GIỚI
TRẺ HÔM
NAY, THẾ
GIỚI NGÀY
MAI
(Mt
13:24-43)
Ngày
Giới Trẻ
Thế Giới
đang
trình
bày một
hình ảnh
đẹp về
giới trẻ
hôm nay.
Theo đài
TV Sky
News của
Australia,
các bạn
trẻ đã
đến “tận
cùng
Trái
Đất.” Có
tới hơn
140,000
người
đến từ
170 quốc
gia và
hàng
chục
ngàn thị
dân
Sydney,
những
con
người
hạnh
phúc,
tràn trề
niềm hy
vọng và
chắc
chắn đói
khát ý
nghĩa”[i]
cuộc
sống.
Theo ông
Kevin
Rudd,
Thủ
tướng
nước Úc,
thường
giới trẻ
tụ họp
để chiến
tranh,
nhưng
giờ đây
giới trẻ
quy tụ
để tìm
kiếm hòa
bình và
niềm hy
vọng. Từ
khắp các
nẻo
đường
thế
giới, họ
cùng đến
Sydney
để làm
chứng
giữa một
thời đại
tràn
ngập
niềm
thất
vọng hôm
nay,
Kitô hữu
vẫn tìm
thấy
niềm hy
vọng nơi
Ðức
Kitô.
Ðúng
thế, ÐGH
Bênêđictô
xác
quyết:
“Trong
một thế
giới
đang bị
đủ mọi
hình
thức bạo
động
gian ác
đe dọa,
các
người có
tôn giáo
cần hiệp
nhất
tiếng
nói để
thúc đẩy
các dân
tộc và
các cộng
đồng
giải
quyết
những
tranh
chấp qua
đường
lối hòa
bình và
với lòng
đầy kính
trọng
nhân
phẩm.”[ii]
Niềm hy
vọng đó
bắt
nguồn từ
cái nhìn
đầy lạc
quan của
Chúa
Giêsu về
cuộc
đời.
Ðứng
trước
đồng lúa
chen lẫn
cỏ lùng,
Chúa vẫn
thúc đẩy
các môn
đệ tin
vào mùa
gặt đầy
hứa hẹn
trong
tương
lai.
Thực tế,
làm sao
có thể
lạc quan
và kiên
nhẫn như
Chúa để
chấp
nhận
đồng lúa
chen cỏ
lùng,
tức là
chung
sống với
những
người ác
trong
cuộc
sống
hiện tại
?
THIỆN
ÁC ÐÁO
ÐẦU
Chúng ta
đang
sống
trong
một thế
giới
tràn
ngập sự
ác.
Nhiều
nơi
thiếu
phương
tiện.
Thời đại
toàn
những
người
lãnh
đạm, vô
thần
thực
tiễn.
Các
phong
trào tôn
giáo hay
giáo
phái
khác
thành
công,
trong
khi Tin
Mừng và
Giáo Hội
Công
Giáo
thiếu
hiệu
năng.
Phải
chăng đã
đủ lý do
để chúng
ta thối
chí,
tuyệt
vọng ?
Ngày
xưa, các
tông đồ
cũng đã
trải qua
những
cám dỗ
như thế.
Bởi đó,
Chúa
Giêsu
mới dùng
những dụ
ngôn đơn
sơ,
nhưng
sâu sắc
để trả
lời các
ông.
Qua dụ
ngôn cây
lúa và
cỏ lùng,
trước
tiên
Chúa
Giêsu cố
ý giúp
chúng ta
chống
lại tính
bất kiên
và bất
khoan
dung,
đồng
thời mời
gọi
chúng ta
học hỏi
những
bài học
kiên
nhẫn của
tình
yêu, một
trong
những bí
nhiệm
nơi cung
lòng
Thiên
Chúa.
Dù thừa
biết sự
dữ và
những
phức tạp
tràn
ngập
trong
cuộc
sống,
Chúa
Giêsu
không
bao giờ
đầu hàng
trước sự
dữ.
Người
chữa
lành kẻ
bệnh
tật,
phục
sinh kẻ
chết,
trả lại
công lý
cho
người bị
áp bức.
Người
nói với
tội nhân
: “Hãy
về, đừng
phạm tội
nữa !”
Người
kêu gọi
chúng ta
lớn lên.
Ðó là
cách
Người
yêu
thương
chúng
ta.
Khi đến
ngày
mùa,
ngày
chung
thẩm,
phải
đứng
thẳng
trước
Thiên
nhan.
Không ai
đùa giỡn
với tình
yêu,
nhất là
tình yêu
đầy đòi
hỏi của
Thiên
Chúa.
Với một
cái nhìn
đầy nhân
ái, Chúa
Giêsu
biết
kiên
nhẫn chờ
đợi.
Người
cho
chúng ta
thời
gian để
trưởng
thành và
lớn lên
qua
những
giai
đoạn lẫn
lộn xấu
tốt.
Thiên
Chúa vô
cùng
kiên
nhẫn và
đầy lòng
thương
xót, nên
Người
không
bao giờ
thất
vọng về
bất
cứ tạo
vật nào.
Người
luôn
thấy mầm
hy vọng.
Làm sao
chúng ta
có cái
nhìn của
Thiên
Chúa để
thấy mầm
mống sự
thiện,
sự thật,
và tình
yêu
trong
mỗi giai
đoạn
cũng như
trong
mỗi cuộc
sống.
Nếu Chúa
Kitô
không
xét
đoán,
chính vì
Người
thấy
trong
mỗi
người,
kể cả
tội
nhân,
một lời
hứa đầy
niềm hy
vọng.
Thực sự
tâm hồn
con
người,
dù tội
lỗi tới
đâu, bao
giờ cũng
vĩ đại
hơn thái
độ bên
ngoài
của họ.
Ngay cả
trong
tâm hồn
của một
cô điếm,
cũng có
nơi bí
ẩn để
thưa với
Chúa :
Lạy Cha
chúng
con ...
Thực tế,
giữa
cuộc đời
lẫn lộn
xấu tốt,
dụ ngôn
hạt cải
thành
cây cao
bóng cả
mở ra
trước
mắt
chúng ta
một niềm
hy vọng
lớn lao.
Dù dáng
vẻ bên
ngoài
thế nào,
cuộc đời
vẫn đang
phát
triển,
dưới sức
tác động
của Chúa
Thánh
Linh và
sự cộng
tác của
chúng
ta.
Nơi dụ
ngôn nắm
men, hạt
cải,
Chúa mời
gọi
chúng ta
tái khám
phá sự
sung mãn
đích
thực của
Tin
mừng,
cuộc
sống và
Hội
Thánh.
Ngày
nay,
trong
khi xã
hội ưu
tiên cho
của cải,
hiệu
năng,
chúng ta
dễ chán
nản khi
thấy Tin
Mừng và
Hội
Thánh có
ít ảnh
hưởng.
Nhưng
thực tế,
bên
trong
thế giới
đầy
những
tiến bộ
kỹ
thuật,
vẫn ẩn
giấu
những
tâm hồn
đang
ngấm
ngầm chờ
đợi và
kiếm tìm
Thiên
Chúa.
Phải
chăng
quyền
lực,
thành
công lúc
nào cũng
là những
tiêu
chuẩn
chắc
chắn để
đánh giá
giá trị
cuộc
sống và
Nước
Trời ?
Nơi trần
gian,
những
công
trình vĩ
đại của
Thiên
Chúa
thường
khởi sự
âm thầm,
rất bé
nhỏ và
nghèo
nàn.
Nhưng vì
âm thầm
mở lòng
đón nhận
quyền
lực Chúa
Thánh
Thần,
cuộc
sống đầy
lòng tin
yêu có
thể trở
thành
những
nắm men
để vực
dậy cả
thế giới
và chữa
lành
hàng
ngàn nỗi
đau
thương.
Nếu cuộc
sống các
dân tộc
là cuộc
chiến
giữa các
lực
lượng
thiện
ác, thì
từ khi
Chúa
Giêsu
phục
sinh,
cuộc
chiến
không
còn
tương
xứng. Sự
ác đã bị
đánh bật
gốc.
Cũng
thế, dù
dáng vẻ
bên
ngoài có
ra sao,
lịch sử
nhân
loại vẫn
đang
hướng
dần tới
cuộc
chiến
thắng
của ánh
sáng và
tình
yêu.
Trước
nhan
Thiên
Chúa,
hình như
các bậc
thang
giá trị
bị đảo
lộn. Ðối
với
Chúa,
những
người
nhỏ bé
và nghèo
khó đang
gây xáo
trộn
những
người
khôn
ngoan và
quyền
thế để
chiếm
lấy
trung
tâm lịch
sử cứu
độ. Bởi
thế,
thánh
Phaolô
nói :
“Chính
trong sự
yếu đuối
mà quyền
năng
Thiên
Chúa
được tỏ
bày.”
Trong
Tin
Mừng,
nơi các
tông đồ
chắc
chắn có
một
nghịch
lý soi
sáng
cuộc
sống hôm
nay và
đem lại
một
chiều
kích phi
thường.
Chúa
Giêsu
từng gọi
các môn
đệ là
“đàn
chiên bé
nhỏ,”
nhưng
cũng là
“muối
đất và
ánh sáng
thế
gian.”
Cũng như
họ, vì
mỏng dòn
yếu
đuối,
tất cả
chúng ta
chẳng có
gì trong
tay. Thế
nhưng,
nhờ
Thánh
Linh
biến cải
dần dần,
chúng ta
trở
thành
hạt cải
và men
biến đổi
mặt đất.
Chủ yếu
sứ mệnh
của
chúng ta
không
phải là
làm
những
việc phi
thường,
nhưng
trong
khiêm
tốn và
quyền
lực
Thánh
Linh,
chúng ta
trở nên
những
biểu
tượng
của Tình
Yêu
Thiên
Chúa.
Muốn
thế,
chúng ta
cần phải
tin
tưởng
vào lời
hứa của
Chúa
Kitô,
bất chấp
sự dữ
tràn
ngập
trần
gian.
Chắc
chắn sự
dữ là
một vấn
nạn lớn
nhất con
người
nêu lên
để chống
lại
Thiên
Chúa.
Chúng ta
biết
điều đó
qua
Truyện
ông
Gióp.
Ngày qua
ngày,
mỗi
người
chúng ta
đều phải
trải qua
những
đau khổ
vì bệnh
tật
trong
thân
xác, vết
thương
trong
lòng,
cắn rứt
trong
lương
tâm, và
phải đối
phó với
những
phức tạp
trong
tương
quan
giữa con
người
nơi gia
đình,
việc làm
và trên
toàn thế
giới .
NIỀM
HY VỌNG
VẪN CÒN
ÐÓ
Nếu
không đủ
kiên
nhẫn và
tin
tưởng,
Giáo Hội
không
thể đứng
vững và
tiếp tục
công
cuộc cứu
độ muôn
dân.
Giữa
nhân
loại
tràn
ngập sự
ác hôm
nay,
Giáo Hội
hiện
diện như
“bí tích
tình yêu
Thiên
Chúa.”[iii]
Nhờ đó,
Giáo Hội
có thể
trở
thành
người
bạn đồng
hành để
chia sẻ
mọi nỗi
lo buồn
với nhân
loại.
Giáo Hội
có thể
hiện
diện với
họ mọi
lúc mọi
nơi để
phấn đấu
cho con
người
ngày
càng
sống
xứng
đáng với
nhân
phẩm hơn
và “tìm
được sự
hỗ trợ
trong
tình yêu
cứu độ
của Chúa
Kitô.”[iv]
Giáo Hội
hiện
diện như
một mầm
hy vọng
giữa
nhân
loại. Lý
do vì
“từ Ðức
Tin vào
ơn cứu
đô toàn
vẹn,
niềm Hy
vọng vào
công lý
trọn hảo
và Tình
Yêu biến
toàn thể
nhân
loại trở
thành
anh chị
em trong
Chúa
Kitô,”[v]
Giáo Hội
có thể
tìm thấy
những
giải đáp
cho các
vấn đề,
cống
hiến
“những
phân
biện,
phán
đoán và
các
quyết
định đáp
ứng với
thực tế,
để tình
liên đới
và niềm
hy vọng
có ảnh
hưởng
lớn hơn
trên
những
hoàn
cảnh
phức tạp
hiện
tại.”[vi]
Trên
cánh
đồng
nhân
loại với
bao giả
trá và
hận thù
hôm nay,
Giáo Hội
vẫn cần
cù và
trung
thành ra
đi gieo
những
hạt
giống
chân lý
và tình
yêu. Từ
những
bước
chân
trên sỏi
đá, cả
một mùa
công lý
sẽ nở
hoa cho
muôn dân
vang dậy
tiếng
reo hòa
bình.
Làm sao
Giáo Hội
có khả
năng
thực
hiện
được một
điều vĩ
đại đó ?
Thưa,
“chính
từ nguồn
suối
tình yêu
sâu
thẳm,
những
giá trị
chân lý,
tự do và
công lý
đã phát
sinh và
lớn lên.”[vii]
Giáo Hội
chỉ có
thể chu
toàn sứ
mệnh cao
cả và
thực
tiễn đó,
khi lạc
quan
trong
quyền
lực Chúa
Thánh
Thần.
Ðúng
vậy,
“thực
tế, Kitô
hữu nhìn
vực thẳm
tội lỗi
trong
ánh sáng
của niềm
hy vọng.
Niềm hy
vọng này
vĩ đại
hơn bất
cứ sự ác
nào, vì
trong
công
trình
cứu
chuộc
của Chúa
Giêsu
Kitô,
tội lỗi
và sự
chết bị
tiêu
hủy.”
(x. Rm
5:18-21;
1 Cr
15:56-57)[viii]
Ðó là
nền tảng
của niềm
hy vọng.
Nhờ đó,
Kitô hữu
yên tâm
dấn thân
làm
chứng
cho Chúa
giữa một
xã hội
đang tự
hủy vì
thuyết
tương
đối và
vô thần.
Nếu hoàn
toàn
khép kín
trong
những
truyền
thống
luân lý
tương
đối và
bi quan
về cuộc
sống,
con
người
không
bao giờ
có thể
đón nhận
được
chân lý,
nguồn
phát
sinh
niềm
vui, hy
vọng và
sự sống.
Trái
lại, khi
cởi mở
đón nhận
mạc khải
nơi Chúa
Giêsu
Kitô,
con
người sẽ
thấy
niềm hy
vọng vẫn
còn đó
cho
những ai
mong chờ
sự giải
thoát
nơi
Người.
Ðứng
trước
cánh
đồng
nhân
loại
cháy khô
vì những
lý
thuyết
bất lực
và hết
sức sống
hôm nay,
hẳn
những
người
thiện
chí phải
kêu lên
trong
niềm hy
vọng :
“Trời
cao hỡi,
nào hãy
gieo
sương,
mây hãy
đổ mưa,
mưa đức
công
chính;
đất mở
ra đi
cho nẩy
mầm ơn
cứu độ,
đồng
thời
chính
trực sẽ
vươn
lên.”
(Is
45:8)
Sự công
chính
vẫn là
niềm mơ
ước của
bao thế
hệ. Dù
chìm
ngập
trong
đêm tối
và hư ảo
trần
gian,
muôn
loài
cùng với
toàn thể
nhân
loại vẫn
hy vọng
sẽ được
giải
thoát
khỏi
cảnh hư
nát (x.
Rm
8:18-22).
Giáo Hội
không
bao giờ
thất
vọng, vì
luôn tin
tưởng
vào Chúa
Giêsu,
niềm hy
vọng duy
nhất của
chúng
ta. Niềm
tin đó
chính
Thánh
Linh đã
khơi lên
để Giáo
Hội có
thể vượt
qua nỗi
sợ mà
hoàn
thành sứ
mệnh
trong
thời
đại.
Sứ mệnh
đó chủ
yếu là
phục vụ
con
người.
Quả thực
“thăng
tiến
phẩm giá
của từng
nhân vị
là ‘công
tác chủ
yếu Giáo
Hội được
kêu gọi
thực
hiện để
phục vụ
gia đình
nhân
loại.’”[ix]
Phải
chăng
công
cuộc
phục vụ
đó có
thể hoàn
thành
nhờ cơ
cấu tổ
chức
chặt chẽ
trong
Giáo Hội
? Không
! “Ðể
đảm nhận
công tác
này,
trước
tiên
phải cam
kết và
nỗ lực
canh tân
bản thân
tận bên
trong,
vì lịch
sử nhân
loại
không do
định
mệnh vô
hồn điều
khiển,
nhưng
hình
thành
nhờ
những
hành vi
tự do
của
nhiều
chủ thể
khác
nhau
trong
trật tự
xã hội.
Trước
khi cam
kết cải
tiến xã
hội
‘theo
tinh
thần
Giáo
Hội,
trên cơ
sở vững
chắc của
công lý
và bác
ái xã
hội,
‘Kitô
hữu phải
canh tân
tinh
thần '
tận nội
tâm.’”[x]
Thực tế
và
nguyên
tắc đều
đòi hỏi
như thế.
Ðúng
vậy, “có
sám hối
tận cõi
lòng,
mới có
thể quan
tâm và
yêu
thương
tha nhân
như anh
chị em.
Mối quan
tâm này
giúp
chúng ta
hiểu
biết bổn
phận và
cam kết
hàn gắn
các định
chế, cơ
cấu và
các hoàn
cảnh
sống
trái
ngược
với nhân
phẩm.
Bởi đó,
giáo dân
vừa phải
cải hóa
nội tâm
và cải
tiến các
cơ chế
hoạt
động,
vừa quan
tâm tới
những
hoàn
cảnh
lịch sử
và dùng
những
phương
tiện hợp
pháp để
nhân
phẩm của
mỗi
người
được
thực sự
kính
trọng và
thăng
tiến
trong
các định
chế.”[xi]
Sau khi
cải hóa
nội tâm,
phải
“mặc lấy
Chúa
Kitô,”
giáo hữu
mới có
thể trở
thành
men hay
muối đất
mà làm
chứng
cho Chúa
trong
các môi
trường.
DẤN
THÂN LÀM
CHỨNG
Trong
hoàn
cảnh thế
giới hôm
nay,
nhất là
tại Việt
Nam, ai
cũng
biết
nhân
quyền là
một đề
tài nóng
bỏng.
Sống
giữa kìm
kẹp của
cơ chế
bất
công,
làm sao
có thể
hiên
ngang
làm
chứng và
tranh
đấu cho
nhân
quyền ?
Trong
dịp Ngày
Giới Trẻ
Thế Giới
2008,
tgm
Chaput
không
ngại nói
sự thật
với các
bạn trẻ
: “Kẻ
thù đáng
kể nhất
của các
Tông Đồ
là sự sợ
hãi.
Thực ra,
sợ hãi
là một
nguy
hiểm bị
người ta
đánh giá
thấp
nhất,
nhưng
lại nguy
hiểm
chết
người
nhất
trong
thời đại
chúng
ta, nhất
là đối
với thế
hệ chúng
con.”[xii]
Sự sợ
hãi đã
ngăn cản
đà tiến
của Giáo
Hội tại
nhiều
nơi trên
thế
giới.
Bước đầu
tiên là
phải
vượt qua
nỗi sợ.
Nhưng
làm cách
nào vượt
qua nỗi
sợ để
can đảm
làm
chứng
cho Chúa
và tranh
đấu cho
nhân
quyền ?
Theo tgm
Chaput,
“can đảm
có nghĩa
là thắng
sợ hãi
bằng sức
mạnh của
Chúa
Thánh
Thần,
như
Thánh
Phaolô
và các
nhà
truyền
giáo vĩ
đại đã
làm, bởi
vì chân
lý của
Chúa
Giêsu
Kitô
phải
được
công bố
với bất
cứ giá
nào.”[xiii]
Trong
hoàn
cảnh cụ
thể tại
Việt
Nam,
tranh
đấu cho
nhân
quyền và
tự do
tôn giáo
là công
bố chân
lý của
Chúa.
Quả
thực,
“tôn
trọng
nhân
quyền
đòi mọi
người
phải
nhìn
nhận
chiều
kích tôn
giáo của
con
người.
Ðây
không
phải chỉ
là một
đòi hỏi
liên
quan tới
những
vấn đề
đức tin,
nhưng là
một đòi
hỏi gắn
chặt với
thực tế
của từng
người.
Việc
công
nhận
quyền tự
do lương
tâm và
tự do
tôn giáo
thực sự
là một
trong
những
thiện
ích cao
cả nhất
và là
một
trong
những
bổn phận
nghiêm
trọng
nhất của
bất cứ
ai thực
sự muốn
cho
thiện
ích cá
nhân và
xã hội
được bảo
đảm.”[xiv]
Do đó,
tranh
đấu cho
nhân
quyền là
làm
chứng
cho Chúa
Kitô một
cách hữu
hiệu
nhất.
ÐGH thôi
thúc bạn
trẻ đi
tìm ý
nghĩa
cuộc
sống
trong
việc
đoàn kết
và kiên
trì hoạt
động cho
nhân
quyền.
Quả thế,
ÐGH cho
thấy
nước Úc,
“giải
đất diễm
lệ,” đã
đề cao
tầm quan
trọng
của tự
do tôn
giáo.
Người
giải
thích :
“Tự do
tôn giáo
là một
quyền
căn bản.
Nếu được
tôn
trọng,
tự do
tôn giáo
sẽ khiến
công dân
có thể
hành
động dựa
trên
những
giá trị
bắt
nguồn từ
những
niềm tin
sâu xa,
góp phần
vào việc
tạo an
sinh xã
hội. Như
thế,
cùng với
các
thành
viên các
tôn giáo
khác,
các Kitô
hữu cộng
tác vào
việc
thăng
tiến
nhân
phẩm và
tình
huynh đệ
giữa các
dân
tộc.”[xv]
Ðược
vậy,
chắc
chắn các
dân tộc
sẽ tiến
bộ và
phát
triển
rất
nhanh.
ÐGH
không
quên
nhắc nhở
: “Các
giá trị
trên đặc
biệt
quan
trọng
đối với
công
cuộc
giáo dục
giới
trẻ. Các
bạn trẻ
rất hay
bị lôi
cuốn
theo lối
nhìn đời
như một
thứ tiện
nghi.
Chúng
tôi
khuyến
khích
mọi
người,
nhất là
các bạn
trẻ, hãy
biết
ngạc
nhiên
trước vẻ
đẹp cuộc
đời, hãy
tìm ý
nghĩa
tối
thượng
của cuộc
sống, và
hãy cố
gắng tối
đa để
đạt đến
điều
đó.”[xvi]
Một
gương
sáng
tranh
đấu cho
nhân
quyền là
Nữ Á
Thánh
Mary
MacKillop.
Trong
Ðại Hội
Giới Trẻ
Thế
Giới, bà
được
ÐGH
Bênêđictô
XVI miêu
tả như
là “một
trong
những
khuôn
mặt nổi
bật
nhất”
trong
lịch sử
Úc. ÐGH
nói:
“Tôi
biết bà
kiên tâm
khi đứng
trước
gian nan
thử
thách,
khi đòi
hỏi công
lý nhân
danh
những
người bị
đối xử
bất
công.
Trong
thực tế,
tấm
gương
thánh
thiện
của bà
đã trở
thành
nguồn
hứng
khởi cho
mọi
người
dân Úc.
Các thế
hệ có
nhiều lý
do để
chịu ơn
bà."[xvii]
Khi lắng
nghe về
bà, chắc
chắn
giới trẻ
phải
nhận ra
việc
mình
phải làm
trong
môi
trường
sống
thực tế.
Nhưng
khi trở
về môi
trường
thực tế,
liệu họ
có thoát
khỏi ảnh
hưởng
của
những tà
thuyết
không ?
Ðó là
điều ÐGH
thẳng
thắn
vạch ra
cho các
bạn trẻ
: "Cha
hỏi
chúng
con, khi
đối diện
với các
nạn nhân
đang
thực sự
đau khổ
vì bạo
lực và
bị khai
thác
tình
dục, có
ai lại
‘giải
thích’
các thảm
cảnh đó
như là
trò tiêu
khiển
hay
không ?”[xviii]
Theo Đức
Giáo
Hoàng,
thuyết
tương
đối bừa
bãi gán
giá trị
‘hầu như
cho mọi
sự,’ và
đề cao
‘kinh
nghiệm’
tới mức
tuyệt
đối.
“Thế
nhưng,
một khi
không
được
đánh giá
là tốt
hay
đúng,
kinh
nghiệm
cũng có
thể dẫn
tới tự
do giả
hiệu,
lẫn lộn
luân lý
và tri
thức, hạ
thấp
tiêu
chuẩn,
mất lòng
tự trọng
và niềm
hy vọng
nữa. Từ
đó, tự
do và
lòng
khoan
dung
thường
bị tách
biệt
khỏi
chân lý.
Tệ hại
hơn nữa,
ngày nay
nhiều
người
chủ
trương
không có
chân lý
tuyệt
đối
hướng
dẫn cuộc
đời
chúng
ta.”[xix]
Sống
trong
tình
trạng
hoang
mang như
thế,
nhiều
bạn trẻ
sẽ co
rút lại
trong vỏ
ốc ích
kỷ, mặc
bao
người
nghèo
khổ đang
cần đến
họ.
Tuy thế
, ÐGH
tràn
ngập
niềm hy
vọng:
“Ngày
Giới Trẻ
Thế Giới
làm tôi
đầy tin
tưởng
đối với
tương
lai Giáo
Hội và
tương
lai thế
giới. Cử
hành
Ngày
Giới Trẻ
Thế Giới
ở đây
lại càng
đặc biệt
thích
hợp, vì
Giáo Hội
tại Châu
Úc, một
châu lục
trẻ
trung
nhất so
với bất
cứ lục
địa nào,
cũng là
một
trong
những
lục địa
có tính
quốc tế
nhất. Kể
từ ngày
những
người Âu
Châu đầu
tiên đến
đây định
cư vào
cuối thế
kỷ 18,
xứ này
đã trở
thành
nhà
không
những
của
nhiều
thế hệ
người Âu
Châu mà
còn là
nhà của
rất
nhiều
người từ
bốn biển
năm châu
tìm đến”[xx]
Nói tóm,
trong
thế giới
cũng như
giữa
đồng
lúa, vẫn
tràn
ngập
những
thế lực
gian ác.
Nhưng
nếu tin
tưởng
vững
chắc vào
kế hoạch
Thiên
Chúa
thiết
lập Nước
Chúa ở
trần
gian,
môn đệ
Chúa
Kitô
không
bao giờ
thối chí
nản lòng
trước
quyền
lực sự
ác. Trái
lại, họ
cần kiên
nhẫn mới
thấy
được
chiến
thắng
cuối
cùng của
Nước
Chúa.
Lạy
Chúa,
xin cho
các bạn
trẻ hôm
nay luôn
tin
tưởng
vào sức
mạnh
Thánh
Linh và
can đảm
vượt qua
mọi nỗi
sợ để
làm cho
mọi
người
biết tôn
trọng
nhân
quyền,
nhất là
tự do
tôn
giáo.
Amen.
đỗ lực
20.07.2008
[iii]
Toát
Yếu
Học
Thuyết
Xã Hội
Của
Giáo
Hội,
60.