MLCN Ý Kiến
Thành Viên Audio
Hìnhnh  Vui Cười
Lời Chứng CácTácGiả
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu Sản Phẩm
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu T Viện Lưu Bút
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GĐThắcMắc Bác Ái
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHosting Nối Kết
 

Người Phụ Nữ Ngoại Tình
TIN MỪNG THEO THÁNH GIOAN
CHƯƠNG VIII
***

2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ.

3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa,

4 rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.

5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? "

6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.

7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi."

8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.

9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa.

10 Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? "

11Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giê-su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! "

* *

Tích Truyện này có gì lạ ?

           Ở Gioan chương VI, lớp Kinh Thánh chúng ta đã học hỏi về những ân huệ ta lãnh nhận từ Chúa Giêsu, đó là: Lời Chúa và Mình Máu Thánh từ đó vọt ra cho ta những dòng sông Sự Sống Thần Linh (Ga 7.38-39), Các Ân Huệ, những Đặc sủng và Hoa quả của Thần Khí Thiên Chúa giúp Kitô hữu chúng ta sống tốt lành thánh thiện hơn.

            Với chương VIII đây, qua vụ án Thiếu Phụ Ngoại Tình, chúng ta được vinh hạnh nhìn lên chiêm ngưỡng chính Đấng Ban ƠnChúa Giêsu Kitô, đặc biệt qua thái độ nào đối với tội nhân ;

            Một vị vua nghiêm khắc nhìn xuống kẻ phạm tội để ra phán quyết kết án? Hay Người là một Vị Thẩm Phán khoan dung hay xót thương người?

            Chúng ta có cơ hội nhìn xem một vở bi hài kịch gay cấn đến chết người: Một phụ nữ ngoại tình lại bị bắt quả tang mà theo luật Môsê truyền thì sẽ bị ném đá cho đến chết, một cái chết thê thảm đến rợn người.

            Cái chết người là các Kinh sư và người Pha-ri-sêu chủ ý đưa Chúa Giêsu vào cái bẫy giăng sẵn để rồi Người có thể sa chân mà trở thành một tội nhân thứ hai, bên cạnh người đàn bà ngoại tình. Họ nói với Người:

            -"Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (Ga 8,4).

            Thật là một cái móc câu hiểm hóc được bọc bởi câu hỏi ý kiến tưởng như tôn trọng Vị Sư Phụ trứ danh đương thời. Nếu "Chúa Giêsu giải quyết tha thứ, Người ở trong thế đối đầu với Lề Luật, Người sẽ bị cáo là vi phạm Lề Luật. Nếu Người truyền ném đá thì có nghĩa người đã chiếm quyền ra án tử hình chỉ dành cho người Rôma, Người sẽ bị rắc rối". Nguy hiểm nhất là "nếu Người truyền ném đá, nghiêng theo Lề Luật, Người liều mình chối bỏ các lời giảng dạy về cứu độ, giải phóng và thái độ xót thương người tội lỗi mà Ngừơi hằng rao giảng." Tất cả công cuộc cứu độ của Người sẽ sụp đổ tan tành! (Xem Đọc TM T.Yoan, Tập III, Bánh Trường Sinh Bất Tử, tr.449, của Lm. Phêrô Hoàng Minh Tuấn)

            Chúa Giêsu ở trong thế tiến thoái lưỡng nan và chúng ta nín thở đợi chờ Người sẽ thoát ra khỏi cái bẫy độc ác ấy bằng cách nào?

            Chúa Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất; và khi thấy họ ráo riết thúc bách, Người ngẩng lên và bảo họ:

            -"Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." (Ga 8,7)

            Nét hài mỉa mai của vở bi hài kịch là đây, là "gậy ông lại đập lưng ông". Ông giơ gậy ra định hại người nhưng bất ngờ đến choáng váng, bủn rủn, đau đớn... gậy ấy trở đầu lại mà phang vào chính ông một đòn chí tử ! Thế là "Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi." (Ga 8,9). Chúng ta dường như nghe tiếng cười rộ lên với nhiều ý nghĩa của dân chúng ở đó: tiếng cười thở phào vì Sư Phụ thoát hiểm, tiếng cười mỉa mai hay tiếng cười thỏa mãn trước chiến thắng hiển hách của Thầy mình.

            Bởi Lòng Yêu Thương loài người vô bờ bến và với Trí Tuệ siêu phàm, Vị Sư Phụ lạ thường ấy đã cứu nguy người phụ nữ "một bàn thua trông thấy" chỉ bằng một câu nói nhân từ đầy ý nghĩa, đáp lại một câu hỏi độc bọc đường của những trái tim người đầy mũi gai hiểm độc.

            Từ cổ chí kim, có thể có được Lời Giải Đáp độc đáo như Lời của Người hay không?

            -"Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi."

Chúa Giêsu,

Đấng Giải Thóat

Trước những đôi mắt kết án của thế gian, người phụ nữ ngọai tình là kẻ tử tội bị dìm vào bờ vực thẳm của sự chết không lối thóat nếu không có sự xuất hiện của Chúa Giêsu. Hiển nhiên, Người là Đấng Cứu Thóat đồng thời là nhà Cách Mạng xã hội vĩ đại, không chỉ đến để giải thoát người nô lệ tội lỗi mà còn giải phóng những bất công xã hội. Trước tiên là việc giải thóat người phụ nữ khỏi những kỳ thị, áp bức bất công... mà nam giới trói buộc vào cuộc đời họ đã từ bao đời nay.

            Ở đất nước Chúa Giêsu, thái độ kỳ thị ấy bộc lộ ra, qua lời người đàn ông Do Thái trong kinh nguyện thường mừng rỡ tạ ơn:

-"Cám ơn Giavê đã dựng nên tôi không phải là kẻ ngoại tội lỗi, cũng không là đàn bà..."

            Đối với họ, phụ nữ chỉ là để sinh đẻ con cái, và bị liệt vào chung với hàng hóa hay là loài gia súc. Một thí dụ : người ta kê trong danh sách những của cải của người đàn ông có, thì nào là: nhà cửa, đất đai, bò, lừa chiên cừu và cuối cùng là vợ. Và chuyện rẫy vợ là điều hết sức bình thường, chỉ cần người đàn ông thấy vợ có gì đó không vừa ý, có khi chẳng cấn là lớn lao trầm trọng gì (Mt 19.3).

            Ở rất nhiều nơi khác, khi chồng chết, buộc các người vợ phải chết theo chồng để hầu hạ ông ấy bên kia thế giới... Còn nhẫn tâm hơn nữa, người ta lùng bắt các trinh nữ làm lễ vật hy sinh cho các vị thần họ tưởng tượng ra, và ghê rợn hơn nữa là cho cả loài quái vật.

            Còn ở nước ta, đến thế kỷ 18-19 vẫn còn hàng ngàn cung phi, mỹ nữ bị nhốt trong hậu cung, uổng mất cả một thời xuân xanh, chỉ để ở đó chờ phục dịch “sinh lý” của một ông vua. Ngòai dân gian lại có tục “Thất xuất”, nghĩa là có bảy điều khiến người vợ bị đuổi khỏi nhà chồng: Ví dụ, không có con, không nết na, bất kính với mẹ chồng v.v…. Mà chúng ta biết, thời xưa phụ nữ không được đi học, chẳng được học chữ cũng như học nghề, cuộc sống hoàn tòan phụ thuộc vào đàn ông, bằng kỷ cương “Tam tòng”: “nhỏ theo cha, lớn theo chồng, chồng chết theo con”, [1] vì ngòai việc bếp núc ra, họ chẳng có một nghề gì trong tay, cho nên khi bị đuổi ra khỏi nhà chồng, bị quăng ra ngòai xã hội là chỉ có nước mà chết đói hoặc phải bán mình làm gái lầu xanh

Chính vụ án "Người phụ nữ ngoại tình" đã tố cáo chế độ bất công áp bức đó: Rõ ràng là khi phạm tội ngoại tình, người ta không thể đơn độc ngoại tình, vậy người đàn ông ngọai tình kia ở đâu mà chỉ có người phụ nữ bị bắt và bị điệu ra kết án ném đá chết? Một sự áp bức, bất công rõ ràng mà người ta có mắt mà cố "giả mù không thấy".

Trong khi tầng lớp áp bức cứ muốn ưu tiên cho mình phán quyết những điều bất công, phi lý thì Chúa Giêsu là Đấng Chí Công đã nhắc lại sự công bằng, sự bình quyền giữa nam và nữ được Thiên Chúa thiết lập ngay từ thuở ban đầu:

-"3 Có mấy người Pha-ri-sêu đến gần ChúaGiê-su để thử Người. Họ nói: "Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?

"4 Người đáp: "Các ông không đọc thấy điều này sao: "Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ", 5 và Người đã phán: "Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt."

6 Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. [2] Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly."

7 Họ thưa với Người: "Thế sao ông Mô-sê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?"      

8 Người bảo họ: "Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. 9 Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình."

Chúa Giêsu tuyến bố nam nữ bình quyền. Đó là điều từ thuở tạo dựng lòai người Thiên Chúa đã muốn như thế, song do lòng dạ ích kỷ và bất công, người ta đã lơ bỏ. Nay Chúa Giêsu đến lập lại quyền nam nữ bình đẳng.

Và hệ lụy trước tiên của sự bình quyền ấy là không còn có chuyện trọng nam khinh nữ, “nam viết hữu, nữ viết vô”, một ông có giá trị bằng nhiều bà, nên lấy mấy bà cũng được. Người phụ nữ chân yếu tay mềm, dù dốt nát, vô học… nhưng trước mặt Thiên Chúa họ vẫn là một con người. Như thế, người phụ nữ bình quyền và giá trị như người nam.

Kế đến, trong hôn nhân, nam nữ kết hợp với nhau là nên “Một Xương Một Thịt”, “Một vợ một chồng”, không còn là hai mà chỉ còn là một. Do đó, không thể rẫy bỏ vợ vô tội vạ: tức là không được ly dị.

Cuộc đời người phụ nữ vốn phận “liễu yếu đào tơ”, trong thế giới tối tăm của bất công, tàn bạo luôn luôn bị kẻ mạnh hiếp đáp. Nhưng hồng phúc thay, họ đã được Ánh Sáng của Vị Thẩm Phán Tối Cao bừng lên chiếu rọi và đem trả cho họ nhân phẩm đích thực.

            Theo chân Chúa Giêsu, từ Giáo Hội tiên khởi trở về sau, các môn đệ của Người – cách riêng các Đức Giáo Chủ thời gần đây – vẫn trung thành đem Tin Mừng và văn hóa mà mình lãnh hội được, để khai hóa nền văn minh thế giới, đánh đổ những hủ tục để phục hồi nhân phẩm, giá trị đích thực cho con người, nhất là cho giới phụ nữ.

            Giáo Hội vẫn luôn là "ánh sáng thế gian" của Chúa Giêsu chiếu rọi vào tận cùng những số phận bất hạnh đang bị chôn vùi trong nơi tăm tối. Chúa Giêsu qua Giáo Hội luôn luôn chống lại những gì làm cho thế giới suy thoái, đổ nát.

            Một khi hiểu biết và cảm nghiệm được tình yêu của Đấng Giải Thoát, giới phụ nữ hơn ai hết, phải quí trọng và yêu mến Chúa Giêsu biết bao, phải dâng lên Người những tâm tình sâu lắng và thiết tha như người phụ nữ ở Bêtania:

            -"Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mà lau..."(Ga 12,3)

            Chúa Giêsu vĩ đại, cao cả, đáng khâm phục và yêu mến không chỉ vì lòng nhân từ, đạo đức mà còn vì Người chính là Nguồn Gốc của nền văn minh thế giới, chỉ cần lấy một ví dụ làm điển hình : Công cuộc giải thoát phụ nữ khỏi tình trạng nô lệ đau khổ, cay đắng, uất ức bao ngàn năm nay, để họ phải ghi lòng tạc dạ mãi mãi muôn đời tri ân.

            Nói chung, Chúa Giêsu đã đến để kiện toàn Lề Luật, để đem lại công bằng cho người bị áp bức, đem tình yêu đến để xóa đi hận thù, giải thoát loài người khỏi tội lỗi và ban Ơn Cứu Độ để họ được nhẹ nhàng bay lên Vương Quốc Thiên Chúa, nơi chỉ có duy nhất Ánh Sáng của Tình Yêu Vĩnh Cửu.

            -"Tôi là Ánh Sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống."

(Ga 8,12)

***

Chúa Giêsu,

Đấng Cứu Độ

            Trở lại với truyện người phụ nữ ngọai tình. Qua cách ứng xử của Chúa Giêsu trong truyện này, như đã xem trên, chúng ta thấy rõ, người Do thái muốn gài bẫy Người, để nếu Người kết án tử cho chị ta, thì tất cả sứ mệnh cứu độ của Người sẽ đổ sụp, Nhưng thật là tài tình, Người đã vượt thóat được cạm bẫy đó, hơn nữa Người còn bày tỏ ra cách xán lạn : Người đến "không phải để lên án thế gian" mà để cứu thóat:

            -"Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ." (Ga 3,17)

            Bằng chứng là Chúa đã nói với người phụ nữ ngoại tình:

            -"Ta cũng vậy, Ta không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa." (Ga 8,11)

            "Ông Quan Tòa" này thật là lạ: không lên án, xét xử người có tội mà bảo người ấy cứ về đi chỉ với "một điều kiện" đầy tình người và nói ân cần như một lời khuyên:

            -"...và từ nay đừng phạm tội nữa!"

            Cứ như Lời Vị Thẩm Phán ấy, thì thế gian này sẽ không có ngục tù hay có thì cũng trống rỗng, hoang phế.

            Chúa Giêsu đã cứu người phụ nữ khỏi cái chết phần xác và hướng dẫn chị thoát khỏi cái chết phần hồn gây nên bởi tội lỗi: Người không "đội trời chung" với tội lỗi nhưng lại hết lòng cứu thoát tội nhân vì Người tin vào Thiên Chúa và vào khả năng hoán cải của con người.

            Hơn ai hết, Chúa Giêsu có đủ tư cách để cáo tội vì Người là Đấng duy nhất không hề có tội (x. Ga 8,46), và đủ thẩm quyền để xử tội vì Người thật là Thẩm phán uy linh Cha đã đặt lên (Ga 5,22-23.27), Thế mà là quan tòa, Người lại không kết án. Ngôn sứ Ezêkien (33.11), từ nhiều thế kỷ trước đã cho thấy tấm lòng của Thiên Chúa :

            “Ngươi hãy nói với chúng :Ta lấy mạng sống Ta mà thề -  sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng -  Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống. Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các ngươi mà trở lại. Sao các ngươi lại muốn chết, hởi nhà Ít-ra-en ?”.

            Lời tuyên bố trên vẫn còn là lời nói xa vời qua miệng một ngôn sứ thời xa xưa ... Còn ở đây, Chúa Giêsu là hiện thân bằng xương bằng thịt của vị Thiên Chúa ấy, Người chính là khuôn mặt hữu hình của vị Thiên Chúa vô hình, Người đã đến trần gian “không để xử án…nhưng để nhờ Người mà thế gian được cứu” (Ga 3.17), vì thế Người nói:

            “Không... Ta cũng không xử tội chị đâu ! Đi đi ! Và từ nay đừng phạm tội nữa!”

            Chúa Giêsu không muốn chị chết, nhưng khuyên chị từ nay hãy bỏ con đường sự tội mà trở lại và được sống.

            Người quả thật là Đấng Cứu độ ! Cứu cả xác lẫn hồn !

            Chúa nhật 28-3-93, đài Truyền hình TP.HCM có chiếu lại cuốn phim “Badis”, kể chuyện một cô gái sống trong một làng hẻo lánh còn giữ hủ tục áp chế khắc nghiệt với phụ nữ. Cô gái mới lớn, lại có nhan sắc mặn mà, nên nhiều người đàn ông có vợ rồi mà vẫn còn mưu mô chiếm đoạt. Cô có yêu một quân nhân trẻ tuổi, từ một đồn xa thường đến múc nước cho trại lính tại cái giếng độc nhất của làng. Vì ganh tức, người ta đã vu cáo và đuổi anh lính đi xa. Được thư chàng trai, cô gái cùng với vợ của một người giáo viên, cũng chịu hết nổi ông chồng áp chế quá quắt, dắt nhau bỏ trốn. Bị bắt lại, người ta đã ném đá chết cả hai phụ nữ này. Và người cầm viên đá đầu tiên lại chính là mụ chủ quán lắm chuyện, hơn nữa lại ngoại tình với ông trưởng ty bưu điện, vậy mà mụ này đã không tự thẹn với lương tâm !

Xem xong truyện phim, khi cô gái đã gục chết dưới lằn đá, người xem buồn bã nghĩ: “Giá có Chúa Giêsu ở đó !”

Sách Khôn ngoan (thế kỷ II tr. CN, sau Ezêkien vài trăm năm) cũng khẳng định cái chí hướng cứu sống của Thiên Chúa:

“Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất hủy hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu”(Kn 1.13-14).

Nói riêng về con người, sách ấy tiếp:

Quả thế, Thiên Chúa sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (là Đấng Trường Sinh Bất Tử) (Kn 2.23).

Và đấy là lý do khiến Thiên Chúa muốn chúng được sống, được tồn tại:

“Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên.” (Kn 11.24).

Quả thế ai có thể ghét bỏ công trình tay mình làm ra? “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta chũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Ys 49.15).

Cho nên “Với mọi vật Người xử khoan dung, (vì Người là) Chúa Tể hiếu sinh không hiếu sát.

“Lạy Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa” (Kn 11.2).

Muốn cứu sống họ thì Người làm thế nào?

Quả vậy, lạy Đức Chúa, sinh khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài muôn vật.

Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa”(Kn 12.1-2).

Và đến thời viên mãn Tân Ước, chúng ta được biết là để con người khỏi bị hư vong, Thiên Chúa đã sai Con Một xuống cứu :

“Thiên Chúa yêu thế gian đền nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3.16).

Như vậy, cái chí hướng của Thiên Chúa là làm cho sống, cho tồn tại, không để cho chết. Và phải làm hết sức để cứu khỏi chết. Do đó, qua tiên tri Ezêkien Thiên Chúa kêu gọi dân Israen:

“Hãy trở lại, bỏ mọi điều ngụy nghịch... Hãy tạo cho mình một tấm lòng mới, một thần khí mới ! Tại sao các ngươi lại muốn chết?...” (Ez 18.30t; 33.10-11).

Qua đó ta thấy người có tội thì bởi tội, họ đáng chết, song Thiên Chúa kêu gọi bỏ tội để sống:

“Ngươi hãy nói với chúng: “Ta lấy mạng sống Ta mà thề ! Sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng, Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết (tuy tội nó đáng chết), nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống. Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các ngươi mà trở lại. Sao các ngươi lại muốn chết hỡi nhà Ít-ra-en “? (Ez 33.11).

Như thế ta thấy rõ phán quyết của Thiên Chúa trên kẻ tội lỗi: “Chắc chắn ngươi phải chết...” (Ez 33.14), nhưng cũng lại thấy Thiên Chúa tạo kẽ hở cho sự ăn năn, tạo cơ hội và thời giờ cho sự sám hối, cho nên có lời phán tiếp: “...nhưng nếu nó từ bỏ tội lỗi mà trở lại và thực hành điều công minh chính trực... thì chắc chắn nó sẽ được sống và không phải chết. Mọi tội lỗi nó đã phạm, người ta sẽ không còn nhớ đến nữa, nó đã thi hành lẽ công minh, nó sẽ được sống” (Ed 33.14-16).

            Người Biệt Phái thời Chúa Giêsu dù đã được nghe lời Ezêkien 18 và lời sách Khôn Ngoan nói trên, mà họ vẫn không hiểu và bước theo cái chí hướng ấy. Do đó, người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang này, phải trừng trị nó theo luật pháp Cựu Ước, là tội đáng ném đá chết. Họ không cho chị ta cơ hội và thời giờ để ăn năn trở lại, làm lại cuộc đời: chết rồi làm sao còn cơ hội để làm lại cuộc đời? Trái lại, ĐY đã đến thi hành đến cùng cái chí hướng nói trên của Thiên Chúa, bẻ gãy lối hành xử pháp trị, mà Người xét nó chỉ cần thiết cho một hoàn cảnh và một thời đại nào đó... thời đại bán khai, khi con người sống tập đoàn, thì tội của một người, làm gương xấu, bị coi như một sự hư thối, cần cắt bỏ để khỏi lây lan sang toàn cộng đồng.

            Nhưng nay, với Chúa Giêsu, thời đại mới đã đến... thời viên mãn ! Thời Thiên Chúa trong bản thân Chúa Giêsu đã đi đến cùng cái chí hướng cứu sống của Thiên Chúa :

            “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai (dù là kẻ tội lỗi đến đâu) tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3.16).

            “Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây – giờ các kẻ chết (vì phạm tội) nghe tiếng Con Thiên Chúa, ai nghe thì sẽ được sống” (Ga 5.25; x. 11.25).

            “Chính Thầy là sự Sống lại và sự Sống. Ai tin vào Thấy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)

            Và đây là điểm cốt lõi của sứ mệnh đến thế gian đó:

 “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3.17).

Cứu không chỉ cái gì bị bệnh mà cả “những gì đã hư đi” (Lc 19.10). Chúa Giêsu đã làm đúng sứ mệnh Cha sai khi Người nói với thiếu phụ ngoại tình:

Ta cũng không xử tội chị đâu ! Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (8.11).

“Chúa Giêsu cho chị cơ hội làm lại cuộc đời..., để hồi đầu trở lại mà được cứu sống. Quả thật, Chúa Giêsu có lòng tin vào khả năng có thể hoán cải, biến đổi của con người !” (Trích cuốn Đọc Tin Mừng theo Yoan, của Ph. H.M.Tuấn, Tập III, tr. 459-62).

Vấn nạn :

Sứ mệnh của Chúa Giêsu là CỨU chứ không phải là PHÁN XÉT, thế thì sao có lúc lại thấy Người nói : “Chính để PHÁN XÉT mà Ta đến trong thế gian” (Ga 9,39) ? Có sự mâu thuẫn ở đây chăng ?

Đáp : Chúa Giêsu đến với sứ mạng Cứu, và Ngài sẽ luôn mãi cho đến cùng là Đấng Cứu, chứ không phải Đấng kết án. Còn khi Ngài nói: Ngài đến để phán xét, thì từ "phán xét" ở đây có nghĩa là "phân tách" ra đôi bên, trắng đen, lành dữ, chứ không có nghĩa là “kết án”. Nói khác đi, do sự xuất hiện của Chúa Giêsu, lòai người sẽ phân ra thành hai phe tách biệt, “phe theo” hoặc “phe chống” Người. Và “phân tách” ra hai như thế gọi là “PHÁN XÉT”. Vậy đừng lầm "phán xét" với "kết án". Ta sẽ hiểu dễ dàng qua đọan Tin Mừng vừa rồi:

“Chính để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì được thấy, và kẻ thấy được lại hóa đui mù” (Ga 9.39).

Rõ ràng là sự kiện Người đến trong thế gian phân tách lòai người ra hai phe: Phe được thấy và phe hóa mù. Đây một đọan nữa: Sự sáng (là Chúa Giêsu) đã đến trong thế gian, nhưng có người thì yêu chuộng tối tăm và ghét sự sáng, còn kẻ khác thì lại đến với sự sáng (Ga 3.19-21).

            Về sứ mạng cứu sống của Chúa Giêsu thì không kể những đọan khác đã nêu trên, điều đó còn được minh chứng trong việc truyền tin cho thánh Giuse, Thiên thần đã nói:

“Ông sẽ đặt tên cho Hài nhi là Giêsu, vì Người là Đấng cứu dân Người khỏi tội lỗi” (Mt 1,21).

Tên “Giêsu” có nghĩa là Thiên Chúa cứu, tên ấy được chỉ định từ trời cho thánh Giuse để đặt cho Chúa Hài nhi, tên ấy chỉ định sứ mạng của Ngừơi là để cứu, vậy thì làm sao Người có thể đi ngược sứ mạng mà kết án chết cho người ta ? Vì thế, cho đến cả thời chung thẩm, Người cũng không kết án chết cho ai cả. Nhưng Người sẽ thi hành "phán xét", đúng, nhưng là "phân tách", "tách biệt" làm hai bên. Bên lành và bên dữ, bên được phúc và bên bất hạnh. Ta hãy xem Thánh sử Matthêu dàn cảnh cuộc phán xét chung, sẽ thấy ngay điều ấy :

                31 "Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người.

            32 Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê.

            33 Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

34 Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. (Mt 25,31)

                Rồi với những người ở bên trái, Đức Vua bảo họ đi vào lủa đời đời là nơi dành sẵn cho những kẻ không có lòng yêu thương. Trước khi Người nói ra phán quyết, thì họ đã đựoc tách biệt ra hai phe, kẻ ở bên trái, người ở bên phải, tức là số phận của họ đã được minh định bởi thái độ sống của họ khi ở trần gian. Lời tuyên bố của Đức Vua chỉ là bảo họ đi vào hai nơi đã “dọn sẵn”, “dành sẵn” cho họ. Ngừơi chẳng kết án chết cho ai cả. Thiên Chúa yêu thương thế gian và ban trọn vẹn tình yêu của Ngài qua Chúa Giêsu. Vì thế Ngài chẳng hề là Đấng Kết Án bao giờ.

Vậy ai là người kết án ?

Đúng hơn có một sự kết án, đó là loài người tự kết án mình, hay nói dễ nghe hơn “tự chuốc lấy kết án”, vậy có thể nói là một “kết án tự động” : khi người ta không tin vào Thiên Chúa, không tin vào Con của Ngài, thì lập tức bị kết án, chẳng cần tòa án, chẳng cần công tố viên, hay trạng sự… Phán xét và kết án như thế thì thật sự đã có ở ngay thời gian sống hiện tại của chúng ta. Đọc đọan Tin Mừng Gioan sau đây sẽ thấy :

            16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để kết án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị kết án; nhưng kẻ không tin, thì bị kết án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

19 Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, … Còn ai làm sự thật thì đến với sư sáng…” (Ga 3,16-21).

Ánh sáng đến chiếu soi, mà từ chối không nhận ánh sáng thì đương nhiên ở lại trong tối tăm - biểu tượng của sự bất hạnh – tự mình chuốc lấy, chẳng ai đầy ải mình xuống đó cả, đơn giản có thế thôi.

***

PHẦN II 

Chiêm Ngắm Chúa Giêsu,
và nhìn lại đời mình

            “Tri, mộ, hành” là tôn chỉ lớp Thánh Kinh này. Chúng ta phải học hỏi, chiêm ngắm Chúa mới thấy Người đáng yêu đáng mến, đáng quí trọng biết bao và khi chúng ta đã yêu mến thì tự nhiên sẽ biết cách đáp trả, đền đáp lại công ơn ấy, tình yêu ấy. Và một cách đáp trả tốt nhất là sống yêu thương, khoan dung, tha thứ theo gương Chúa.

            Trong Tin Mừng theo thánh Gioan chương 8, không những chúng ta có cơ hội chiêm ngắm Con Người Giêsu mà còn hiểu được chính tâm sự của Người. Chúa chẳng hề lên án ai nhưng Người khoan dung, nhân hậu luôn cứu giúp tội nhân.

            Kể từ khi loài người bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen mang theo tội lỗi của mình thì những điều xấu xa, những tính hư tật xấu do tội lỗi đó mang lại như dính kết vào người làm một tưởng như hết thuốc chữa. Nhưng đối với Con-Thiên-Chúa- làm-người, thì không gì là khó cả.

            Trường hợp ông trưởng ty thu thuế Da-kêu, đối với người Do-thái, ông là người tội lỗi đáng bị phỉ nhổ và lên án vì đã từ chối làm dân của Chúa để làm tôi cho đế quốc La-mã ngọai đạo thờ tà thần, chuyên lo hà lạm xách nhiễu dân mình, ăn bớt, ăn xén tiền thuế dân đóng… Nhưng Chúa Giêsu đã cư xử với ông như thế nào khi ông trèo lên cây để xem thấy Người, có thể chỉ vì một chút tò mò ? Chúa đã gọi ông như người thân thuộc:

            "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông !" (Lc 19,5).

Và khi ông tỏ lòng ăn năn, hoán cải qua việc chia sẻ, đền bù của cải thì Chúa liền ban ơn ngay:

            "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất." (Lc 19,9-10)

            Một quả dưa hấu hư thối, bị quăng vào sọt rác, mà cứu cho lành lại là chuyện không thể được.

"Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được." (Mt 19,26).

Và Chúa đã làm ông Da-kêu từ là một tên bán Chúa, bán nước, tội lỗi hư hỏng hòan tòan, nay lại trở thành con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Chúa có quyền năng thực hiện và thay đổi tất cả đúng như Lời Chúa nói.

            Vậy ta không nên nản lòng thất vọng về con người, cho dù tình trạng tội lỗi lớn lao đến cỡ nào. Nhiều người trong chúng ta đau khổ vì con cái cứng lòng, ấy là vì họ không có Lời Chúa soi sáng, nâng đỡ, và vì họ không hiểu biết Chúa cho đủ, nên không tin cậy vào quyền năng hóan cải của Chúa. Nếu Chúa có quyền năng làm cho hòn đá trở nên con cháu ông Áp-ra-ham thì Chúa cũng sẽ biến đổi con cái hư hỏng, không vâng lời trở nên con cái ngoan ngoãn, hiếu thảo của cha mẹ.

Còn chính bản thân ta, khi nhìn vào gương mẫu chị phụ nữ ngọai tình được Chúa cư xử nhân hậu, khoan dung; nhìn vào tích ông Da-kêu tên tội lỗi gộc hết thuốc chữa mà vẫn được Chúa Giêsu cứu vớt, rồi nhìn lại đời mình, ta thấy Chúa cũng cư xử với ta như vậy: khoan dung và nhân hậu. Khoan là chậm lại, dung là dung thứ, tha thứ. Được Chúa luôn tha thứ,  ta cảm thấy hết sức vui mừng.

Thế còn đối với đồng lọai, thường thì thái độ chúng ta thế nào ?     

Ngược lại với Chúa, thái độ chúng ta thường thiếu yêu thương và tha thứ.

Chúng ta, nhất là những người đạo đức, rất hay xét đoán, hay kết án người khác tỷ dụ như là: ông ấy, bà ấy gần nhà thờ mà không chịu đi dự Thánh Lễ, không chịu đọc kinh, cầu nguyện… mà không suy xét đến tâm trạng hay hoàn cảnh của người ta.

            Có thể vì không hiểu giá trị vô biên của Thánh Lễ mà họ không đến với Chúa mọi ngày ! Có ai được biếu vàng mà không mừng rỡ nhận lấy ? Cũng thế, có ai thấy được bao ý nghĩa, bao ân phúc trong Thánh Lễ mà còn có thể hờ hững, không đón nhận ?

            Đáng lẽ chúng ta nên cầu nguyện cho họ hoặc giả như có cơ hội thì chia sẻ với họ điều mình biết hay tặng cho họ những sách nói về ý nghĩa Thánh Lễ để họ có thể cảm nhận được giá trị cao cả, quí trọng của Thánh Lễ.

            Tôi tự hỏi vì sao những người được ơn ăn năn hóan cải lại hay “thổ lộ tâm tình” :

            -“Ngày xưa, tôi là người đạo gốc, đạo gốc vì hay ngồi gốc cây mà “xem Lễ”. Ngày xưa, tôi là người đạo dòng, đạo dòng vì cứ đi vòng vòng ngòai nhà thờ mà “nghe Lễ”. Bây giờ thì khác hẳn, tôi rất quí Thánh Lễ, ngày nào cũng dự Thánh Lễ sốt sắng và rất yêu mến Chúa Giêsu.”

Và lời than van của một vị linh mục phải chăng cũng là một trong nhiều cách giải đáp cho thắc mắc đó :

“Về học vấn ngòai đời, chúng ta học cấp I, cấp II rồi cấp III, lên Đại học, Cao học …nhưng về việc học giáo lý, đa số chỉ có kiến thức khai tâm vỡ lòng, kiểu hỏi đáp khi còn nhỏ. Chúng ta không tìm cơ hội để học thêm…”

            Còn về cầu nguyện, có thể họ không cầu nguyện vì họ không có ý thức về sự quan trọng của cầu nguyện. Họ không biết cầu nguyện là thưa chuyện cùng Cha Trên Trời, là chìa khóa mở cánh cửa kho tàng ân sủng để ân phúc từ trời cao xuống trên cuộc đời mình: ơn phần hồn, ơn phần xác…

            Và tôi là một trong số những người vô ý thức và vô tâm ấy. Một hôm, tôi đi đến tòa hòa giải và “thành thật khai báo”:

-“Thưa cha, con không cầu nguyện sớm tối.”

Tôi hết sức ngạc nhiên khi nhận được câu hỏi cũng là câu trả lời như sau :

-“Con muốn chết sao?”

Thật tình tôi chẳng hiểu gì cả, vì sao không cầu nguyện thì chết !!!??? Bao lâu sau đó  tôi vẫn giữ nguyên một câu hỏi cho đến khi…tôi đọc sách thiêng liêng và tìm ra được câu trả lời cho mình.

Thêm nữa, chúng ta phải tỉnh táo kẻo rơi vào cái thói của lòng đạo đức câu nệ lề luật mà đâm giết ngừơi như chuyện sau đây:

            Có một ông trùm rất đạo đức, dự Thánh Lễ hàng ngày thế mà khi con gái ông lỡ hoang thai thì khăng khăng bắt con phải phá thai vì sợ mất thể diện của một ông trùm. Nếu không thì ông đánh chết…Bà Trùm thương con phải dắt con đi trốn.

Chúng ta nên tự hỏi xem như thế có phải là "đạo đức" không ? Đạo đức mà lại ác thế sao ? Có lẽ nào một Kitô hữu lại không biết yêu thương, thông cảm, giúp đỡ cho con mình đang gặp hoạn nạn ? Họ có phải là người Samari nhân hậu hay lại là thầy tư tế, thầy Lêvi đành đoạn bước qua một mảnh đời cùng khốn, bơ vơ ? Chúa Giêsu trước khi từ biệt ra đi đã dặn dò rằng:

            "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 15,12)

            Không yêu thương là lỗi điều răn thứ hai, một trong hai điều răn quan trọng nhất:

35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng:          

36 "Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất? "

37 Đức Giê-su đáp: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.

38 Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất.

39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.(Mt 22,35)

            Mà theo thánh Gioan thì hai điều răn ấy chỉ là một:

20 Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa"

mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối;

vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,

thì không thể yêu mến Thiên Chúa

mà họ không trông thấy.

Còn việc phá thai là đang tâm giết người, lỗi điều răn thứ năm, một người mang danh là đạo đức mà có thể thản nhiên mang đến hai trọng tội !   

Không yêu thương có thể đi đến giết ngừơi là vậy, giết phần xác hay phần hồn cũng là giết. Vì thế nên Thánh Thư 1 Gioan 3.14 viết: “Ai không yêu thương anh em là kẻ sát nhân”. Trái lại, tình yêu thương có thể cứu một mạng người:

Truyện kể về một thanh niên đang định nhảy từ trên một chiếc cầu xuống sông tự tử, cùng lúc ấy có hai cha con đang dạo bộ. Em bé gái thấy người thanh niên đứng tần ngẩn buồn bã trên cầu, nên lại gần nhìn anh ngây thơ hỏi:

            "Sao anh buồn vậy ?"

            Tự nhiên anh thanh niên cảm thấy yêu đời, không còn muốn tự tử nữa. Khi được hỏi tại sao, anh trả lời:

            "Tôi tuyệt vọng vì cảm thấy trên đời này không có ai thương tôi, nhưng khi nghe bé hỏi thăm, quan tâm, yêu thương tôi nên tôi đã hy vọng trở lại."

Lời Nguyện Cầu

            Lạy Chúa, xin thương xót chúng con vì chúng con còn mê muội, ích kỷ chỉ lo cho danh tiếng hão huyền của riêng mình mà quên mất Lời Chúa dạy, lại không có lòng thương cảm, thương xót như Chúa đã cư xử với phụ nữ ngoại tình cũng như đối với chính bản thân chúng con. Xin uốn lòng chúng con nên giống Chúa. Amen.

Bị bắt quả tang

Khi chúng ta xét đóan, kết án anh chị em mình, thường là những đóan xét liều, vô bằng cứ. Về phần chúng ta, những tội lỗi của chúng ta đều bị Chúa bắt quả tang tại trận. Không chỉ trường hợp người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, trước mặt Thiên Chúa, ai là người trong chúng ta phạm tội mà chẳng phải bị bắt quả tang, bởi vì Chúa thấu suốt mọi sự, chúng ta làm gì dù ở nơi kín ẩn đến đâu mà Ngài lại không thấy, không biết được, ngay cả tận cõi lòng thâm sâu của chúng ta nữa là. Vì vậy, khi phạm tội ở bất cứ nơi nào thì cũng chẳng khác gì ta đang đứng trước mặt Ngài mà phạm tội !

            Chúng ta hãy cầu nguyện, hãy thân thưa với Chúa liên lỉ mọi ngày:

            Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã không xử tội con, cho dù con phạm tội và Chúa đã bắt tại trận lỗi lầm của con, nhưng đã khoan dung, nhân hậu mà không hề kết án con, để cho con có thời giờ ăn năn, hối cải. Xin cho nước mắt thống hối của con tưới ướt chân Chúa, để tỏ lòng yêu mến của con như người thiếu phụ tội lỗi khi xưa, đã yêu mến Chúa nhiều nên được tha thứ nhiều, chứ chẳng phải nhờ công lênh của mình. Và vì con tin yêu Chúa, xin Chúa hãy nói với con cũng một lời như khi xưa Chúa nói với người thiếu phụ:

"Lòng tin của con đã cứu con. Con hãy đi bình an." (Lc 7,50)

            Thiên Chúa bắt tại trận ta phạm tội, nhưng Người không kết án ta đâu, chỉ mong rằng từ nay ta đừng phạm tội nữa.

            Nhân câu truyện người phụ nữ ngoại tình, chúng ta có một bài học:

            1. Theo luật dạy thì tội nhân phải chịu ném đá.

            2. Theo như Chúa phân xử, ta thấy Chúa không câu nệ luật lệ mà chỉ mong cứu người, tha thứ cho người để họ có cơ hội, có thời giờ ăn năn, sám hối. Như thế, đối với Chúa, luật lệ chỉ là hàng rào ngăn cho người ta biết cái mức phải dừng, ngoài ra còn phải xét đến tình người chứ không cứng cỏi như gỗ đá vô tri. Một thí dụ cho thấy điều đó: Đã đành luật dạy đi dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, nhưng không phải đền nỗi thành một luật sắt đá, cứng ngắc, vô hồn, phi nhân như một phụ nữ kia lầm hiểu khi chị đi xưng tội:

Chị :Thưa cha, con mắc tội không đi dự Lễ ngày Chúa Nhật.

            Cha: Vì sao thế con ?

            Chị : Dạ, vì con mới sinh con.

Cha: Con ơi, con không hiểu tình yêu thương của Chúa. Con mới sinh em bé thì làm sao mà đi được.

            Chúng ta phải ý thức rõ ràng về đạo kẻo mê lầm, vì đạo không phải là một danh sách những luật buộc, nhưng chính Tình Yêu Thương mới là luật của Chúa Kitô. Chúng ta hãy nhìn lên Lòng Thương Xót của Chúa để thấy rằng chúng ta luôn được Chúa nâng đỡ, tha thứ và yêu thương, vì hơn ai hết Chúa biết loài người yếu đuối, phàm hèn nên dễ vấp ngã biết bao.

            Thế nên điều Chúa cần là chúng ta hãy khiêm nhượng và biết trỗi dậy mỗi khi lỡ lầm, vấp ngã vì "nghề nghiệp chuyên môn" của chúng ta là sa ngã trong đống tội to, tội nhỏ, “trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”…Và điều Chúa mong là chúng ta cũng đối xử khoan nhân với người khác như Chúa đã đối xử với ta.

            Có một câu truyện phim (tựa đề “Priest”) mà qua đó sẽ soi rõ được cõi lòng của mỗi người xem ta có mặc được Lòng Thương Xót của Chúa hay không.

            Một linh mục trước kia có tật phạm tội đồng tính luyến ái về giúp giáo xứ của một cha già. Khi bị phát hiện, linh mục đó buộc phải về một dòng tu để ăn năn, sám hối. Sau một thời gian đền tội, cha già đến thăm, an ủi và gọi linh mục trở về xứ đạo.

            Hôm đầu tiên linh mục đó về tham dự Thánh Lễ đồng tế thì ông từ không soạn áo lễ cho cha, ra điều ông linh mục như thế không còn xứng đáng dâng lễ. Giáo dân đến dự Thánh lễ cũng phản đối ra mặt. Thấy cách ăn ở không đi đúng tinh thần khoan dung tha thứ của Chúa, cha già lên bục giảng Lời Chúa, ông lấy tích truyện người phụ nữ ngọai tình bị bắt quả tang, thế mà Chúa tha thứ cho chứ không lên án, để cho giáo dân thấy tinh thần của Chúa mà biết khoan dung, tha thứ. Rồi cha kết luận :

            "Ai còn kết án là không có lòng khoan dung, và xót thương người của Chúa Kitô, tức là không xứng đáng là Kitô hữu, chẳng khác nào người ngoại đạo. Nếu ai như thế thì không cần dự Lễ, cứ việc ra khỏi nhà thờ."

                Kết quả là 2/3 số người dự lễ, thường là những người có tuổi, rời khỏi nhà thờ ! Họ chỉ biết có tội mà không có lòng khoan dung, nhân hậu, tha thứ, xót thương của Chúa Kitô.

Đứng trước trường hợp đó, chúng ta sẽ có thái độ nào ?

Kết án, tẩy chay hay chấp nhận ?

            Không chừng ta chẳng khác gì người Pharisêu thuở xưa với quan niệm thượng tôn lề luật cứng ngắc. Chỉ sống theo tính xác thịt chứ không sống theo luật yêu thương của Chúa đã dạy.

            Ngày xưa ông Phêrô chối Thầy ba lần, còn thề độc là không biết Chúa. Theo lẽ thường thì "một lần bất tín, vạn lần bất trung", nhưng Chúa thì không nghĩ thế, không những Chúa đã tha thứ, cầu nguyện cho ông, mà còn cắt cử ông làm vị lãnh đạo Giáo Hội, vì Chúa tin vào sức mạnh biến đổi, thánh hóa của Chúa Thánh Thần, và tin vào con người có khả năng sẽ hướng thiện nhờ ơn trên giúp sức, nâng đỡ.

Chính thái độ cứng cỏi, không tha thứ đã dồn người ta vào đường cùng.

Lời Nguyện Cầu

            Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết khiêm nhường nhìn nhận mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa như người thu thuế thuở xưa, để cho chúng con có lòng thương cảm, bao dung, nhân hậu với tha nhân, qua đó chúng con có thể cứu giúp họ chứ không phải đẩy họ đến đường cùng bằng kết án, ác tâm. Xin cho chúng con biết xót thương, kiên nhẫn với mọi người và tin vào sức biến đổi của Chúa Thánh Thần trên đời sống của chúng con:

            "Quả vậy, lạy Đức Chúa, sinh khí bất diệt của Ngài

            ở trong muôn loài muôn vật.

            Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ.

            Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì,

            để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa." (Kn 12,1-2)

***

Kết Luận

            Khi nhìn lên Đấng Ban Ơn Cao Cả thì cùng lúc chúng ta cũng nhận ra Người là Đấng Khoan Dung, Nhân Hậu, hay Tha Thứ, hay Xót Thương người. Chẳng phải là chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh của Người sao ? Thế thì Người chính là gương mẫu chúng ta phải noi theo để nhận được ân phúc mà Bài Giảng Trên Núi đã ghi lại:

            "Phúc thay ai xót thương người,

            vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương."

            Lời Chúa dạy vẫn còn đây, xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành những Lời Châu Ngọc ấy:

            "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha thứ cho anh em." (Mt 6,14-15)

            "Vậy anh em hãy biết thương xót như Cha anh em trên trời là Đấng xót thương." (Lc 6.36).

Muốn được thế, thiết tưởng chúng ta nên dành thời giờ cầu nguyện sâu lắng mới cảm nghiệm được… Thời nay, chúng ta dành quá nhiều thời gian và tâm trí vào mọi thứ giải trí và tin tức mà bỏ lơ không cầu nguyện, khiến Đức Mẹ đã phải khuyên bảo:

“Sẽ rất tốt nếu từ bỏ truyền hình, vì sau khi xem các chương, các con thường lo ra và không còn khả năng cầu nguyện” (SĐ 8-12-1981).

            Một nữ tu dòng kín Camelô tên Edith Stein, người Do Thái, bị Đức Quốc Xã giết chết đã nói:

            "Đến cuối đời chúng ta chỉ có một ân hận duy nhất là đã không nên thánh."

Têrêsa Hoàng Lan,

Lớp Thánh Kinh,
thực hiện với sự hướng dẫn
của Lm. Phêrô Hoàng Minh Tuấn.
Ngày 1.11.2007

Lễ Các Thánh Nam Nữ

*

*      *

Suy Ngắm

            Khi tôi nhìn lên Đấng Ban Ơn đầy quyền uy và toàn năng với lòng ngưỡng mộ thì tôi cũng nhận ra Người là một Nhà Cách Mạng vĩ đại dám công khai lật đổ bức tường thành kiến áp bức, bất công đối với phụ nữ tự bao đời nay để giành lại vị trí đích thực cho họ trong xã hội.

            Đối với loài người nói chung thì Người là Đấng Cứu Thế, còn đối với phụ nữ thì Người trở nên Đấng Cứu thóat họ khỏi gông cùm của kỳ thị ác tâm.

            Nhưng thật lạ kỳ ! Khi tôi nhìn lên chiêm ngưỡng Đấng Cứu Thế, Đấng Ban Ơn ở trên cao xanh thì cùng lúc tôi lại thấy Người hạ mình xuống trên cây thập giá đau thương, thê thảm. Cách thế cứu người của Đấng Ban Ơn, Đấng Cứu Thế thật quá lạ thường:

            Người giành lại công bình bằng cách chịu áp bức, bất công.

Người giành lại tự do bằng cách chịu gông cùm, tù tội.

Người lấy lại vinh quang bằng cách chịu sỉ nhục, nhạo báng.

Người chữa lành bằng cách chịu lấy những roi vọt nát da và đinh nhọn thấu xương.

Người đạt chiến thắng bằng đại bại nhục nhã trên đồi Gôn-gô-tha.

Nhà Cách Mạng vĩ đại cứu thoát bao người khỏi bệnh hoạn, tật nguyền, quỉ ám cả vào ngày Sabát, cứu người phụ nữ ngoại tình khỏi cái chết ném đá, nay lại đành nhận lấy án tử...

Và đáng kinh ngạc nhất là Người đã giành lại Sự Sống Đời Đời cho loài người bằng Cái Chết Thập Hình trên Đồi Sọ!

Người lính có ngờ đâu lưỡi đòng đâm thấu nương long những tưởng để kết thúc một kiếp tử tội, nhưng lại diệu kỳ khai mở nơi trái tim Người: dòng Máu và Nước tuôn trào như suối nguồn ân sủng, như thác nguồn thương xót lòai người không nghỉ ngơi !

Ôi ! Đấng Hay Làm Phép Lạ, Người làm điều gì cũng mới lạ thường, bảo đảm "không bao giờ đụng hàng", Người làm điều gì cũng "Top Ten" đến sững sờ. Chẳng thế mà nhiều môn đệ của Người khi nghe Người tuyên bố:

"Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." (Ga 6,51)

đã kêu lên:

            "Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?"

Người là Đấng Ban Ơn nên Người thật là hào phóng đến khó tin: đã ban chính thân mình làm lương thực cho thế gian được sống ! Một sự hào phóng lạ đời hay một tình yêu điên cuồng vì nhân loại ? Người yêu đương mong muốn trao ban trái tim cháy bỏng lửa tình và khát khao tình yêu đáp lại của loài người biết mấy!