ĐI TÌM LỜI CHÚA
TRONG CUỘC SỐNG
Nhiều người cứ cho Thánh Kinh (cả Cựu Ước và Tân
Ước) là một bộ sử ký ghi lại những sự kiện và
lời nói của Thiên Chúa (đặc biệt là của Chúa
Giêsu và những người cùng thời với Ngài, nơi một
địa danh lịch sử cụ thể). Đó là hiểu theo chiều
kích lịch sử (lich sử : những sự kiện,
nhân vật đã kinh qua, trải qua trong một khoảng
không – thời gian nhất đinh), hay nói khác hơn,
coi Thánh Kinh là pho sử ký theo nghĩa khoa học,
tức là những tài liệu được ghi lại do một người
hoặc một nhóm người nào đó. Nói đến sử ký thời
phong kiến xưa là nói đến những nhà viết sử theo
lệnh của triều đình, có ban bệ hẳn hoi, và
thường thì hay áp dụng phương pháp “biên niên
sử”. Biên niên sử là cách ghi chép những sự kiện
xảy ra có liên quan đến triều đình đương đại,
theo dòng thời gian và lấy đơn vị ‘năm’ của
triều đại làm mốc (Vd : Vào năm thứ 2 đời vua
Tần Thuỷ Hoàng đã có những sự kiện … xảy ra..,
hoặc “Những sự việc này … xảy ra vào năm thứ 12
dưới triều đại Salomon” “…….dưới triều Pharaon
thứ …” v.v… và v.v…”). Những tập biên niên sử
ấy được coi là “chính sử”, còn những truyện kể,
những sự tích lưu truyền trong dân gian, thì lại
coi là “dã sử”, “huyền sử”.
Mãi đến thời cận đại mới thấy xuất hiện những sử
gia chuyên biệt, làm việc độc lập và những cuốn
sử họ để lại có dáng dấp của những tác phẩm văn
học sống động, khách quan, được ghi theo dòng
thời gian lấy công nguyên làm mốc. Nhưng tựu
trung, đó cũng chỉ là những tài liệu, những dòng
chữ “chết”, không hơn không kém. Nếu hiểu Thánh
Kinh như vậy thì chẳng hoá ra những gì mà chúng
ta đọc ở trong đó chỉ là những tài liệu chết,
chẳng giúp ích được bao nhiêu cho sự sống đạo
của chúng ta sao ?
Cũng không khác mấy với cách hiểu của kẻ viết
bài này về cụm từ “Ngôi Lời nhập thể”.
Trước đây, khi được học qua về ngôn ngữ học,
thấy trong từ điển của Paulus Huỳnh Tịnh Của có
ghi âm “bl” (trong từ “blời” có nghĩa là
“trời”), hay âm “ml” (trong từ “mlúc mlắc” có
nghĩa là đung đưa qua lại). Về sau, theo luật
“trại âm” (đọc chệch đi cho dễ đọc, dễ nói), các
từ trên được ghi âm và đọc thành “lời”, “lúc
lắc”. Nhớ lại hồi nhỏ học Kinh Bản hỏi (ấn bản
của địa phận Bùi Chu) thấy câu “Hỏi Đức Chúa Lời
có mấy ngôi ?” được giải thích : Đức Chúa Lời =
Đức Chúa Trời, bèn nghĩ rằng “Ngôi Lời” chính là
“Ngôi Trời” (đúng quá đi chứ !), do sự biến trại
âm tiết trong ngôn ngữ học mà có (vì các Giáo sĩ
Thừa sai – điển hình là Giáo sĩ Đắc-lộ :
Alexandre de Rhôdes – sang truyền giáo tại Việt
Nam cũng chính là những tác giả ghi âm tiếng
Việt bằng mẫu tự La-tinh, mà ngày nay đã trở
thành quốc ngữ của VN). Mãi về sau mới hiểu được
chữ “Lời” trong “Ngôi Lời” còn có nghĩa là “lời
nói”, là “ngôn ngữ”. Và Đức Ki-tô không chỉ là
“Ngôi Hai Chúa Trời”, mà Người chính là “Lời
Thiên Chúa”, “Lời Hằng Sống” = Ngôi Lời
vậy.
Có lẽ cũng chính vì thế nên trong “Đi tìm Lời
Chúa trong Thánh Kinh” (nhiều tác giả – bản dịch
phóng tác của Lm. Bảo Tịnh – xb 1995), viết :
“Trước đây nhiều người trong chúng ta đã tiếp
thụ một lối hiểu Thánh Kinh như thể đọc một tài
liệu từ trời rơi xuống, không chịu điều kiện
thời gian, không gian, lịch sử xã hội nào cả.
Thực ra, nếu sách Tân Ước cũng như cả bộ sách
Cựu Ước chỉ là những tài liệu ‘chết’, thì nó
chẳng giúp ích mấy tí cho sự sống đạo của chúng
ta ngày nay. Nó
có ý nghĩa, có công dụng cho sự sống đức tin của
chúng ta, thì vì đấy là những chứng từ sống động
của những người tín hữu anh em để lại”.
Vâng, chỉ có như thế mới thực sự là đã hiểu đúng
về Thánh Kinh. Bởi vì, Cựu Ước gồm những sách
ghi lại Lời Chúa trong khoảng thời gian 1.800
năm trước Công nguyên, nhưng phát xuất điểm của
Cựu Ước (xuất hiện những tài liệu ghi trên những
miếng da động vật hoặc những thẻ tre, gỗ) được
ghi nhận là ở thời điểm 1.200 năm trước CN, và
để hình thành được trọn bộ Cựu Ước, cũng phải
mất thêm khoảng gần 1.000 năm nữa (tức là Cựu
Ước được hoàn chỉnh ít ra cũng vào khoảng một
vài thế kỷ trước CN). Còn Tân Ước cũng vậy, ngay
từ cuối thế kỷ I (khoảng năm 70) đến giữa thế kỷ
II (năm 150), các sách Tân Ước đã xuất hiện rất
nhiều (thậm chí có cả những ‘nguỵ thư’), nhưng
cũng phải đến thế kỷ XIV khi có máy in mới hoàn
chỉnh và cố định (riêng về chuyện tác giả
“Thư Do Thái”,
người thì cho là Thánh Phaolô, người thì phủ
nhận, mãi đến thế kỷ XV, mới có sự thống nhất
quan điểm : tác giả khuyết danh). Xem thế, đủ
hiểu Kinh Thánh không phải là một pho sử ký
“biên niên sử” của một triều đại trần thế cụ thể
nào, mà là một công trình dài lâu của biết bao
nhiêu tác giả (hữu danh cũng như vô danh, những
người sống cách đây hàng ngàn năm trước hoặc
cùng thời với Đức Giê-su và cả những thế hệ nối
tiếp về sau nữa).
Ấy là chưa nói tới các tác giả Kinh Thánh khác
hẳn các tác giả lịch sử của các triều đại trần
thế : Một bên chỉ dùng các giác quan trong con
người trần thế của mình để quan sát, ghi nhận
(đôi khi thêm phần lý trí – hoặc dựa vào quan
điểm cuả triều đình đương đại – để bình luận các
sự kiện lịch sử); còn bên kia thì ngoài những
khả năng của chủ thể người viết lịch sử, còn có
một tác giả tuy vô hình nhưng lại tác động rất
mãnh liệt và sáng suốt vào người viết, đó chính
là Thánh Thần linh hứng cho các tác giả Kinh
Thánh vậy. Nên nhiều khi cũng có thể nói, các
Thánh sử của bộ Kinh Thánh chỉ là những nhà biên
tập, còn tác giả đích thực chỉ có thể là Ngôi Ba
Thiên Chúa.
Hiểu được vậy, việc tiếp cận Lời Chúa sẽ được
khai thông thoáng đãng hơn, để từ đó thâm nhập
vào Lời Chúa và biến những điều mình tiếp thụ
được – qua chiêm niệm, suy niệm, học hỏi Lời
Chúa – thành hành động, thành sự sống cụ thể hữu
ích cho chính bản thân : Sống Lời Chúa – Sống
Đạo. Nhiên hậu, mới có thể thật sự làm cho bản
thân mình cũng như giúp tha nhân trở thành Lời
Chúa một cách sống động, cụ thể.
Lời Chúa trong Thánh Kinh – Đi tìm Lời Chúa
trong Thánh Kinh, đó là điều hiển nhiên không
cần bàn cãi. Tuy nhiên, từ Thánh Kinh tới cuộc
sống, lại có một khoảng cách khá xa. Vậy thì vấn
đề “Đi tìm Lời Chúa trong Cuộc Sống” (chữ
Cuộc Sống viết hoa – tác giả nhấn manh) có
thật sự dễ dàng không ? Nói là
‘dễ’
cũng không sai sự thật bao nhiêu, bởi vì hàng
ngày, hàng giờ – thậm chí hàng giây, hàng phút –
chúng ta luôn được nghe rất nhiều người trên thế
giới nói Lời Chúa, hoặc đem Lời Chúa ra giảng
giải, khuyên bảo, nhắc nhở. Nhưng nếu nói là
‘khó thật khó’,
cũng không ngoa chút nào. Cũng bởi vì có không
ít Lời Chúa chúng ta nghe được đó, đều từ miệng
“những người kinh sư và Pha-ri-siêu ngồi trên
toà ông Mô-sê” (Mt 23, 1-7) nói ra. Cho nên
Lời Chúa được ghi lại trong Thánh Kinh đã trải
qua một thời gian dài do hàng trăm, ngàn thế hệ
tìm hiểu, tra cứu, lọc đãi ; nhưng Lời Chúa
trong cuộc sống đương đại ngày nay – nói khác đi
là những hành động, những hiện tượng hoặc những
suy nghĩ, những tư tưởng mà người ta cứ đánh
đồng cho là Lời Chúa được thể hiện cụ thể trong
cuộc sống – thì lại muôn màu ngàn vẻ, muôn hình
ngàn trạng, rất khó phân biệt.
Có một câu chuyện hơi ngồ ngộ xảy ra vào khoảng
tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” của kẻ hèn này :
Trong một hội đoàn xảy ra chuyện lục đục khá gay
go giữa vị huynh trưởng và một thành viên (là
một nữ tu) trong ban PV. Tôi được một anh bạn rủ
đóng vai trò sứ giả hoà bình. Tới gặp vị nữ tu
ấy, tôi chưa kịp nói gì thì anh bạn đã nhanh
nhảu ‘thuyết’ : “Chị ạ ! Chúng ta cùng là con
một Chúa, có gì thì từ từ bảo nhau, chớ không
nên ‘ngậm máu phun người’…”. Tôi hết hồn,
không còn mở miệng nói được gì nữa, dù cho đó
chỉ là đỡ cho anh bạn. “Nhất ngôn ký xuất, tứ
mã nan truy”, lời nói của anh bạn dẫu có xe
‘bốn ngựa’ (4 mã lực) tối tân, hiện đại nhất
cũng khó lòng đuổi theo. Đúng là “sảy vai còn
đỡ được chứ sảy miệng thì … hết thuốc chữa”.
Vị nữ tu nổi lôi đình : “Các anh ra khỏi nhà
tôi ngay. Từ rày tôi cấm cửa”. Tôi cố vớt
vát : “Tôi có nói gì đâu ! Chị cấm cả tôi nữa
à ?” – “Cấm tuốt !” – “Để chi vậy ?” – “Tôi đóng
cửa để nói chuyện, tâm sự với Chúa”. Mình có
cơ hội rồi – tôi thầm nhủ. Và tiếp tục :
“Chắc chị còn nhớ lời Thầy của chúng ta : ‘…Vì
xưa, Ta khát các ngươi đã cho Ta uống … Ta bảo
thật các ngươi, mỗi lần các ngươi đã làm như thế
cho những kẻ bé mọn này là các ngươi đã làm cho
chính Ta vậy’ (Mt 25, 35-40). Chúng tôi
là những kẻ đến đây với cơn khát ‘hoà giải’ cháy
cổ, chỉ mong được chị cho một ly nước hoà giải.
Vậy thì tại sao chị không nói với 2 chúa đứng lù
lù đây, còn nói với Chúa nào nữa ?” (tôi cố
tình “chơi chữ” – jeu des mots – giữa 2 từ đồng
âm : ‘chúa’ (không viết hoa) và ‘Chúa’
(viết hoa) (xin mở ngoặc nói thêm cho rõ
: ‘chúa’ vốn gốc từ Hán Việt, chỉ có một cách
viết, phát âm là ‘chủ’, sau do luật biến trại âm
tiết nên đọc thành ‘chúa’, và có nghĩa : người
cốt yếu trong công việc, trong gia đình, trong
xã hội – vd : chủ nhân, gia chủ, chủ tịch …Và
‘Thiên Chủ’ – ông chủ của trời đất, vũ trụ -
biến âm thành ‘Thiên Chúa’). Vị nữ tu đứng thừ
người ra, quên cả ‘đóng cửa’. Sau đó thì không
chỉ cơn giận đối với anh bạn tôi, mà còn cả sự
lục đục với huynh trưởng, đều được hoá giải tốt
đẹp..
Vì thế, nên nói rằng thay vì đi tìm Lời Chúa qua
ngôn ngữ (những lời nói suông), chẳng bằng đi
tìm Lời Chúa trong cuộc sống (những việc làm,
những hành động minh hoạ Lời Chúa). Hoặc giả đi
tìm Lời Chúa trong những biểu tượng, hiện tượng
xa vời, thì chi bằng đi tìm Lời Chúa trong chính
những hình ảnh sống động, gần gũi ở ngay nơi
những anh em bé mọn của mình (Mt 25, 34-46).
Chúng ta miệt mài đi tìm Lời Chúa chính là để
duy trì, củng cố và phát triển Đức Tin, làm sao
để chính chúng ta, chính cuộc sống của chúng ta
không chỉ là minh hoạ, mà còn trở thành Lời Chúa
thật sự (“Tôi sống, nhưng không phải là tôi
sống, mà chính Đức Giêsu Kitô sống trong tôi”
(Gl 2, 20), “Quả thế, từ nơi anh em, Lời Chúa
đã vang ra…” (1Tx 1, 8). Nói cách khác,
chúng ta đi tìm Lời Chúa chỉ vì chính đó là con
đường chứa chan hy vọng dẫn tới trở nên một
với Đức Kitô – Đấng rao giảng Tin Mừng và chính
Người cũng là Tin Mừng Cứu Độ (“Nghĩa
là: Tin Mừng không chỉ là một thông truyền về
những sự việc có thể thông biết – nhưng là một
điều khiến các sự kiện xảy ra và thay đổi cuộc
sống. Cánh cửa mịt mù tăm tối của thời gian, của
tương lai, đã được mở toang. Ai có niềm hy vọng
thì sống khác biệt hẳn; người có niềm hy vọng đã
được ban cho hồng ân một cuộc sống mới”
– Tđ SPE SALVI – Nhập đề, 2).
Tuy nhiên, “Nhưng ở đây lại nảy sinh một câu
hỏi khác: niềm hy vọng này chứa đựng điều gì khi
được coi là niềm hy vọng “cứu chuộc” ? Cốt lõi
của câu trả lời được chỉ ra trong một câu từ Thư
gởi các tín hữu thành Êphêsô được trích dẫn bên
trên: các tín hữu thành Êphêsô trước khi gặp gỡ
Chúa Kitô đã sống không có niềm hy vọng vì họ
sống “không có Chúa trong đời”.(Tđ SPE SALVI
– Nđ, 2). Chính vì thế, cho
nên sau khi đã có được niềm tin, tức là đã có
được niềm hy vọng đích thực (vì “Đức Tin là
Hy vọng”
– Tđ SPE SALVI – Nđ, 2),
sau khi đã “đi
tìm Lời Chúa trong Thánh Kinh”
(không chỉ đọc và học cho thuộc, mà phải là
“dựa vào Lời Chúa trong Thánh Kinh, mà đặt mình
vào bối cảnh lịch sử xã hội chúng ta đang sống
hôm nay, để tìm cách biểu lộ niềm tin Kitô Giáo
của mình một cách đúng đắn, trung thực, sống
động thật, có hiệu quả thật”
–
“Đi tìm LC trong TK”, tr. 12) ; xin hãy “đi
tìm và thực hành Lời Chúa ngay trong cuộc sống”
của bản thân, của anh em mình vậy.
JM. Lamthy Đinh Văn Diệm