SUY NIỆM TIN MỪNG
CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH (Ga 20,19-31)
Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm vui, là niềm hy
vọng, là đích điểm của đời sống tín hữu và cũng
chính là Đức Tin Ki tô giáo.
Để được đức tin vào Đức Ki tô Phục Sinh, Giáo
hội Chúa đã phải trải qua bao nhiêu thử thách,
mà thử thách đầu tiên và quan trọng nhất đó là
sự hy sinh của lý trí. Ngay cả các Tông Đồ-
những người từng theo Chúa Giêsu trên đường rao
giảng, từng nghe lời Chúa Giêsu dạy, từng thấy
việc Chúa Giêsu làm, từng chứng kiến Lagiaro
chết chôn 4 ngày, xác đã nặng mùi được sống
lại.. thế mà họ cũng đã hơn một lần kinh hãi
bàng hoàng trước cái chết bi thương của Thầy
mình; hơn một lần bỏ trốn Thầy mình để chính
Thầy tự xử trước cơn cùng khốn; hơn một lần thất
vọng vì tưởng rằng Thầy mình đã chết đi thì ước
vọng khôi phục giang san cũng tan tành theo mây
khói và bao năm theo thầy cũng xem như đổ sông
đổ biển hoặc lãng quên theo cái hư không vô
nghĩa đáng tiếc; hơn một lần hồ nghi Thầy mình
liệu có sống lại như Thầy đã nói : “Ta có thể
phá hủy đền thờ TC và xây lại trong ba ngày”….
Tâm trạng của các tông đồ, những tín hữu sơ
khai, luôn chập chờn giữa thật và ảo, giữa có và
không, giữa cái tin được và không tin được… một
phần do bởi rào cản của lý trí vì sự hạn hẹp
trước mầu nhiệm Thiên Chúa, phần khác do bởi sự
cố thủ lý trí của mình không để cho ánh sáng
khôn ngoan của Thiên Chúa lọt vào soi dẫn, vì
thế, họ không thể hiểu trọn vẹn được ý định cứu
thế của Thiên Chúa.
Hiểu rõ tâm trạng bất an của các tông đồ, những
người đã chấp nhận theo mình vào công cuộc cứu
thế của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu Phục Sinh đã
nhiều lần hiện ra với họ với câu chào chúc :
“Bình an cho anh em”. Chúa Giêsu muốn
họ có một bình an thật, sự bình an mà lý trí của
họ không mang lại được, nhưng sự bình an ấy phải
là hoa quả của niềm tin vào Thầy mình đã sống
lại, và ngược lại, chỉ khi nào họ có một niềm
tin chắc chắn và kiên vững, thì họ mới thật sự
bình an trong cuộc đời. Các ông cũng được xem
những dấu đinh nơi tay và dấu lưỡi đòng nơi cạnh
sườn của Người, như là chứng tích của một người
thật, một con người thật đã chết thật và đang
sống lại thật.
Tôma không được chứng kiến . Và khi nghe các bạn
tông đồ kể lại: “Chúng tôi đã thấy Chúa”, ông
hồ nghi và xem như ông có vẻ muốn đặt một điều
kiện cho đức tin ông. Ông nói: "Nếu tôi
không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không
xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào
cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”.
Chúa Giêsu, hơn ai hết, hiểu Toma như một con
người thực dụng- sờ đụng tận tay, thấy tận mắt
mới tin, tám ngày sau, Ngài đã thực hiện điều
kiện Toma đặt ra: Người bảo ông Tô-ma:
"Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy.
Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng
lòng nữa, nhưng hãy tin”. Điều
đáng ngạc nhiên trên trang tin mừng hôm nay là
Chúa Giêsu Phục Sinh đã biến đổi Toma thành một
con người mới, con người của Đức Tin sâu thẳm,
đức tin được mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa dưới
tác động của Chúa Thánh Thần, ông phủ phục dưới
chân Chúa Giêsu Phục Sinh và tuyên tín: “
Lạy Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con”.
Câu nói ấy nói lên toàn bộ huyền nhiệm về Đức
Giêsu Cứu Chúa, không chỉ là Con Thiên Chúa, mà
còn là Thiên Chúa thật. Biết Toma được ơn mạc
khải, Chúa Giêsu nhấn mạnh vai trò Chúa Thánh
Thần ngay trong câu nói: "Vì đã thấy Thầy,
nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà
tin”.
Vai trò Chúa Thánh Thần từ đây trở nên quan
trọng là dường nào đối với đức tin vào Đức Giêsu
Phục Sinh. Chúa Thánh Thần trở thành một lý trí
mới, một con mắt mới, một cảm nhận mới trong mỗi
con người. Chính Ngài là Lý trí vô cùng của
Thiên Chúa trong con người nhỏ bé chỉ hiểu những
gì hạn hẹp; chính Ngài là con mắt siêu phàm của
Thiên Chúa trong con người có mắt chỉ để thấy
cõi trần gian tạm bợ và mù quáng những thực tại
vô hình; chính Ngài là sự cảm nhận siêu nhiên
của Thiên Chúa trong con người xác đất vật hèn
chỉ cảm nhận được những tình cảm vui buồn chóng
qua, những sự thật tạm thời mà không thể cảm
nhận được những sự thật thường hằng, bất biến
của Thiên Chúa.
Trang Tin Mừng hôm nay soi rọi cho chúng ta trên
hành trình đức tin của mỗi người.
1. Bình an trong cuộc đời phải là bình an phát
xuất từ Đức Tin Phục Sinh. Chúng ta luôn khao
khát và chấp nhận một thứ bình an ảo: một nền
hòa bình ảo khi Đức Tin Kitô Giáo bị loại trừ
không khoan nhượng, nhường chổ cho niềm tin niềm
tự hào dân tộc; một bình an ảo khi Đức Cậy Kitô
giáo bị buông bỏ ngoài khối óc nhân loại kiêu
hãnh tự đắc vì tưởng tự lực tự cường; một hạnh
phúc ảo khi Đức Ái Kitô giáo mờ dần trong trái
tim khô cứng của con người chỉ lo cho sự hưởng
thụ để cái vật chất phù du cuốn hút vào chỗ diệt
vong không hề hay biết.
Bình an thật mà Chúa Giêsu Phục Sinh chào chúc
các tông đồ phải là bình an của niềm tin phục
sinh. Và niềm tin ấy được thể hiện bằng việc kết
hiệp với Đức Kitô Phục Sinh từng giây phút trong
cuộc đời, để loại trừ tất cả những sự
“kết-hiệp-không-phục-sinh” khác trong đời. Không
đợi đến giờ phút nằm bất động trên giường bệnh
chờ đợi sự chết đến, chúng ta mới hiểu ra rằng
tất cả thực tại trần gian như danh vọng, chức
vị, tiền bạc, nhà lầu xe hơi… đều sẽ không phục
sinh cùng với chúng ta, đôi khi còn cản trở hành
trình đức tin của chúng ta về với cùng đích là
Phục Sinh với Đức Kitô trong cuộc sống mới. Đừng
lầm tưởng người giàu có hay mất bình an vì cuộc
toan tính làm giàu, mà chính người nghèo khổ lại
mất bình an vì cứ tưởng giàu có mới đem lại bình
an hạnh phúc. Chúng ta, những người nghèo khổ
trong cuộc đời phải tìm cho ra nguyên lý của
bình an và vui lên với niềm vui Phục Sinh vì
chúng ta đang sống rất gần với sự sống Phục
Sinh, nếu chấp nhận cuộc sống hạnh phúc dưới cái
nhìn siêu nhiên hơn: phân biệt cái rất cần và
cái bất cần.
2. Đức Tin Phục Sinh đòi hỏi sự hy sinh của lý
trí để xác nhận Đức Tin là một ơn huệ nhưng
không của Thiên Chúa ban tặng. Ơn huệ Đức Tin
phải bắt nguồn từ lòng khiêm tốn đón nhận ánh
sáng Chúa Thánh Thần soi dẫn. Chúa Thánh Thần,
Đấng Phù Trợ, làm cho Lời Đức Kitô, cho chính
Đức Kitô tồn tại trong trần thế cho đến ngày
cánh chung. Ngài mở con mắt đức tin của chúng ta
để chúng nhìn thấy một Đức Kitô Phục sinh thật
sống động, qua những chứng nhân phục sinh tông
truyền từ các tông đồ, để đức tin của chúng ta
mang lại cho chúng ta một sự bình an thật, bình
an mà thế gian không mang lại được. Chính Đức
Tin Phục sinh ấy sẽ biến đổi toàn bộ con người
chúng ta nên nhân chứng hùng hồn cho Mầu Nhiệm
Thiên Chúa.
3. Trở nên nhân chứng Phục Sinh, không chỉ bằng
lời rao giảng, mà bằng cả cuộc sống Tin, Cậy,
Mến viên mãn thể hiện nơi đời sống hằng ngày,
nơi bản thân, trong gia đình, trong cộng đoàn
giáo xứ, trong xã hội. Cuộc sống ấy không còn
thấp thoáng bóng dáng của những bám víu thực tại
trần thế, của những nghiêng chiều về một sự ly
tán nội tại, của những bất an do những khát vọng
hư hèn. Cuộc sống của những người làm chứng cho
Chúa Kitô phải là một cuộc sống đang phục sinh
ngay trên dương gian nầy- sống trước cuộc sống
phục sinh khi hãy còn sống trong
cuộc-sống-trong-thân-xác-hay-chết. Đòi hỏi ấy,
tưởng là một đòi hỏi quá sức của con người, kể
cả những con người được thông ban chính sứ vụ
thừa tác hy tế Chúa Giêsu, nhưng thiết nghĩ, lại
là một đòi hỏi quan trọng cho mỗi tín hữu giữa
đời thường, giữa cuộc vật lộn với các trào lưu
thế giới hiện nay đang tiến dần đến chỗ lầm
tưởng trần gian là thiên đường đích thực.
Với chúng ta, những tín hữu, những Kitô hữu,
được cùng chết với Đức Kitô qua bí tích rửa tội,
đang được đồng hưởng phần phúc Phục Sinh với
Chúa Kitô, qua trang tin mừng hôm nay, có thêm
một xác tín về sự bình an thật, về đức tin phục
sinh và về cuộc sống chứng nhân phục sinh trong
tình trạng Phục sinh. Tất cả đang là những ân
huệ sẵn có, và những nghĩa vụ ắt có mà không thể
chối từ, nếu không muốn mang tiếng là vô ơn đối
với Ơn Cứu Chuộc.
Lạy Chúa, xin cho chúng con khiêm tốn đón nhận
Chúa Thánh Thần trong hành trình Đức tin và để
Ngài tác động trong chúng con một cuộc sống phục
sinh ngay trên đường đời dương thế của chúng con
. A men
Pm. Cao Huy Hoàng