
nguy,
bắt
bớ,
gươm
giáo
?...
Nhưng
trong
mọi
thử
thách
ấy
chúng
ta
dư sức
toàn
thắng
nhờ
Đấng
đã yêu
mến
chúng
ta.
Đúng
thế,
tôi
tin
chắc
rằng:
cho
dầu là
sự
chết
hay sự
sống,
Thiên
thần
hay ma
vương
quỷ
lực,
hiện
tại
hay
tương
lai,
hoặc
bất cứ
sức
mạnh
nào,
chiều
cao
hay
vực
thẳm
hay
bất cứ
một
loài
thọ
tạo
nào
khác,
không
có gì
tách
được
chúng
ta ra
khỏi
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
thể
hiện
nơi
Đức
Giêsu
Kitô
Chúa
chúng
ta."
(Rm
8,35-39)
Nhưng
buồn
thay,
CÓ MỘT
KẺ CÓ
THỂ
GIẬT
CHÚNG
TA
RA
KHỎI
TAY
ĐỨC
KITÔ
Phải,
có một
kẻ có
thể
làm
được
chuyện
ấy !
Có thể
là
chúng
ta can
trường
vượt
qua
được
các
gian
nan,
đau
khổ,
thử
thách...
Nhưng
trớ
trêu
thay!
Chúng
ta lại
dễ
dàng
quị
ngã
bởi
kẻ thù
là
chính
mình.
Lời
Chúa
còn
đang
vang
vọng
trong
các
thánh
đường
trên
trần
gian
này:
"Ai
yêu
quí
mạng
sống
mình,
thì sẽ
mất;
còn ai
ghét
mạng
sống
mình ở
đời
này,
thì sẽ
giữ
lại
được
cho sự
sống
đời
đời."
(Ga
12,25)
"Ai
muốn
theo Ta,
phải
từ bỏ
chính
mình,
hãy
vác
lấy
thập
giá
của
mình
mỗi
ngày
mà
theo;
quả
vậy,
ai
muốn
cứu
mạng
sống
mình
thì sẽ
mất;
còn ai
liều
mất
mạng
sống
mình
vì Ta
thì sẽ
tìm
được
mạng
sống
ấy." (Lc
9.23-24)
Khi
không
chịu
hy
sinh,
từ bỏ
mà cứ
nuông
chiều
theo
tính
xác
thịt
và để
nó
thống
trị
cuộc
đời
mình.
Nào là
lòng
thì
tin
vơ,
thờ
quấy,
tôn
vinh
nhan
sắc,
mê đắm
xác
thịt,
say mê
ăn
uống,
nhậu
nhẹt…;
nào là
lưng
thì
đeo
đầy
một
túi
tham
lam,
bất
hòa,
chia
rẽ,
ghen
tị,
nóng
giận,
ích
kỷ, tự
ái,
kiêu
ngạo,
nói
hành,
nghĩ
xấu,
xét
đoán,
chỉ
trích,
phê
bình,
…
Nói
tóm, chúng
ta
không
biết
làm
chủ
bản
thân,
không
từ bỏ
những
ước
muốn
tội
lỗi mà
vác
lấy
ách
luật
của
Chúa,
tức
là vác
thập
giá
mình
mỗi
ngày
mà
đi
theo
Chúa.
Vác
thập
giá
mình
mỗi
ngày
không
phải
là
bằng
lòng
chịu
đựng
các
bệnh
tật
(như
chúng
ta
thường
hay
nói
thế,
vì đâu
phải
ngày
nào
cũng
đều có
bệnh
tật để
vác),
mà là
muốn
nói
đến sự
từ bỏ
mình
mỗi
ngày,
bỏ các
dục
vọng,
không
tham
sân si
nữa…tuân
giữ
các
luật
Chúa
đến
nỗi
sẵn
sáng
vì thế
mà
liều
mất cả
mạng
sống
như
Chúa
đã
làm…
Cái hy
sinh
đó
thật
nặng
nề đau
đớn
như
thể
vác
thập
giá
vậy.
Còn nếu
chúng
ta
buông
mình
theo
tính
xác
thịt,
quá mê
đắm
dục
vọng,
và
chìm
sâu
quá đà
trong
tội
lỗi
thì
đến
một
lúc
nào
đó,
Chúa
Cha
cũng
chẳng
còn có
thể
nào
lôi
kéo
chúng
ta
về với
Chúa
nổi
nữa
(Ga
6,44),
nghĩa
là lúc
ấy,
không
phải
Chúa
không
đủ
quyền
năng,
nhưng
là
chúng
ta đã
đâm ra
ù lỳ
chai
đá,
không
còn
khả
năng
hay
không
còn
muốn
nghe
theo
Chúa
nữa.
Rõ
ràng
là lỗi
tại
chính
chúng
ta chứ
không
phải
Chúa
Cha
không
lôi
kéo ta
đến
với
Chúa
Giêsu,
hay
là thế
lực ma
vương
hay
gian
truân,
khốn
khổ…giật
ta ra
khỏi
tay
Chúa.
Vậy
không
phải
chỉ
cần
tin
vào
Chúa
là "tự
động"
vào
Thiên
đàng
mà
phải
biết
từ bỏ
mình,
biết
đi lối
hẹp
dẫn
đến sự
sống
thật.
Bởi
tin,
ta đã
được
Thiên
Chúa
ban
cho
ta sự
sống
đời
đời
(như
ta đã
xem
trên
đầu)
ví như
được
Chúa
ban "cây
sự
sống",
phần
của ta
bây
giờ
là
phải
làm
sao
cho
cây sự
sống
đó
đừng
bị
chết
đi,
trái
lại
được
chăm
sóc
bồi
dưỡng
bằng
những
sự hi
sinh,
từ bỏ,
hãm
mình,
giữ
luật
Chúa
và
làm
các
việc
lành,
đạo
đức,
đọc
kinh,
dự
Thánh
Lễ..
mà vun
trồng
cho
cây ấy
được
phát
triển
và
sinh
hoa
quả
xum
xuê.
Mặc
dù còn
yếu
đuối,
tội
lỗi,
chúng
ta vẫn
còn
niềm
trông
cậy,
tin
tưởng
vào
Thánh
Ý Cha
sẽ
không
bao
giờ
loại
bỏ
chúng
ta là
những
người
Cha đã
ban
cho
Chúa
Giêsu
(cc.37tt).
Chỉ
cần
chúng
ta
cảnh
giác
kẻ thù
"chính
mình"
hết
sức
nguy
hiểm
đó.
Như
vậy
chúng
ta đã
thấy
rõ câu
trả
lời
cho
câu
hỏi:
Ai
có thể
tách
chúng
ta ra
khỏi
tay và
tình
yêu
của
Đức
Kitô ?
Xin
thưa
là:
Chính
chúng
ta !
NGUYỆN
CẦU
Lạy
Chúa,
xin
cho
chúng
con
biết
lắng
nghe
và
thực
hành
Lời
Chúa,
biết
đóng
đinh
tính
xác
thịt
vào
thánh
giá
Chúa
và
sống
theo
Thần
Khí
hướng
dẫn,
để mỗi
ngày
một
hơn
chúng
con
được
nên
hoàn
thiện
như
Cha
trên
trời
là
Đấng
hoàn
thiện,
để rồi
một
ngày
nào
qua
khỏi
đời
này
chúng
con có
thể
vinh
hạnh
được
hội
ngộ
cùng
Cha
trên
trời.
Amen.
*
Tuy
vậy,
theo
kinh
nghiệm
của
nhiều
người,
nhất
là
những
bậc
cao
niên,
ngoài
kẻ thù
là
chính
mình
cũng
không
nên
coi
thường
những
khó
khăn,
thử
thách,
đau
đớn
bệnh
tật
bên
ngoài,
hay
nỗi
đau
khổ
bên
trong
tâm
hồn,
vì
trong
những
lúc
ấy,
nhất
là khi
chúng
kéo
dài,
cơn
cám dỗ
bỏ đức
tin
cũng
rất
mãnh
liệt,
vũ
bão,
ghê
gớm
đến
nỗi ta
dường
như
thấy
Chúa
lánh
mặt,
Chúa
không
còn
hiện
diện
trong
cõi
đời
đầy
khổ ải
này
nữa.
Không
còn
Chúa
nữa !
Không
còn ai
cứu
giúp
ta nữa
! Vô
vọng
và lạc
lối
trong
đêm !
Những
lúc ấy
ta rất
dễ rơi
vào
nỗi
hoài
nghi
cùng
cực và
mất
đức
tin,
nếu
chúng
ta
không
trang
bị cho
mình
Lời
Chúa !
Lúc
ấy,
phúc
cho ta
nếu
được
một
câu
Lời
Chúa
không
biết
ta đã
nghe
và đón
nhận
từ bao
giờ,
chợt
trổi
lên,
chiếu
sáng
trong
tâm
trí
đang
quay
cuồng
trong
giông
bão
của
ta,
thế là
ta
thấy
được
con
đường
mà đi,
hay
sức
mạnh
để
chống
chọi
lại
với
cơn
cám
dỗ. Vì
thế,
luôn
luôn
ta
phải
cầu
xin
Chúa
cho ta
Ơn Đức
Tin để
tin
như
trẻ
thơ
tin
tuyệt
đối
vào
cha
nó; và
biết
cầu
xin
như bố
đứa
trẻ bị
động
kinh:
"Con
tin,
nhưng
xin
Chúa
hãy
tăng
thêm
đức
tin
yếu
kém
của
con"
(Mc
9,24)
;
và ta
nên
nhớ
rằng:
"Kẻ
nào
bền
chí
đến
cùng,
kẻ ấy
sẽ
được
cứu
thoát."
(Mt
10,
22)
Lời
này đã
mang
lại
cho
chúng
ta sự
khích
lệ lớn
lao để
có thể
tiếp
tục
cuộc
hành
trình
của
mình
về
Nước
Trời.
***
Sau
điều
trên,
Đức
Giêsu
còn
hứa
cho ai
đến và
tin
vào
Người
thì
được
b)
Sự
Sống
Đời
Đời
(c.40)
"Ai
trông
thấy
Người
Con và
tin
vào
Người
Con
thì có
sự
sống
muôn
đời và
Tôi sẽ
cho họ
được
sống
lại
trong
ngày
sau
hết."
(Ga
6,39)
Sự
sống
đời
đời là
sự
sống
thần
linh
vì
thông
chia
sự
sống
của
chính
Thiên
Chúa
trong
tương
quan
hiểu
biết
và yêu
mến.
Đó là
sự
sống
cho cả
hồn
lẫn
xác,
cho
toàn
diện
con
người,
đem
lại
hạnh
phúc
toàn
hảo
cho
cuộc
sống.
(sđd,
tr.190)
Sự
sống
đời
đời
không
phải
chỉ là
sự
sống
kéo
dài
không
bao
giờ
hết,
cũng
không
nên
hiểu
là sự
sống
tinh
thần
thiêng
liêng
không
có thể
xác.
Đó là
sự
sống
đầy đủ
trọn
vẹn
của
toàn
diện
con
người
cho
đến
đời
đời vì
đã
thắng
Thần
chết.
Sự
sống
đời
đời là
thông
chia
sự
sống
mà
chính
Thiên
Chúa
đang
sống.
Chúng
ta thử
tưởng
tượng
một
chút:
Thiên
Chúa
đang
sống
như
thế
nào
trên
Thiên
đàng ?
Người
sống
hạnh
phúc
vô
cùng
vô
tận,
sống
trong
vinh
quang,
trong
ánh
sáng
huy
hoàng,
Người
không
thiếu
một
thứ
gì,
hoan
lạc
không
hề vơi
v.v…
Đấy
chính
sự
sống
ấy của
Thiên
Chúa
mà
ngay
từ
trần
gian
này
chúng
ta
được
thông
phần.
Nhìn
vào
cuộc
đời
các
người
lành
thánh,
các
thánh:
vì họ
cảm
nghiệm
được
sự
sống
Thiên
Chúa
mà họ
được
thông
phần,
cho
nên họ
luôn
được
bình
an,
luôn
thanh
thản,
luôn
hạnh
phúc,
cho dù
cuộc
đời
hằng
gây đủ
chuyện
rắc
rối
phải
lo
toan,
cho dù
gặp
những
thử
thách,
gian
truân,
khốn
khổ
hay bị
bách
hại,
ngược
đãi,
lòng
họ vẫn
an
nhiên
tự
tại,
giống
như
các
con cá
dưới
biển
sâu,
vẫn
tung
tăng
lượn
lờ vẫy
vùng,
mặc
cho
trên
mặt
biển
sóng
gió
bão
bùng,
giông
tố gầm
thét…Người
ta sẽ
nói
rằng
đối
với
họ,
đang
sống
dưới
trần
gian
bể khổ
mà như
đã
sống
trên
Thiên
đàng
rồi
vậy.
Khi
suy
gẫm đi
sâu
vào
Lời
Chúa,
ta cảm
nghiệm
được
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
thật
vô
biên.
Người
muốn
thông
chia
sự
sống
thần
linh,
sự
sống
vĩnh
hằng
của
Người
trên
cõi
đời
hạnh
phúc
cho
loài
người,
nên
Người
đã
thực
hiện
tất cả
vì
chúng
ta với
biết
bao kỳ
công
hết
sức lạ
lùng
của
Người:
hạ cố
xuống
trần
gian,
sống
cuộc
đời
nghèo
khó,
thanh
sạch
để nêu
gương,
rao
giảng
Tin
Mừng,
dạy
dỗ,
chuẩn
bị mọi
người
sống
sao
cho
xứng
đáng
công
dân
Nước
Trời,
ban
Mình
Máu
Thánh
để
dưỡng
nuôi
loài
người,
Người
còn
phải
uống
chén
đắng
Mùa
Thương
Khó,
Tử nạn
và lên
tới
đỉnh
Phục
Sinh
để đưa
mọi
người
ra
khỏi
Sự
chết.
Bao
nhiêu
kỳ
công
là bấy
nhiêu
ân
tình
Thiên
Chúa
dành
cho
chúng
ta đến
không
thể
nói
thành
lời.
Trái
tim ta
phải
rung
động,
bồi
hồi,
chết
lặng
trước
tình
yêu
tuyệt
đỉnh
của
Chúa
Giêsu
biểu
lộ ra
trên
Thánh
Giá.
Tâm
hồn ta
phải
thinh
lặng
trước
tình
yêu
Thánh
Thể,
là
tình
yêu
tội
nghiệp,
khiêm
nhu
trong
hình
bánh
đơn
sơ, bé
nhỏ
trái
nghịch
với
vinh
quang
cao cả
của
Chúa
trên
các
tầng
trời.
Thiên
Chúa
đã làm
tất cả
cho
chúng
ta,
ngõ
hầu
chúng
ta có
thể
vững
mạnh
trên
đường
trở về
với
cõi
sống
đời
đời
hạnh
phúc.
Hàng
ngày
nếu ta
để
chút
thời
gian
mà suy
gẫm ta
mới có
thể
cảm
nghiệm
được
chiều
sâu
thẳm
của
tình
yêu
Thiên
Chúa,
để có
thể
đạt
được
chiều
sâu
của
đạo
chứ
không
chỉ
dừng
lại ở
vài
việc
đọc
kinh,
hay
đôi
việc
đạo
đức…
ÁP
DỤNG
1.
Gia
đình
và
giáo
xứ ta
có
nhận
được
sự
sống
của
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
không
?
Trong
hội
đoàn,
trong
giáo
xứ có
còn
ganh
tị,
nói
xấu,
dèm
pha,
xét
đoán,
chia
rẽ,
xích
mích,
tranh
giành
ảnh
hưởng…
Trong
gia
đình
có
hạnh
phúc
không
? Có
biết
nhận
ra
khuyết
điểm,
yếu
kém
của
mình
để sửa
chữa ?
Khi
bất
hòa,
va
chạm
có nhớ
mình
nhận
được
sự
sống
của
Chúa
mà
không
giận
mãi vì
như
thế ta
làm
cho sự
sống
đời
đời vô
hiệu
quả.
Ta
tin
Chúa
nhưng
tại
sao
Tin
Mừng
không
phát
triển
trong
gia
đình,
khu
xóm,
giáo
xứ ?
Những
nơi đó
giống
như
khu
đất bỏ
hoang
ta
không
ra tay
phát
cỏ
hoang,
không
nỗ
lực.
Ta
sống
không
khác
gì
người
bên
lương
không
biết
Chúa.
Vì
sao ta
sống
không
hạnh
phúc ?
Có
phải
vì
tham
vọng,
ganh
tị,
giận
ghét,
ích
kỷ…?
***
SỰ
SỐNG
TRẦN
GIAN
LÀ
SỰ
SỐNG
ĐỂ MÀ
CHẾT
Sự
sống
trong
lãnh
vực tự
nhiên
đáng
được
gọi là
"chết"
hơn là
"sống",
hay là
"sống
để mà
chết"
như
các
loài
động
vật.
Nếu
không
có sự
sống
Thiên
Chúa
trong
mình,
thì
gọi nó
là
chết
đúng
hơn là
sống.
Như
Đức
Giêsu
có lần
đã nói
với
người
thanh
niên
muốn
đi
theo
Người
song
lại
xin
hoãn
một
thời
gian
để anh
chôn
cất
cha
già
xong:
"Anh
hãy đi
theo
Ta, cứ
để kẻ
chết
chôn
kẻ
chết
của
họ."
(Mt
8,22).
Câu
nói
xem ra
có vẻ
mâu
thuẫn
lại
thật
đúng
một
cách
sâu xa
: "kẻ
chết"
làm
sao
lại có
thể đi
chôn
kẻ
chết
khác
được ?
Hoá ra
Chúa
muốn
bảo,
trước
mắt
Thiên
Chúa,
kẻ
không
có sự
sống
thần
linh
là "kẻ
chết"
tuy về
mặt
thể
xác họ
vẫn
sống,
vẫn ăn
uống,
vẫn
vui
chơi
như
mọi
người
khác.
Bởi
đâu mà
họ đã
bị
chết ?
Ở vườn
Địa
đàng,
"cây
sự
sống"
(St
2.9;
3.22)
biểu
tượng
sự
sống
thần
linh
trường
sinh
mà
Thiên
Chúa
dành
cho
loài
người
được
hưởng,
thì họ
đã
đánh
mất vì
bất
tuân
phục,
từ đó
:
"Tội
đã đột
nhập
trần
gian,
và vì
tội
thì
phải
chết,
và …
sự
chết
đã lan
qua
hết
mọi
người,
một
khi
mọi
người
đều đã
phạm
tội"
(Rm
5.12).
"Anh
em đã
chết
vì các
sa
ngã,
các
lỗi
lầm
của
anh
em"
(Ep
2.1;
Cl
2.13).
Nhưng
nay
Đức
Giêsu
đến
ban
cho kẻ
tin và
ăn
Bánh
Sự
Sống
thì
được
"cấy"
mầm
sống
thần
linh,
sự
sống
đích
thật
vào
than
mình,
lúc ấy
không
thể
gọi họ
là "kẻ
chết"
được
nữa.
Cái
chết
thân
xác
không
hủy
diệt
được
mầm
sống
thần
linh
đang ở
trong
phần
tâm
linh,
phần
cốt
tủy
của
con
người.
Được
sự
sống
thần
linh
trường
sinh,
từ nay
họ
không
bao
giờ
còn
chết
nữa.
Có
người
sẽ
thắc
mắc :
"Chẳng
lẽ họ
không
có lúc
nhắm
mắt
xuôi
ta lìa
đời ?"
Xin
trả
lời :
Có !
Nhưng
đối
với
họ,
cái
chết
phần
xác
chỉ là
"giấc
ngủ"
mà
thôi :
Chúa
Giêsu
nói
với
các
Tông
đồ :
"Ladarô
người
bạn
chúng
ta đã
nghỉ
yên,
Ta
phải
đi
đánh
thức
dậy
!...
Người
có ý
nói
ông ấy
đã
chết,
nhưng
họ
tưởng
Người
nói
ông ấy
đã ngủ
yên
giấc"
(Ga
11,4-15;
xem
Mc
5,39).
Thánh
Phaolô
cũng
nói về
các
tín
hữu đã
qua
đời là
"những
người
đã an
nghỉ",
"những
kẻ đã
an
nghỉ
trong
Đức
Giêsu"
(1Tx
4,13-16),
an
nghỉ
đang
khi
chờ
đợi
ngày
được
sống
lại.
(*)
------------------------
(*
Chú
thích
:
Giáo
Hội
coi
ngày
chết
của
các
thánh
là
ngày
sinh
ra
trong
sự
sống
đích
thật,
sung
mãn và
trường
tồn.)
------------------------------
Từ
ý
nghĩa
đó,
nghĩa
trang
được
gọi là
phòng
ngủ,
nhà
ngủ.
Trên
các
bia mộ
thường
thấy
có
ghi:
"…chờ
ngày
phục
sinh",
"…đợi
ngày
sống
lại",
"…hãy
sống
trong
Thiên
Chúa".
Trong
Thánh
Lễ,
chỗ
cầu
nguyện
cho
người
đã qua
đời
chúng
ta
nguyện
:
"Xin
Chúa
cũng
nhớ
đến
các
anh
chị em
chúng
con
đang
an
nghỉ
trong
niềm
hi
vọng
sống
lại."
Những
điều
trên
đây đã
mở mắt
cho
chúng
ta
thấy
một
điều
quan
trọng
là :
chúng
ta vẫn
thường
hết
sức
chăm
lo cho
sự
sống
thể
xác,
là
phần
mau hư
nát,
mà
không
quan
tâm
đến sự
sống
thần
linh
là sự
sống
đích
thực
Thiên
Chúa
hứa
ban
cho
chúng
ta.
Chúa
Giêsu
đã
cảnh
báo:
"Anh
em
đừng
sợ
những
kẻ
giết
thân
xác mà
không
giết
được
linh
hồn.
Đúng
hơn,
anh em
hãy sợ
Đấng
có thể
tiêu
diệt
cả hồn
lẫn
xác
trong
hỏa
ngục."
(Mt
10,
28)
Hiểu
như
thế ta
mới
cảm
nhận
được
niềm
vui,
niềm
vinh
hạnh
được
là con
của
Thiên
Chúa.
Hơn ai
hết
chính
các
thánh
tử đạo
đã
hiểu
được
sự
sống
thần
linh
cách
sâu
sắc
nên
mới có
thể vì
Chúa
đành
thí bỏ
mạng
sống
để
khỏi
mất Sự
Sống
Đời
Đời.
Họ
hiểu
được
cái
chết
phần
xác là
sự an
nghỉ
chờ
ngày
sống
lại
mãi
mãi mà
thôi.
Và
chúng
ta
đây,
một
khi đã
tin
vào
Đức
Kitô,
ta hãy
vui
sướng
hân
hoan
vì ta
sẽ
không
còn là
kẻ
chết,
không
bao
giờ
chết
nữa,
nhưng
là kẻ
sống
mãi
mãi
như
Thiên
Chúa.
“Người
không
phải
là
Thiên
Chúa
của kẻ
chết,
mà là
của
người
sống,
vì hết
thảy
đều
sống
cho
người”
(Lc
20.38).
NGUYỆN
CẦU
Lạy
Chúa,
chúng
con
xin tạ
ơn
Chúa
vô
cùng
vì
Chúa
đã ban
cho
chúng
con Sự
Sống
Thần
Linh
là Sự
Sống
quí
giá
của
chính
Chúa.
Chúa
đã
sinh
ra
loài
người
chúng
con
cách
nhiệm
mầu và
yêu
thương
chúng
con
quá
đỗi
đến
nỗi
Chúa
chẳng
muốn
xa
cách
chúng
con
bao
giờ,
đến
nỗi
Chúa ở
lại
với
chúng
con
cho
đến
tận
thế
cho dù
chúng
con có
tội
lỗi,
khốn
cùng
thế
nào đi
nữa.
Ôi !
Trái
tim
chúng
con
nhỏ
bé,
hữu
hạn
làm
sao có
thể
đáp
lại
tình
yêu
cao cả
vô
biên,
vô hạn
của
Chúa ?
Thì
này
đây
"con
xin
đến
thực
thi Ý
Chúa,
Chúa
chẳng
ưa gì
lễ
toàn
thiêu,
thì
con
xin
đến
thực
thi Ý
Chúa.
Ý của
Ngài
con
xin
thực
thi."
Amen.
***
Cuối
cùng
Đức
Giêsu
ban
lời
hứa
này :
c) Và
ngày
sau
hết
Tôi sẽ
cho
Sống
lại
(c.40)
Thỉnh
thoảng,
đứng
trước
thi
hài
của
một
thân
nhân
hay
bạn
hữu
vừa
nằm
xuống,
ta bùi
ngùi
thương
tiếc
và
chợt
nhớ
đến
thân
phận
bèo
bọt
của
mình :
"Con
như
người
thợ
dệt,
đang
mải
dệt
đời
mình,
bỗng
nhiên
bị cắt
đứt
ngang
hàng
chỉ…"
(Ca
vãn
Êzêkya,
Is 38,
12).
Sống
trong
một
môi
trường
xã hội
tôn
thờ
chủ
nghĩa
hưởng
thụ
tối
đa, ta
cũng
như
mọi
người
thường
quên
mình
một
ngày
nào đó
bất
chợt
rồi
cũng
phải
ra
đi…Mặc
lời
Chúa
nhắc
nhở,
cứ lao
mình
vào
dòng
xoáy
cuộc
đời,
bỏ
Chúa,
lơ là
với
nhà
thờ,
nhiều
khi
còn
bóp
nghẹt
tiếng
lương
tâm,
tất
bật lo
kiếm
tìm
bằng
mọi
giá
cho
được
tất cả
những
gì làm
cho
cuộc
đời
mình
thỏa
mãn,
sung
sướng
tối
đa,
cho
bằng
anh
bằng
chị…mà
quên
mất :
"Đồ
ngốc!
Đêm
nay
thôi,
người
ta sẽ
đòi
mạng
ngươi
lại,
thì
những
gì
ngươi
sắm
sẵn đó
sẽ về
tay ai
?" (Lc
12,20).
Quả
thật
giờ
chết,
là một
cuộc
ra đi
không
bao
giờ
trở
lại,
mọi sự
ta có
nơi
trần
gian
sẽ bị
bỏ lại
tất cả
không
mang
theo
được
một
mảy
may gì
cả : "Trần
trụi
tôi đã
lọt
lòng
mẹ,
thì
cũng
trần
trụi
tôi sẽ
vào
lòng
đất"
(Sách
ông
Gióp
1.21),
nếu ta
không
có
niềm
tin
vào
Chúa
Giêsu,
Đấng
đã
chết
và
sống
lại vì
để ta
được
sự
sống
đời
đời,
là kho
tàng
độc
nhất
ta có
thể
giữ
được,
thì ta
còn
lại
cái
gì?
Nhưng
nếu ta
nhờ
tin
vào
Chúa
Giêsu
mà
được
sự
sống
đời
đời,
chúng
ta sẽ
thấy
rằng
trong
sự
sống
đời
đời ấy
ta sẽ
có tất
cả, và
còn có
những
gì
"mắt
chưa
hề
thấy,
tai
chưa
hề
nghe,
lòng
người
phàm
không
hề dám
ao
ước"
(1Cr
2.9).
Mà
tuyệt
vời
nhất
là
những
cái
Thiên
Chúa
dành
để cho
ta
trên
cõi
sống
ấy
không
chỉ là
những
điều
thiêng
liêng
trừu
tượng,
mà là
còn là
những
gì
cả
thân
xác
chúng
ta
cũng
được
hưởng,
vì ta
sẽ
được
sống
lại cả
thân
xác !
Thật
vậy,
ở đời
sau,
sự gì
Thiên
Chúa
ban
thưởng
cho ta
là ban
cho
những
con
người,
mà đã
là con
người
thì
gồm có
hồn có
xác,
vậy
thì
nếu
muốn
thật
toàn
vẹn
hạnh
phúc ở
đấy,
họ
phải
được
hưởng
sự
sống
và
những
sự tốt
lành
cho cả
thân
xác họ
nữa.
Đã
sống
cuộc
đời
trần
gian
ngọt
bùi
cay
đắng
xác
hồn
cùng
chia,
thì
hạnh
phúc
cũng
phải
cả hồn
lẫn
xác
cùng
hưởng,
vì
thế,
chúng
ta mới
nghe
Đức
Giêsu
hứa:
"Ai
trông
thấy
Người
Con và
tin
vào
Người
thì có
sự
sống
muôn
đời và
Tôi sẽ
cho họ
được
sống
lại
trong
ngày
sau
hết."(Ga
6,39-40).
Quả
thật
đây là
một
điều
chưa
từng
nghe,
chưa
từng
có ai
dám
hứa
cho
loài
người
như
vậy,
vì
ngược
với
luật
chung
đã
được
thiết
định:
"Bởi
ngươi
được
nắn ra
từ bụi
đất,
ngươi
sẽ trở
về bụi
đất"
(St
3,19).
Khoa
học
cũng
như
kinh
nghiệm
đời
thường
vẫn
thấy
sự
chết
diễn
ra như
một
qui
luật
tất
yếu
của
địa
cầu
này.
Sự
sống
lại ư
? Tin
nổi
không
? Dân
Do
Thái
được
tuyển
chọn
để
mang
mặc
khải
Thiên
Chúa
cho
thế
giới
mà vẫn
còn có
những
thành
phần
trong
dân
chống
báng ý
tưởng
khó
tin
đó,
chẳng
hạn bè
Sađukêu,
và
sách
Tin
Mừng
Matthêu
22,23-32
đã kể
lại
cho ta
tích
truyện
đó.
Đức
Giêsu
đã đáp
lại họ
và
khẳng
định:
Không
tin
điều
ấy là
vì
"không
biết
đọc
Thánh
Kinh
và
không
am
tường
về
quyền
năng
của
Thiên
Chúa".
Sống
lại
thể
xác
hoàn
toàn
cần
thiết
để cho
chiến
thắng
trên
Thần
chết
được
trọn
vẹn,
cũng
như để
cho sự
sống
đời
đời
của
những
người
tin
Chúa
được
sung
mãn.
Thiên
Chúa
làm gì
cũng
làm
cách
hoàn
hảo,
không
bao
giờ
làm
nửa
chừng.
Không
những
Thiên
Chúa
có
quyền
năng
làm
cho
linh
hồn kẻ
tin
được
sống
mà còn
làm
cho cả
thân
xác họ
cũng
được
sống
lại.
Thánh
Irênê
viết :
“Uống
chén
Máu
Thánh
Thể để
thông
chia
Máu
của
Chúa,
ăn
bánh
Thánh
Thể để
thông
chia
Thịt
mình
Chúa...
Vậy
nếu
chén
rượu
cùng
tấm
bánh
(vật
chất)
ấy có
thể
đón
nhận
Đấng
Lời
Thiên
Chúa
để
trở
thành
Mình
và Máu
Chúa
Kitô...,
thì
tại
sao
người
ta dám
bảo
rằng
thân
xác
không
có khả
năng
đón
nhận
ơn huệ
Thiên
Chúa,
tức là
sự
sống
đời
đời
(không
bao
giờ
phải
chết
nữa) ?
Cũng
như
hạt
lúa
kia,
vùi
xuống
lòng
đất,
sẽ mục
nát
đi,
rồi
chỗi
dậy,
thành
cây
lúa
mang
nhiều
hạt
lúa
vàng,
nhờ
bởi
Thần
Khí
Thiên
Chúa
(ban
sức
sống
cho)...;
cũng
vậy,
thân
xác
ta,
một
khi
được
nuôi
dưỡng
bằng
Mình
Máu
Thánh
Chúa,
dù có
phải
chết
vì án
phạt
trở về
bụi
đất
(St
3.19),
thì
đến
thời
đến
buổi,
sẽ
chỗi
dậy,
nhờ
Đấng
Lời
Thiên
Chúa
phục
sinh
nó, để
vinh
hiển
cho
Thiên
Chúa
Cha,
Đấng
ban
cho
loài
phải
chết
được
bất
tử,
cho
loài
hư
hoại
được
bất
hoại,
bởi vì
quyền
năng
Thiên
Chúa
được
thi
thố
trọn
vẹn ở
nơi
nào có
sự yếu
đuối”.
(Sách
Kinh
nhật
tụng,
Bài
Kinh
sách,
Mùa
Phục
sinh,
tuần
III,
thứ
năm,
trích
đăng ở
sđd
trên ,
tr.225)
***
Sống
lại
cách
thế
nào?
Thánh
Phaolô
đã mô
tả về
sự ấy
cách
rõ
ràng :
"Kẻ
chết
chỗi
dậy
thế
nào?
Họ lấy
thân
xác
nào mà
trở
về? Đồ
ngốc!
Ngươi
gieo
cái
gì,
cái ấy
phải
chết
đã
(thối
bấn,
tan
rã)
mới
sống
dậy.
Cái
ngươi
gieo
xuống
không
phải
là
hình
thể sẽ
mọc
lên,
nhưng
là
(hình
thể)
một
hạt
trơ
trụi,
chẳng
hạn
như
hạt
lúa
hay
một
thứ
nào
khác.
Rồi
Thiên
Chúa
cho nó
mọc
lên
với
một
hình
thể
như ý
Người
muốn
…".
Áp
dụng
vào sự
sống