SỐNG
MẦU NHIỆM PHỤC SINH
1. Mầu nhiệm Phục Sinh trong tâm hồn mỗi
người
Đời sống con người khởi từ việc chết đi để được
sống lại: cuộc sống được khắc ghi bởi những
chuyển động và tiếp tục trong những chuyển động
không ngừng. Từ tế bào hình thành nên phôi thai:
các tế bào chết đi mang lại sự sống cho phôi
thai. Tương tự như vậy, chúng ta được sinh ra
một khi rời khỏi cung lòng của mẹ, từ bỏ trạng
thái phôi thai. Con người - bản tính, lịch sử,
sự tăng trưởng … - luôn dưới hình thức của cuộc
‘vượt qua’. Cần từ bỏ đi một trạng thái (chết đi
chính mình) nếu như muốn chinh phục một trạng
thái khác (sống lại, mặc lấy trạng thái mới):
đây là một qui luật của sự sống. Chính vì vậy,
mầu nhiệm Phục Sinh mang một ý nghĩa đặc biệt,
chết đi cùng với Chúa Kitô để được sống lại với
Ngài. Mỗi người, tin hay không tin, đều sống dấu
chỉ của sự phục sinh.
Lễ hội, cử hành đời sống: Con người qua việc cử
hành các ngày lễ, trông chờ lời giải đáp cho các
vấn nạn về sự sống đời sau. Thật vậy, mỗi ngày
lễ là một tiếng “xin vâng” đối với sự sống.
Những ai cử hành ngày lễ không thể thốt lên:
“thế là hết”, hay là “chẳng ý nghĩa gì”. Trong
những ngày lễ, với những dấu chỉ khác nhau, con
người tỏ lộ niềm tin của mình và nếm hưởng sự
viên mãn của đời sống trần thế. Việc cử hành
ngày lễ hệ tại ở sự ‘tưởng nhớ’ và ‘niềm hy
vọng’. Trong việc tưởng nhớ, lịch sử của mỗi
người và của nhân loại được tái hiện với nhiều
biến cố khác nhau. Niềm hy vọng thúc đẩy hướng
đến tương lai và mong chờ sự sống viên mãn.
Mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô chiếu sáng đời
sống con người: Mầu nhiệm Phục Sinh trả lời cho
những vấn nạn của con người. Chúa Giêsu, với
việc phục sinh, loan báo rằng tận cùng của con
người không phải là cái chết, mà chính là sự
sống. Thánh Phaolô viết rằng: “Chúa Kitô đã chỗi
dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an
giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại
phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết
được sống lại. Như mọi người vì liên đới với
Adam mà phải chết, thi mọi người nhờ liên đới
với Đức Kitô thì cũng được Thiên Chúa cho sống”
(1 Cr 15,21-23).
2. Mầu nhiệm Phục Sinh được loan báo qua
phụng vụ
2.1.Tin Mừng ngày chúa nhật
Trong chúa nhật thứ hai phục sinh, Chúa Giêsu
hiện diện cách sống động giữa các tông đồ như
chúa nhật phục sinh. Đây là ý nghĩa của ngày
chúa nhật: ngày Chúa sống lại, và hiện diện giữa
cộng đoàn tín hữu hiệp nhất trong việc cử hành
Lời Chúa và Thánh Thể. Ngài làm sáng tỏ ý nghĩa
của Thánh Kinh, hướng dẫn kinh nghiệm (như Thánh
Tôma) của sự phục sinh trao ban bình an.
Chúa nhật thứ ba tiếp tục cho thấy ý nghĩa của
đại lễ Phục Sinh, là “ngày thứ nhất trong tuần”.
Chúa Giêsu tỏ lộ mình trong việc bẻ bánh (năm
A), trong việc cụ thể của việc ăn uống trong đời
sống thường nhật (năm B) và trong việc chuẩn bị
bữa ăn cho những ai thả lưới theo lời của Ngài
(năm C).
Trong chúa nhật thứ bốn, Chúa Giêsu tỏ lộ chính
mình là Thiên Chúa và là mục tử, Đấng lên tiếng
và lắng nghe và gọi các con chiên của mình (năm
A), cứu vớt chúng (năm B) và hy sinh mạng sống
mình cho chúng (năm C). Ngày cầu nguyện cho ơn
gọi được cử hành trong chúa nhật này.
Chúa nhật thứ năm phục sinh, Chúa Giêsu tỏ lộ
chính mình “là đường, là sự thật và là sự sống”
(năm A), là “cây nho thật” (năm B) tặng ban luật
tình yêu (năm C). Nhờ thế, Giáo hội sống giới
răn Yêu thương trong căn tính của mình.
Chúa nhật thứ sáu phục sinh Chúa Giêsu Phục Sinh
ban tặng cộng đoàn tín hữu giới răn tình yêu
(A-B-C), hứa ban Chúa Thánh Thần (năm A) cho tất
cả mọi người (năm B); chính Người là Đấng hướng
dẫn Giáo Hội (năm C). Đức Ái và Chúa Thánh Thần
làm cho Giáo Hội thành Giêrusalemme mới, là đền
thờ của Thiên Chúa (năm C).
Lễ Thăng Thiên, Chúa Giêsu trước khi về trời, đã
sai các tông đồ đi giảng dạy cho muôn dân, làm
chứng về Ngài. Chúa Giêsu, vinh quang (năm A),
luôn ở cùng các môn đệ cho đến ngày tận thế, làm
cho họ thông dự vào ân sủng của Thiên Chúa, cầu
nguyện cùng Chúa Cha để tất cả được bảo toàn
trong sự thật (năm B) và trong sự hiệp nhất (năm
C) nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Chúa nhật Chúa Thánh Thần hiện xuống: Chúa Thánh
Thần hoàn tất sự viên mãn của mầu nhiệm Phục
Sinh Đức Kitô trong giáo hội. Nhờ quyền năng của
Chúa Kitô Phục Sinh và nhờ đức tin vào Ngài, các
tông đồ khởi sự sự mệnh của họ trong lòng thế
giới.
2.2.Các bài đọc ngày chúa nhật
Các bài đọc 1 được lấy từ sách Tông Đồ Công Vụ
nhằm diễn tả đời sống của giáo hội tiên khởi:
hình thành, tổ chức và truyền giáo. Cách cụ thể:
Việc hình thành cộng đoàn các tín hữu tin vào
Chúa Giêsu chết và sống lại (Cv 2; Cv 4: chúa
nhật 2 PS); việc loan báo của các tông đồ tập
trung vào chủ đề Đức Kitô chết và giờ đây đã
sống lại (chúa nhật 3, 4 PS); tổ chức cơ cấu của
cộng đoàn tín hữu: đặt tay cho các phó tế và bắt
đầu sứ mệnh của Phaolo và Barnaba (chúa nhật 5
PS); nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, ơn cứu độ
được loan báo đến dân ngoại (chúa nhật 6 PS).
Các bài đọc 2 công bố Đức Kitô Phục Sinh và sự
hiện diện của Ngài giữa cộng đoàn tín hữu (từ
chúa nhật 2 đến chúa nhật 5) và ân sủng Chúa
Thánh Thần (chúa nhật 6 và chúa nhật Chúa Thánh
Thần hiện xuống). Thư 1 Pr (năm A) là giáo lý về
bí tích rửa tội của thánh Phêrô, trong đó thánh
nhân nêu bật sự cần thiết của đời sống luân lý
một khi lãnh nhận bí tích này. Thư thánh Gioan
(năm B) về giới răn Yêu Thương . Sách Khải Huyền
(năm C) về thị kiến vinh quang của Chúa Kitô.
Tắt một lời, các bài đọc trong ngày chúa nhật,
cách đặc biệt là tin mừng và bài đọc hai nhấn
mạnh đến các ý tưởng sau: ý nghĩa của ngày chúa
nhật; Thánh Thể như là sự hiện diện của Chúa
Kitô Phục Sinh, Đấng giúp thấu hiểu Lời Chúa và
cử hành thánh thể; Chúa Giêsu, mục tử tốt lành;
lắng nghe và thực hành Lời Chúa; sống giới răn
Yêu Thương; và sau cùng là viễn cảnh vinh quang
của Chúa Kitô.
3. Mầu nhiệm Phục Sinh được cử hành qua phụng
vụ
Mùa Phục Sinh thể hiện một Đại Lễ duy nhất, kéo
dài 50 ngày, có nghĩa là chúng ta kỷ niệm một sự
kiện khởi đầu từ biến cố Phục Sinh của Đức Kitô,
lên trời vinh quang và kết thúc với Chúa Thánh
Thần Hiện Xuống. Đại lễ Phục Sinh trở thành một
xác tín của đời sống. Các tín hữu sống và nếm
hưởng mầu nhiệm này trong cuộc sống của mình.
Thật vậy mầu nhiệm tràn đầy niềm vui này được
kéo dài qua các ngày lễ trong phụng vụ: rước lễ
lần đầu, thêm sức, phong chức, kết thúc năm học
giáo lý, tháng hoa kính Mẹ Maria, ngày lễ Mẹ …
4. Cử hành Mầu nhiệm Phục Sinh trong đời sống
thường nhật
Sống mầu nhiệm Phục Sinh có nghĩa là loan báo
Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi chúng ta (1 Cr
15,20), Ngài “đã sống lại từ cõi chết” (1 Cr
15,20) và là Thiên Chúa “muôn đời hằng sống” (Kh
1,17). Niềm xác tín này được các tông đồ làm
chứng: “dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì
chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã
tin như vậy” (1 Cr 15,11). Chính vì thế, “nếu
Đức Kitô không chỗi dậy từ cõi chết, thì lời rao
giảng của chúng tôi trống rỗng […], và lòng tin
anh em thật hão huyền. Nếu chúng ta đặt hy vọng
vào Đức Kitô ở đời này thôi, thì chúng ta là
những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr
15,14.17.19). Đó chính là lời rao giảng của các
tông đồ được tỏ lộ nơi các bài đọc trong mùa
phục sinh (bài đọc 1 năm A, B,C và bài đọc 2 năm
C).
Đức Kitô Phục Sinh mang lại cho con người niềm
hy vọng sống động (1 Pt 1,3) như một niềm tin
vững chắc (Cv 17,31). Quả vậy, “Nếu chúng ta
cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ sống
lại với Người: đó chính là niềm tin của chúng
ta. Chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống
lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết
nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người”
(Rm 6,8-9). Hơn nữa, “đã sống lại cùng với Đức
Kitô”, chúng ta cần tìm kiếm “những gì thuộc
thượng giới” (Cl 3,1). Sự phục sinh của từng
người chúng ta tìm thấy nơi mầu nhiệm Phục Sinh
của Đức Kitô nền tảng và đích điểm, chính Người
đã sống lại từ cõi chết.
Chính vì đặt nền móng từ Đức Kitô, chúng ta cần
sống mầu nhiệm Phục Sinh trong toàn bộ hiện thực
con người, với niềm vui lẫn những thử thách và
đau khổ. Chúng ta biết rằng “cho đến bây giờ,
muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như
sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả
chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã
lãnh nhận Thần Khí như ân huê mở đầu, nhưng còn
trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con,
nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta. Quả thế,
chúng ta đã được cứu độ, nhưng còn phải trông
mong” (Rm 8,22-24).
Thái độ nền tảng của kitô hữu trong mùa Phục
Sinh cần thiết như sau:
. Niềm vui thể hiện trong lời hát ALLELUIA, khởi
sinh từ niềm tin vào Chúa Kitô sống lại và cho
chúng ta thong dự vào sự phục sinh của Người.
. Sống các bí tích và cử hành phụng vụ.
. Hiệp thông huynh đệ: hiến lễ của Chúa Kitô
mang lại cho chúng ta một dân tộc duy nhất. Vì
thế, chúng ta hãy xoá bỏ hang rào ngăn cách và
hoà giải với nhau. Biến cố Phục Sinh mang lại
cho cộng đoàn các tín hữu hiệp nhất với nhau,
một lòng một trí để chúc tụng Thiên Chúa vì hồng
ân cứu độ và để phục vụ tha nhân.
Trong mùa Phục Sinh, chúng ta cử hành Thánh Thể
để tưởng niệm tất cả bao kỳ công Chúa Giêsu Phục
Sinh đã hoàn thành nơi giáo hội, chúng ta cũng
hãy là những công cụ của những kỳ công này, như
là thành viên của dân tư tế, tạ ơn Chúa Cha đã
ban Đức Kitô Phục Sinh hiện diện với chúng mỗi
ngày cho đến tận cùng trái đất.
Hồng Ân