MỘT TẦM NHÌN SỨ MẠNG
(bài viết mừng
dịp họp mặt cựu sinh viên Xuân Bích 2009, và mừng khai mạc Năm Thánh
2010 của Giáo Hội Việt Nam)
Vài năm nay, nhiều
biến cố dồn dập xảy ra trong Giáo Hội Việt Nam. Qua các trang mạng,
nhiều Kitô hữu gần xa lên tiếng trình bày lập trường của mình xung
quanh các biến cố ấy. Không kể những phát biểu hằn học cay cú và đả
phá cá nhân - mà nhiều trang mạng có vẻ hơi quá dễ dãi trong việc
duyệt và đăng bài - thì vẫn đáng lưu ý là ngay những ý kiến chín chắn,
đầy am hiểu, đầy thiện chí, và được phát biểu cách từ tốn đúng mực…
cũng nhiều khi rất khác biệt và thậm chí đối nghịch nhau rõ rệt, mở ra
những tranh cãi xem chừng bất tận! Chẳng hạn, nên im lặng hay nên lên
tiếng nói trong tình hình X này, nên tổ chức sự kiện Y kia ra sao, nên
ưu tiên sử dụng món tiền Z nọ vào việc gì, theo định hướng nào…
Quả thực, không gì
dễ bằng “có ý kiến,” vì ý kiến là cái mà… ai cũng có! Và hẳn là ta
không thể - cũng chẳng nên mơ - đạt tới tình trạng trong đó mọi lập
trường trong Giáo Hội, trước mỗi vấn đề cụ thể, đều y chang nhau. Khác
biệt có thể là phong phú cơ mà! Tuy nhiên, thiết nghĩ là chúng ta có
thể - và phải mong muốn - vượt qua những sự khác biệt không cần
thiết, tức những khác biệt không đem lại sự phong phú hơn mà chỉ
làm chia rẽ trong lòng Giáo Hội.
CẦN MỘT TẦM NHÌN
Cách đây hơn ba thập niên,
Cha Joseph Comblin (nhà thần học người Bỉ, cộng sự viên của Giám Mục
Helder Camara ở Bra-xin) đã chẩn đoán rằng chính sự khác biệt về tầm
nhìn sứ mạng là cái nằm đằng sau rất nhiều những sự khác biệt không
cần thiết nói trên. Ngài viết: “Vì nhiều lý do, tôi cho rằng
ngày nay thần học về sứ mạng theo Tin Mừng là vấn đề trung tâm,
nơi hội tụ các cuộc tranh cãi chủ yếu giữa các Kitô hữu. Tôi cảm thấy
rằng nhiều ý niệm, nhiều luận điểm và nhiều lập trường làm phân hoá
trong Giáo Hội xem ra không đi tới gốc rễ của vấn đề. Không có sự tiến
bộ nào đạt được, do các bên liên hệ không nêu rõ ra những quan niệm
căn bản nằm phía sau các điểm bất đồng của mình. Họ không nêu rõ ra
những giả định nằm phía sau luận cứ của mình. Và nếu chúng ta tìm hiểu
điều gì nằm ẩn trong những phát biểu của họ, nếu chúng ta cố gắng xác
định thần học nằm sau những chọn lựa mục vụ của họ, chúng ta sẽ sớm
khám phá ra rằng họ có những diễn dịch khác nhau về sứ mạng theo Tin
Mừng.” (The Meaning of Mission, New York: Orbis Books, Maryknoll,
1977, tr. 1.)
Vâng, chính sự khác biệt
trong thần học sứ mạng và, do đó, trong tầm nhìn sứ mạng của người ta,
sẽ dẫn tới bao điều bất đồng khác giữa họ. Mọi Kitô hữu có trí khôn,
ngay cả dù chưa bao giờ là sinh viên thần học, cách nào đó đều có một
tầm nhìn sứ mạng của mình. Đối với người linh mục thì điều này càng
rõ, không phải vì anh ta đã qua ít nhất 4 năm thần học ở đại chủng
viện, mà vì anh ta ở trong một vị trí trong đó tầm nhìn sứ mạng của
anh thường xuyên bộc lộ ra (dù có thể chính anh không ý thức). Người
linh mục bộc lộ như vậy, chẳng hạn, qua giảng thuyết, qua cách lập kế
hoạch mục vụ, qua các mối quan tâm và qua sự chọn lựa ưu tiên của anh
trong những chuyện lớn, nhỏ, chung, riêng hằng ngày.
Nói rằng ai cũng có một tầm
nhìn sứ mạng, thực ra đó chỉ là nói theo kiểu “không có ý kiến gì thì
cũng là một ‘ý kiến’”! Ừ, cách nào đó, không có một tầm nhìn, thì đấy
cũng là một ‘tầm nhìn’! Nhưng, trong khi ‘không ý kiến’ lắm lúc có thể
là điều tốt nhất, thì ‘không tầm nhìn’ - cách riêng đối với sứ mạng
Kitô giáo - luôn luôn chỉ có thể là điều tệ hại.
“Không có một tầm nhìn, người ta
sẽ chết” (Sách Giảng Viên
29,18). Không có một tầm nhìn sứ mạng, đời người Kitô hữu sẽ lệch tâm,
bởi sứ mạng là lý do hiện hữu của Đức Giêsu kia mà! Không có một tầm
nhìn sứ mạng, người linh mục sẽ dựa vào đâu để định hướng cho sứ vụ
của mình, dựa vào đâu để lập các chương trình mục vụ, dựa vào đâu để
có một mối thống nhất các hoạt động giảng thuyết, cử hành phụng tự/bí
tích và cai quản cộng đoàn của anh? Không có một tầm nhìn sứ mạng, thì
sẽ lấy tiêu chuẩn nào đây để đánh giá một quá trình của cá nhân hay
cộng đoàn, để đích thực là mừng những dịp kỷ niệm 100 năm, 50
năm, 25 năm… ?
TẦM
NHÌN NÀO?
Giáo Hội tự bản
chất là thừa sai
(Ad gentes 2) (chú
thích: ‘thừa sai’ là người được sai đi để làm sứ mạng).
Đó là nền tảng tầm nhìn sứ mạng của Vaticanô II. Nó hàm nghĩa rằng lý
do hiện hữu của Giáo Hội là sứ mạng, rằng vì có sứ mạng mới có Giáo
Hội, chứ không ngược lại. Không phải Giáo Hội có sẵn đó, rồi sứ mạng
là một cái gì thêm vào sau (như kiểu có một nhóm người hơi rảnh, rồi
mới tìm việc chi đó để làm cho qua thời giờ!) Giáo Hội được định hướng
bởi sứ mạng. Vì thế, tất cả đời
sống Giáo Hội - cơ chế, nhân sự, cơ sở, tổ chức, sinh hoạt, đào tạo,
phụng vụ... - phải hướng về và phục vụ cho sứ mạng. Giáo Hội sơ khai,
trong giai đoạn nguyên sơ nhất, nào có gì đâu, trừ một bầu khí sục sôi
sứ mạng? Và chính từ sứ mạng đang diễn tiến đó mà Giáo Hội nhận ra các
nhu cầu về cơ chế, tổ chức, luật lệ, lễ nghi…, kể cả nhu cầu làm thần
học. Quả thật, “sứ mạng là mẹ của mọi khoa thần học” hay “mọi
thần học đều phải có nền tảng sứ mạng học” – nghĩa là việc dạy và
học tín lý, luân lý, giáo luật, phụng vụ, mục vụ, vv… tất cả đều cần
phải được dạy và học trong định hướng sứ mạng!
Tầm nhìn sứ mạng của
Vaticanô II nói trên đã thúc đẩy rất nhiều sự duyệt xét lại về nguồn
gốc, về mục đích, về ý nghĩa, về tác nhân, về phương thức và về động
lực của sứ mạng Kitô giáo. Đã có các cố gắng làm sáng tỏ hơn để nhận
hiểu tốt hơn về Phép Rửa, về ơn cứu độ, về vai trò của Giáo Hội và về
Nước Thiên Chúa. Người ta thấy cần phải trở về với chính sứ mạng
của Thiên Chúa (missio Dei) như được Đức Giêsu thể hiện trong các
Sách Tin Mừng, để xác nhận thật rõ sứ mạng Kitô giáo là gì và bao hàm
gì. Người ta mổ xẻ lại những vấn đề ‘nhạy cảm’ như: phải chăng ngoài
Giáo Hội không có ơn cứu độ, phải chăng Giáo Hội đồng nhất với Nước
Thiên Chúa, phải chăng việc của các môn đệ Đức Kitô chỉ là trồng
Giáo Hội và cứu linh hồn…
EVANGELII NUNTIANDI
VÀ REDEMPTORIS MISSIO
Kể từ Vaticanô II cho tới
nay, giáo huấn quan trọng bậc nhất của Giáo Hội Công Giáo về sứ mạng
là Tông Huấn Evangelii Nuntiandi của Đức Phaolô VI và Thông
Điệp Redemptoris Missio của Đức Gioan Phaolô II. Hai vị giáo
hoàng đã không chỉ khai triển khía cạnh ‘cái gì’ và ‘tại
sao’ của sứ mạng, mà nhất là các ngài đã hữu ý đề cập sâu rộng đến
khía cạnh ‘thế nào’ của sứ mạng Kitô giáo trong thế giới ngày
nay. Theo Đức Phaolô VI, sứ mạng, hay loan báo Tin Mừng, là “đem
Tin Mừng đến cho mọi người, mọi cơ cấu, để chuyển hoá và đổi mới nhân
loại từ bên trong;” và ngài nêu rõ rằng phương thức đệ nhất để làm
sứ mạng là trình bày chứng tá đời sống Kitô giáo đích thực. Đức
Gioan Phaolô II cũng xác nhận tầm quan trọng này của chứng tá và nhấn
mạnh rằng đó là những chứng tá trong phục vụ con người, trong hội nhập
văn hoá và trong đối thoại với anh chị em thuộc các niềm tin khác.
Ở Việt Nam, có vẻ vì hoàn
cảnh, âm vang của cả Evangelii Nuntiandi lẫn Redemptoris
Missio đều khá nhạt mờ. Evangelii Nuntiandi được ban hành
năm 1975, vào lúc mà Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến và Giáo Hội tại
đây thấy mình ở giữa bao ngổn ngang và đang đối mặt với trập trùng
sóng gió. Thời điểm của Redemptoris Missio tuy đỡ hơn (1990),
vì lúc này nhà nước đã rục rịch ‘đổi mới’, nhưng cũng phải nhận rằng
thông điệp này cũng không được người Công Giáo Việt Nam chú ý cho đúng
mức.
ECCLESIA IN ASIA
Thực ra, các giám mục FABC
(Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu) đã đi trước cả Evangelii
Nuntiandi và Redemptoris Missio trong việc xây dựng một tầm
nhìn sứ mạng cho Giáo Hội tại lục địa này theo hướng đối thoại và
chứng tá. Các ngài không chỉ đi trước, mà còn đi liên tục (từ 1970 đến
nay) và đi rất kỹ nữa. Đến với Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu hồi năm
1998, các giám mục FABC đã không nói điều gì mới mẻ, mà chỉ nói lại
những gì các ngài đã cùng nhau đào sâu suy tư, cầu nguyện và nhận định
ngót 30 năm. Tông Huấn Ecclesia in Asia - được Đức Gioan Phaolô
II ban hành năm sau đó - là kết quả của thượng hội đồng này.
Tuy bản văn Ecclesia in
Asia có những thêm bớt (so với Bản Đề Nghị) gây phiền lòng
ít nhiều cho các giám mục FABC, nhưng xét chung nó phản ảnh được những
nét chính trong tầm nhìn sứ mạng của các ngài. Ecclesia in Asia
cổ võ việc ưu tiên chọn lựa người nghèo, việc hội nhập văn hoá và đối
thoại với các tôn giáo. Tông Huấn cũng xác nhận tầm quan trọng hàng
đầu của chứng tá đời sống; đặc biệt, bản văn có dành một đoạn đề cao
các Cộng Đoàn Giáo Hội Cơ Bản, mô hình từng được FABC gọi là “một
cách thế mới để thể hiện Giáo Hội.” Ecclesia in Asia ngay
lập tức được đưa vào các giáo trình sứ mạng học tại các học viện thần
học ở Á Châu. Tại Việt Nam, tông huấn này có dấy lên được một phong
trào học tập vào khoảng thời gian Năm Thánh 2000, nhưng sau đó thì ít
được nghe nói đến nữa. Năm 2004, Jonathan Yun-ka Tan - giáo sư thần
học người Malaysia gốc Hoa, giảng dạy tại Đại Học Công Giáo Washington
- đã xuất bản một khảo luận nổi tiếng tổng hợp tầm nhìn sứ mạng của
FABC. Ông gọi đó là tầm nhìn “missio inter gentes” (đối
lập với ‘ad gentes’!) và ghi nhận rằng đó là một kiểu
thức mới của thần học sứ mạng.
TẦM NHÌN SỨ MẠNG CỦA CÁC
GIÁM MỤC VIỆT NAM
Giáo Hội tại Việt Nam suốt
một thời gian dài bị ‘cách ly’ với Giáo Hội hoàn vũ và cả với khu vực.
Thế nhưng, thật thú vị là các giám mục Việt Nam, ngay từ cuối thập
niên 1990, đã tỏ ra rất ‘đồng thanh tương ứng’ với tầm nhìn sứ mạng
‘inter gentes’ của FABC. Trong Bản Trả Lời cho Lineamenta
chuẩn bị Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu 1998, các giám mục Việt Nam
viết:
“Chỉ một Giáo Hội nghèo
mới có thể dấn thân vào đại dương những người nghèo. Một Giáo Hội
khiêm tốn và bé nhỏ sẽ dễ dàng hơn để hoà đồng với đa số người nghèo ở
Á Châu. Một Giáo Hội không có quyền lực sẽ dễ gần gũi số đông những
người chỉ mơ ước được làm người, được cơm no áo ấm, được học hành và
có việc làm…
“… Đã đến lúc cần sáng
tạo ra những ‘mô hình’ mới của Giáo Hội như là những cộng đồng nhỏ bé,
dễ hòa mình vào xã hội của người nghèo: những cộng đồng nghèo hơn, ít
bề thế, ít cồng kềnh, khiến người ta không còn e dè sợ hãi khi tiếp
cận, gặp gỡ, những cộng đồng mở rộng hơn là khép kín. Sau cùng đó là
những cộng đồng quan tâm nhiều hơn đến đời sống toàn diện của con
người, không chỉ khép kín trong đời sống thuần túy tôn giáo, nghĩa là
trong việc cử hành bí tích hay phụng vụ, mà còn dấn thân trực
tiếp vào việc cải thiện đời sống vật chất, nâng cao văn hóa và giáo
dục cho người dân, nhất là những người nghèo…
“… Đức Giêsu đã không
rao giảng Tin Mừng chỉ bằng lời nói, mà Tin Mừng của Ngài là ‘người mù
được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, và
người chết chỗi dậy.’”
Vẫn trong Bản Trả Lời
trên, các giám mục Việt Nam xác nhận cách thức loan báo Tin Mừng tại
Giáo Hội địa phương mình:
“Giáo Hội Việt Nam quan
niệm loan báo Tin Mừng trước hết là chia sẻ đời sống… Chúng tôi muốn
chia sẻ với các Giáo Hội địa phương khác về tầm nhìn sứ mạng của chúng
tôi và về cách thức loan báo Tin Mừng mà chúng tôi lựa chọn. Đó là,
không tìm cách thuyết phục, tuyên truyền, càng không phải là chinh
phục kéo cho được đông người ‘vào’ Ðạo, nhưng trái lại là đi đến với
mọi người (x. Mt 28,19) làm người với mọi người (x. Ga 1,14), trong tư
cách là nhân chứng của Chúa Kitô, hiện thân tình yêu của Cha trên trời.”
THAY LỜI KẾT
Tầm nhìn sứ mạng trên đây
của các mục tử Giáo Hội Việt Nam đã hiện ra trên giấy trắng mực đen
cách đây hơn 10 năm, thiết tưởng rằng tầm nhìn đó vẫn còn hoàn toàn
thích đáng cho ngày hôm nay, khi cộng đoàn Dân Chúa ở đây bước vào
cuộc cử hành Năm Thánh 2010. Ước mong rằng vẫn tầm nhìn ấy sẽ được đặt
ở vị trí nền móng, định hướng cho mọi chương trình và kế hoạch của
Giáo Hội địa phương. Càng có nhiều người hơn, nhất là các linh mục,
chia sẻ tầm nhìn này của các giám mục, sẽ càng bớt đi những sự khác
biệt không cần thiết, và sẽ càng có nhiều triển vọng hơn cho sứ
mạng loan báo Tin Mừng trên quê hương thân yêu này.
Lm. Lê Công Đức
