MLCN Ý Kiến
Thành Viên Audio
Hìnhnh  Vui Cười
Lời Chứng CácTácGiả
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu Sản Phẩm
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu T Viện Lưu Bút
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GĐThắcMắc Bác Ái
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHosting Nối Kết
 

NHỮNG BÀI SUY NIỆM MÙA CHAY, PHỤC SINH
Lm Nguyễn Ngọc Thế, Sj

TUẦN PHỤC SINH I:   CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7
TUẦN  THÁNH:
           CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7
TUẦN  V MÙA CHAY:
  CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7
TUẦN VI MÙA CHAY:
  CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7
TUẦN III MÙA CHAY:
  CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7
TUẦN  II MÙA CHAY:
  CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7

TUẦN  I MÙA CHAY:   CN  Thứ2  Thứ3  Thứ4  Thứ5  Thứ6  Thứ7


„Ta là sự sống lại và là sự sống“

Phục Sinh đến, mến chúc Anh Chị Em thật nhiều niềm vui, bình an và hạnh phúc.

Hôm nay Đức Kitô sống lại sẽ làm cho chúng ta, những con người tội lỗi, qua bí tích rửa tội và qua việc đóng đinh mình vào thập giá của Đức Kitô, trở thành con người mới, con người mang dấu ấn Phục Sinh, mang hơi ấm sự sáng.

Halleluia Halleluia Halleluia  !!!


Chúa nhật Phục Sinh 1

Đức Kitô Phục Sinh – Cánh Cửa cuộc đời

„Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,

để Đức Vua vinh hiển ngự vào“ (Tv 24, 7)

Bạn thân mến,

Phục Sinh – hai tiếng rất thân thương, hai tiếng đem lại niềm hy vọng.

Nhưng làm sao có thể hiểu được và thấm thía được sứ điệp Phục Sinh sâu sa của Đức Kitô, giữa một thế giới như là ngục tù chỉ có lối vào mà không có lối ra đây?

Làm sao có thể vẫn vui cười và chẳng bao giờ chán sống, khi vẫn thấy bạo chúa của sự chết, của sự dữ vẫn mạnh mẽ, vẫn giương oai trong cuộc đời?

Đức Kitô Phục Sinh có là cánh cửa dẫn chúng ta đến với mảnh đất tự do thực sự hay không?

Dưới đây xin chia sẻ cùng Bạn những suy tư của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, giờ đây là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI.

Ý nghĩa của lễ Phục Sinh

Sự phục sinh của Đức Kitô làm thay đổi điều gì?

Một cách nào đó sứ điệp Phục Sinh của Đức Kitô vượt khỏi khả năng tưởng tượng của chúng ta. Sứ điệp Phục Sinh không dễ dàng trực tiếp đi vào  tâm hồn của chúng ta như sứ điệp Giáng Sinh. Sự sinh ra nằm ở trong kinh nghiệm của con người. Và sự sinh ra luôn mang trong mình niềm hy vọng và niềm vui. Như vậy, câu chuyện của Con Thiên Chúa, sinh ra như một hài nhi trong hang lừa dễ dàng đánh động con tim của chúng ta và cũng có ý nghĩa đối với những người chưa có niềm tin vào Thiên Tính của Hài Nhi. Còn Phục Sinh thì nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm của chúng ta. Chúng ta chỉ quen với sự sống, sự sống hướng đến cái chết. Rudolf Bultmann đã diễn tả rất rõ ràng sự bất lực của chúng ta về sứ điệp Phục Sinh. Bultmann đã nói rằng: „Ngay cả khi điều đó xảy ra, thì phép lạ của một thân xác chết sống lại có gì để nói với chúng ta?“ Đây là câu hỏi: Phải chăng Phục sinh là một phép lạ rắc rối khó hiểu,  và chẳng thay đổi gì trong suy nghĩ của con người?

Thiên Chúa trong nhà của con người?

Ở đây phụng vụ Giáo Hội muốn tiếp tục giúp chúng ta, bằng cách phụng vụ đã „chuyển ngữ“ điều không thể hiểu được vào trong tranh ảnh và sự tưởng tưởng hợp với chúng ta, hay ít nhất cũng đem lại cho chúng ta những điểm liên hệ. Những điểm đó hướng con tim chúng ta đến với niềm tin Phục Sinh. Phụng vụ đã dùng các biểu tượng như ánh sáng và nước. Phụng vụ đã „múc“ từ kho tàng lớn lao của sự đau khổ, của việc cầu nguyện, của sự nghi ngờ, của niềm hy vọng mà con người chúng ta có, và cũng chất chứa sẵn trong Cựu Ước. Từ rất nhiều lời Thánh Kinh mà phụng vụ từ lúc đầu tiên đã dùng để làm sáng tỏ mầu nhiệm Phục Sinh, tôi chỉ chọn ra một tâm tình. Tâm tình này kết nối Giáng Sinh và Phục Sinh, và qua đó làm cho sự hiệp nhất của Kitô giáo được rõ ràng hơn. Tâm tình này ở trong thánh vịnh 24: „Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào“ (câu 7) Bài hát trong mùa vọng của chúng ta: „Macht hoch die Tür – Hỡi cửa đền hãy cất cao lên“ được khởi hứng sáng tác từ lời trong thánh vịnh này. Trong nguồn cội thì thánh vịnh này là một phần trong phụng vụ  về Cửa, một phụng vụ tiến vào và phụng vụ của các cánh cửa. Người ta hát bài thánh vịnh này trong dịp long trọng rước hòm bia thánh vào đền thờ. Vâng, người ta muốn mời Thiên Chúa vào trong ở trong nhà này, hiện diện ở giữa mọi người, trở thành hàng xóm láng giềng và người chia sẻ cùng một căn nhà. Thiên Chúa cần đi vào trong ngôi nhà của con người, để biến ngôi nhà này trở thành ngôi nhà Thiên Chúa, và trong đó Chúa sẽ biến thế giới của con người trở thành thế giới của Thiên Chúa. Nhưng ngay lúc đó thì người ta cảm nhận rằng, làm sao có thể xảy ra như vậy được: Không có ngôi nhà nào của con người có thể lớn đủ, để cho Thiên Chúa ngự vào. Ngài vượt cao hơn tầm mức không gian của con người. Vâng, Thiên Chúa sẽ đến ở đâu và đến như thế nào?

Một thế giới không có cửa giành cho Chúa?

Thế giới của con người không có cửa giành cho Chúa. Hình như là như vậy đấy.

Thế giới đã tự khép mình lại. Thế giới là một ngục tù, một ngôi nhà chết. Con người trong thời đại Cựu Ước và của các văn hóa xa xưa khác nhìn ngục tù với hình ảnh của một thế giới chết: Ai chết, thì không bao giờ trở về lại. Người ta đã nhìn cõi chết như là một ngục tù vĩ đại và khủng khiếp, trong đó một bạo chúa dữ tợn cai quản. Đó là một ngôi nhà không đường trở về. Một cảm giác về điều này được rõ ràng hơn, khi tất cả mọi con đường của chúng ta đều dẫn vào ngục tù, nơi chỉ có lối vào mà không có lối ra. Như vậy chúng ta chỉ là những tội nhân. Và thế giới của chúng ta chỉ là ngôi nhà chết, một cái phòng ở trước lối vào ngục thất. Trong thực tế: Nếu sự chết là chữ cuối cùng, thì thế giới này là một phòng đợi dẫn đến cái hư không.

Những thi sĩ trong thời đại chúng ta đã diễn tả về viễn cảnh khủng khiếp này. Franz Kafka đã đi vào chỗ thẳm sâu nhất của sự sợ hãi. Trong sự tưởng tượng về một thế giới bị thống trị hoàn toàn, ông ta đã tự giải thích về cuộc sống của mình. Cuộc sống trong lâu đài như là một cuộc đợi chờ viễn vông, một cuộc thử nghiệm không lối thoát, đi qua sự lộn xộn của bàn giấy đế tới được người mình cần gặp, để đạt tới sự giải thoát . Trong tiến trình này cuộc sống được diễn tả như là một tiến trình với đích đến và cái chết. Lịch sử chấm dứt với dụ ngôn về một con người, cả một cuộc đời đã chờ đợi trước cánh cửa, và không thể bước vào bên trong, mặc dù cửa đó được làm ra để mở đón mời con người. Thực, nếu Đức Kitô không sống lại thì chẳng còn gì để nói ngoài dụ ngôn con người được nhắc ở đây. Tất cả mọi điều khác đều là thuốc mê. Tiếng la hét trong nghi ngờ, sự giải phóng mang tính cách bạo lực mà chúng ta đã chứng kiến và trải qua, chính là kết quả của một thế giới từ chối niềm hy vọng, từ chối Đức Kitô.

Một thế giới không còn là ngục tù.

„Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính“. Câu thánh vịnh này không chỉ để hát chơi chơi, không chỉ thuộc về phụng vụ cửa của thời xa xưa. Đó là tiếng kêu của con người trong một thế giới vẫn còn chật chội, dù cho người ta có bay ra khỏi vũ trụ, có đặt chân đến mặt trăng hay cất cánh bay xa hơn nữa. Giáng Sinh chỉ là một nửa câu trả lời của Kitô giáo cho tiếng kêu của này. Giáng Sinh nói rằng: Không chỉ có Thần chết, mà con có Thiên Chúa, Đấng là sự sống, và Thiên Chúa này có thể đến với chúng ta và Ngài cũng muốn đến với chúng ta nữa. Vâng, Ngài đã mở đường rộng thênh thang để đến với chúng ta. Ngài đã tìm thấy cánh cửa đủ cao cho Ngài. Và còn hơn thế nữa: Ngài đã tạo nên cánh cửa này. Nhưng lời đáp trả chỉ được kiện toàn, khi đó không chỉ là lối vào giành cho Chúa để đến với chúng ta, mà còn là lối ra giành cho chúng ta nữa. Vâng, câu trả lời chỉ có thể thỏa mãn, khi sự chết không còn là một ngục tù không lối ra nữa. Đó chính là nội dung của sứ điệp Phục Sinh. Như vậy ngục thất không chỉ có lối vào mà còn có lối ra. Sự chết không còn là ngôi nhà không có lối ra nữa, không còn là mảnh đất không có lối về.

Giáo hội thời xa xưa đã nhìn thấy trong câu thánh vịnh này một sự giải thích cho Đức Tin: „Với giáo hội thì đây là một bài học của ngày thứ bảy tuần thánh – không phải là những lời buồn đau, mà là những lời chiến thắng. Giáo hội đã diễn tả lời này rất thi vị: cái then cửa của ngục tù chết chóc, của ngục thất nhân trần đã bị bẻ gãy, tường lũy cắt chia đã bị phá đổ, và mọi cổng vào đã được dương cao Giêsu, Đấng đã làm tất cả những điều này, nắm lấy tay của tất cả những tội nhân đang xếp hàng dài – Ađam và Evà cùng tất cả nhân loại, và Ngài dẫn đưa tất cả vào mảnh đất tự do. Cuộc sống không còn là phòng đợi dẫn đến cái hư không, mà sự sống là sự bắt đầu của vĩnh cửu. Thế giới không còn là trại tập trung bao quát, mà là một ngôi vườn hy vọng. Cuộc sống không còn là một cuộc đi tìm viễn vông về ý nghĩa, với hình ảnh là những bước lạc đường ở bàn giấy. Thiên Chúa không phải là một nhân viên bàn giấy. Ngài không sống trong một lâu đài xa xôi, và Ngài không ẩn mình đàng sau căn phòng chờ không có lối dẫn vào phía trong. Cánh cửa đã mở toang. Cánh cửa đó là: Giêsu Kitô.

Chỉ cho mọi người thấy ánh sáng của cánh cửa này – Đó là ý nghĩa của lễ Phục Sinh. Tiếng kêu mời của Ngài là, không phải phân vân gì nữa, cứ bước theo Ánh Sáng này. Ánh Sáng này không phải là một ảo tưởng viễn vông, mà là Ánh Sáng hướng về chân lý thực có sức cứu rỗi.

(bài giảng về ý nghĩa Phục Sinh của Joseph Ratzinger, Benedikt XVI, trong „Wer hilft uns leben?“, Herder Verlag, 2005, S. 132-135)

Bạn thân mến,

Đọc những suy tư của Đức Thánh Cha, Bạn cảm thấy Phục Sinh giờ đây là gì đối với Bạn vậy?

Cánh cửa được Đức Kitô giương cao, để Ngài vào gặp Bạn và để Bạn ra gặp Ngài. Cánh cửa đó nói cho Bạn điều gì về tương quan của Đức Kitô giành cho Bạn?

Đức Kitô có phải là „Cánh Cửa“ cuộc đời của Bạn không?

Bạn có muốn giới thiệu cho anh chị em, đặc biệt những ai đang ngồi trong ngục thất chỉ có lối vào mà không có lối ra, cánh cửa tuyệt vời này, Đức Kitô Phục Sinh không? Bạn sẽ phải làm thế nào?

Mến chúc Bạn thật vui, thật rạng rỡ khi ra ra vào vào cánh cửa là chính Đức Kitô Phục Sinh.

Nguyện xin Ngài là sự sống lại và là sự sống, luôn mở cánh cửa là chính Ngài, để Bạn và tôi cùng tất cả mọi người đi vào và tìm thấy sự thật, sự sống và sự sống lại vĩnh cửu. Amen

Phục Sinh đến, mến chúc Anh Chị Em thật nhiều niềm vui, bình an và hạnh phúc.

Hôm nay Đức Kitô sống lại sẽ làm cho chúng ta, những con người tội lỗi, qua bí tích rửa tội và qua việc đóng đinh mình vào thập giá của Đức Kitô, trở thành con người mới, con người mang dấu ấn Phục Sinh, mang hơi ấm sự sáng.

Halleluia Halleluia Halleluia  !!!


Thứ bảy tuần thánh

Ngồi bên mộ Chúa không chỉ khóc là đủ

„Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su. Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ.“ (Mt 27, 57-61)

Giêsu, người bị khinh khi và nhục nhã, giờ đây với tất cả sự tôn kính được đặt vào trong mộ. Ni-cô-đê-mô đã đem theo 100 cân mộc dược trộn với trầm hương. Hai chất liệu này tỏa ra một mùi hương rất thơm. Giống như dịp xức dầu ở Bê-tha-ni-a, ở đây cũng là số lượng vô cùng lớn. Số lượng lớn này nhắc nhớ chúng ta về tình yêu phung phí, về sự phong phú của tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu được diễn tả trong sự hiến dâng của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa phung phí chính bản thân mình. Nếu mức độ của Thiên Chúa thật là phong phú, thì không có gì của chúng ta có thể nói là nhiều cho Chúa cả.Về điều này, trong tám mối phúc thật Giêsu đã dạy chúng ta (Mt 5, 20). Nhưng ở đây không lẽ chúng ta không nhớ đến lời của Thánh Phao-lô, Thiên Chúa „là Đấng đã dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức Ki-tô, như hương thơm, lan toả khắp nơi...“ (2 Kor 2, 14 tt) Trong sự phung phí hương thơm, niềm tin của chúng ta cần là hương thơm, hướng về dấu chân của sự sống.

Trong giây phút mai táng Chúa vào mồ, lời của Đức Kitô đã được kiện toàn: „Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác“ (Ga 12, 24) Giêsu đã trở thành hạt lúa mì chết đi. Từ hạt lúa mục chết đi này mà một phép lạ hóa bánh ra nhiều thật vĩ đại được bắt đầu. Nhiều đến nỗi mà bánh được cung cấp cho đến tận cùng trái đất: Ngài là Bánh sự sống, Bánh nhiều đến nỗi đủ cho tất cả nhân loại, và ban cho nhân loại lương thực. Với lương thực này con người sống trong chân lý: Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa. Lời trở thành Thịt (Ngôi Lời làm người) và trở thành bánh cho chúng ta, qua Thập Giá và Phục Sinh.

Qua chính việc mai táng của Chúa Giêsu mầu nhiệm Thánh Thể được tỏ bày. (Đàng Thánh Giá của Joseph Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ sáu tuần thánh, 2005, chặng 14)

Bạn thân mến,

Hôm nay, như các anh chị em khi xưa chúng ta cùng canh mồ Chúa nhé! Có thể như ông Ni-kô-đê-mô, chúng ta có muốn đem mộc dược trộn với trầm hương để ướp xác Chúa không? Vâng, một lần nữa Chúa cần đến hương thơm, nhưng lần này là cho thân xác của Ngài đã chết đang nằm kia. Dù thân xác chết, nhưng tình yêu không chết.

Hay như các phụ nữ, ngồi đó quay mặt vào trong mộ, để thương nhớ Chúa? Tuy nhiên, không ướt át như chúng ta vẫn thường khóc và đau buồn khi ngồi bên mộ người thân, mà giờ đây là lúc chúng ta ngồi đó, đọc lại“ tình yêu phong phú đến mức phung phí của Thiên Chúa nơi sự hiến dâng của Đức Kitô. Thiên Chúa yêu chúng ta đến mức độ, Người Con duy nhất của Chúa phải chết nằm kia trong mồ. Một cái chết vì và cho chúng ta, những kẻ bé mọn được Chúa yêu. Vâng, hạt lúa mì đã thực sự chết, để cho bao hương thơm của hoa trái mới vừa mới nảy sinh tỏa lan khắp nơi nơi. Ước gì hương thơm này chính là hương thơm niềm tin của mỗi người chúng ta. Không chỉ thơm, mà hoa trái còn là lương thực, là bánh nuôi ăn. Ước gì bánh này được trao ban đến từng mỗi cuộc đời ở từng góc phổ của thế giới này.

Lạy Chúa,

Ngồi bên mộ Chúa không chỉ khóc là đủ.

Bên mộ Chúa không chỉ có tiếng nức nở than van thương nhớ Chúa.

Mà bên mộ Chúa còn có hương thơm của tình yêu, hương thơm của niềm tin.

Bên mộ Chúa còn có bao sự sống non trẻ đang vươn cao.

Xin hãy giúp chúng con không chỉ biết đau với Chúa, không chỉ biết dùng mộc dược trộn với trầm hương ướp xác Chúa, mà còn biết đem hương thơm của tình yêu, của hạt lúa mì, của bánh là sự sống đến cho anh chị em mà chúng con gặp trên đường. Amen


Thứ sáu tuần thánh

Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái

„Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: "Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái." Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.“ (Ga 19, 19-20)

„Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? " Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: "Hắn ta gọi ông Ê-li-a! " Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: "Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không! " Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa."“ (Mt 27, 45-50 und 54)

„Trên thánh giá của Đức Kitô, ngoài tấm bảng được viết bằng hai thứ tiếng của thế giới, - Hy-lạp và La-tinh, còn có ngôn ngữ của dân được tuyển chọn – tiếng Híp-ri. Tấm bảng đó nói về thân phận của Đức Kitô. Ngài là ai vậy? Là Vua dân Do-thái, là người con của Đa-vít đã hứa ban. Phi-la-tô, một quan tòa bất chính, dù chẳng muốn nhưng đã trở thành tiên tri. Trước toàn công chúng trên thế giới, Vương quốc của Giêsu đã được loan báo. Còn Giêsu thì không đồng ý nhận chức vị Me-si-a theo nghĩa sai lầm của loài người, với quyền lực và sự giải phóng. Nhưng bây giờ thì chức vị này được công bố, treo trên thánh giá của Người bị đóng đinh. Như vậy, Giêsu thực là Vua của thế giới.

Bây giờ Ngài đã thực sự được „đưa lên cao“. Trong lúc tự hủy chính mình, thì Ngài lại vươn cao lên. Bây giờ Ngài đã làm cho sứ vụ tình yêu được hoàn tất sung mãn. Giêsu đã tự chối bỏ mình, nhưng chính lúc đó thì Ngài lại xuất hiện là một Thiên Chúa thực sự, Thiên Chúa là tình yêu.

Bây giờ chúng ta biết rằng, Thiên Chúa là ai.

Bây giờ chúng ta nhận ra rằng, Vương Quốc thực sự như thế nào.

Giêsu đã cầu nguyện với thánh vịnh 22, bắt đầu với lời: „Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con...“ (Tv 22, 2) Ngài đón nhận dân Do-thái đang đau khổ, Ngài đã đón nhận cả nhân loại đang khổ đau, và cả nỗi thống khổ mù tối về Thiên Chúa của họ. Ở tại nơi đó Ngài đã để Thiên Chúa hiện ra, nơi mà Ngài đã thất bại hoàn toàn, và như không còn bóng dáng gì nữa.

Thánh Giá của Đức Kitô là một sự kiện thật là tếu. Thế giới trở nên tối tăm, nơi con Thiên Chúa đầu hàng trước cái chết. Đất đai giao động. Và tại cây Thánh Giá này khởi sự một giáo hội của dân ngoại. Viên đại đội trưởng nhận ra và tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa.

Từ Thánh Giá Ngài đã chiến thắng – vài chiến thắng mãi mãi .“ “ (Đàng Thánh Giá của Joseph Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ sáu tuần thánh, 2005, chặng 12)

 Lạy Chúa Giêsu, trong ngày Chúa chết, mặt trời đã bị „nhuộm“ đen. Chúa luôn luôn bị đóng đinh trở lại. Ngay trong giây phút lịch sử này chúng con sống trong sự tối tăm về Thiên Chúa. Vì phải đau khổ tột cùng và phải chịu đựng sự bất nhân của loài người, nên khuôn mặt của Chúa đã bị „bôi“ đen, chẳng còn có thể nhận ra được nữa. Nhưng chính trên Thánh Giá Chúa đã cho mọi người nhận ra Chúa. Vâng, là một người đau khổ, và là một người yêu đang được giơ cao lên. Ngay lúc này Chúa đã chiến thắng.

 

Xin giúp chúng con, trong giây phút đen tối này và trong lúc lộn xộn,

vẫn nhận ra được khuôn mặt dấu yêu của Chúa.

Xin giúp chúng con luôn biết tin tưởng vào Chúa,

và luôn theo chân Chúa ngay trong giờ phút đen tối và thê thảm nhất.

 

Xin hãy chỉ cho thế giới thấy khuôn mặt mới mẻ của Chúa.

Xin cho chúng con thấy ơn Chúa cứu độ. Amen


Thứ năm tuần Thánh

Bàn tiệc thánh hiến – bàn tiệc tình yêu

Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết“ (1 Cr 11, 23-26)

„Ở đây Giêsu liên hệ tới những điều căn bản của Cựu Ước. Một đàng Giêsu hướng về giao ước ở núi Si-nai. Qua đó Ngài muốn làm cho rõ ràng rằng, điều đã được bắt đầu ở Si-nai, giờ đây sẽ được diễn ra: Giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với loài người, giờ đây được hoàn tất. Bữa tiệc ly là sự thiết lập giao ước mới. Một cộng đoàn huyết thống giữa Thiên Chúa và nhân loại được kiện toàn, bằng cách chính Chúa đã trao ban mình cho loài người...

Ở đây cũng có hình ảnh của Thập giá. Vì khi Đức Kitô ban mình và máu, ban chính mình, thì điều kiện phải có là, Ngài đã thực sự trao ban. Như vậy, những lời của Đức Kitô chứa đựng tinh thần của Thập Giá. Tinh thần này được diễn ra, khi Thiên Chúa biến đổi bạo lực chống lại Ngài trở thành hành động của sự tự hiến dâng mình cho nhân loại.

Một điều nữa cũng tiềm ẩn ở đây. Đó là sự Phục Sinh. Mớ thịt chết, thân xác chết người ta không thể cho đi để làm của ăn. Chỉ vì Ngài sống lại, nên mình và máu của Ngài trở nên mới. Đó không còn là việc ăn thịt người nữa, mà là sự hiệp nhất với Đấng Phục Sinh sống động. » (Joseph Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 350-351)

Bạn thân mến,

Thứ năm tuần thánh, ngày giáo hội không chỉ nhớ lại mà còn làm sống động lại bữa tiệc thành lập bí tích thánh thể của Đức Kitô. Bữa tiệc này, với lời nói và hành động hiến dâng của Đức Kitô, từ đó đến nay hơn 2000 năm rồi, vẫn là bữa tiệc sống động và được mừng mỗi ngày trên khắp mọi nơi trên địa cầu. Điều này không chỉ là một hiện tượng của quá khứ, mà có thể nói rằng, là hiện tượng kéo dài mãi mãi, cho đến khi bữa tiệc trên núi thánh sẽ được diễn ra trong ngày sau cùng.

Vâng, đọc lại lời của Đức Kitô trong thư của thánh Phao-lô và đọc những suy tư của Đức Thánh Cha, chúng ta nhận ra được nhiều ý nghĩa sâu sa. Đó chính là tiến trình cứu độ của Thiên Chúa. Tiến trình bắt đầu từ giao ước cũ đến giao ước mới. Vâng, tiến trình của một Thiên Chúa trao ban chính mình cho nhân loại, để ký kết giao ước tình yêu với muôn người.

Tiến trình này « nở hoa » trên cây Thập Giá, nơi sự hiến dâng đạt đến mức tột đỉnh. Nhưng nếu tiến trình tình yêu này chỉ kết thúc nơi cái chết thê thảm kia của Đức Kitô, thì có lẽ mọi chuyện đã đi vào dĩ vãng lâu rồi, và chẳng có ai nhắc tới làm chi. Không, thập giá là cây nở hoa. Nhưng hoa kia không chỉ đẹp rồi tàn, mà Thiên Chúa còn biến cái đẹp bên ngoài, thành cái đẹp vĩnh cửu. Vâng, cái đẹp của hoa giờ đây đâm trái Phục Sinh. 

Hôm nay, chúng ta hãy cùng vào bàn tiệc thánh với Đức Kitô. Chúng ta hãy thực sự ý thức về ý nghĩa sâu sa của bàn tiệc thánh. Bàn tiệc thánh hiến – bàn tiệc tình yêu. Vâng, một tình yêu hiệp nhất con người với Đức Kitô, một Đức Kitô không chỉ khổ đau rồi chết, mà còn là một Đức Kitô Phục Sinh sống động hoàn toàn. Chúng ta hãy ở lại trong tương quan hiệp nhất này, để hưởng cái vị đắng của khổ đau, và vị ngọt của tình yêu thánh hóa khổ đau trở thành niềm vui Phục Sinh trường cửu.

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa muôn ngàn lần về bữa tiệc thánh hiến, bữa tiệc của tình yêu. Xin hãy làm cho chúng con trở nên một với Chúa, Đấng vì yêu mà phải chết, Đấng vì ơn cứu rỗi chúng con nên đã sống lại thực sự. Amen


Thứ tư tuần thánh

Người đẹp vô song tuyệt mỹ chẳng còn đáng để ngắm nhìn nữa sao?

„Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh,
như khúc rễ trên đất khô cằn.
Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong
đáng chúng ta ngắm nhìn,
dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.“  (Is 53, 2)

Bạn thân mến,

Hôm qua Bạn đã suy niệm đoạn thánh kinh kể việc Chúa Giêsu đã công khai hóa việc mình bị bội phản, bị bán đứng bởi chính môn đệ của mình, và còn bị chối từ nữa. Bạn cảm nhận điều gì qua đoạn Thánh Kinh đó?

Giêsu, người đẹp vô song tuyệt mỹ, bị bội phản, bị chối từ. Và rồi điều gì sẽ đến với Giêsu, đó là bắt bớ là tra tấn, là đau đớn và rồi án tử và cái chết đau thương trên thập tự. Ở trên thập tự đó, Giêsu “chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, ung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.“  Đó chính là thân phận của ngưòi tôi trung, của người đẹp vô song tuyệt mỹ. Vâng, „giờ đây chẳng còn có ai muốn ngắm nhìn người đẹp của muôn người đẹp nữa. Phi-la-tô đặt Giêsu giữa đám đông và nói: „Đây là người.“, để đòi hỏi sự cảm thông thương xót cho người bị đánh đón, người đã mất đi vẻ đẹp bên ngoài của mình.“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu Christus, S. 32)

Giờ đây, chúng ta hãy đọc lại đoạn thánh kinh của ngày hôm nay của Mát-thêu 26, 14-25. Bạn hãy đặt mình là một trong các môn đệ trong câu chuyện. Bạn sẽ có phản ứng gì khi nghe Giêsu nói? Bạn sẽ cảm thông với Giêsu như thế nào?

Từ từ Giêsu sẽ đi vào con đường đau khổ. Bạn có muốn theo Ngài không? Với Bạn Giêsu còn là người đẹp vô song tuyệt mỹ,nét duyên tươi thắm nở môi ngài, nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mã, nữa không? Hay cũng như muôn người Bạn không còn muôn người chẳng còn thích thú gì để nhìn dung mạo Giêsu nữa.

Cuối cùng Bạn hãy tâm tình một chút với Giêsu.

Lạy Chúa,

..............................


Thứ ba tuần thánh

Giêsu, ánh sáng cho muôn dân

„Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để người đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.“ (Is 59, 6b)

Bạn thân mến,

Hôm qua chúng ta đã cùng chiêm ngắm vẻ đẹp Giêsu, và cũng làm đẹp cho Giêsu, để vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên khuôn mặt của Giêsu. Thật tuyệt vời phải không Bạn?

Vâng, khuôn mặt của Giêsu, của người tôi trung rạng ngời vinh quang Thiên Chúa, để cho mọi dân dân nước nước nhìn ngắm, chiêm ngưỡng, và cất tiếng ngợi khen Danh Chúa trên trời. Vì thế, Giêsu chính là ánh sáng muôn dân, chính Giêsu đem ơn cứu độ của Thiên Chúa đến mỗi tâm hồn, vào trong từng mái nhà, đến mỗi xóm làng. Vâng, đến tận cùng trái đất.

Vẻ đẹp của Giêsu là thế đó.

Vẻ đẹp không giữ cho riêng mình.

Chân lý cần được trao tay.

Tình yêu cần được sẻ chia.

Thực, Giêsu không chỉ đẹp mà còn sống vẻ đẹp này nữa. Nghĩa là Ngài đã dấn thân cho Chân Lý, sống cho tình yêu. Cụ thể, Ngài đã liều mình chết cho nhân loại. Chúng ta dừng bước nơi đây để nghe Đức Thánh Cha giải thích về tâm tình này: „Ai tin vào Thiên Chúa, tin vào một Thiên Chúa đã tự bộc lộ tình yêu của mình ra trong hình hài của kẻ bị đóng đinh, thì người đó nhận ra rằng, vẻ đẹp là chân lý và chân lý là vẻ đẹp. Nhưng trong sự đau khổ của Giêsu, thì người ta cũng học biết rằng, Vẻ đẹp của chân lý chất chứa tổn thương, đau đớn, vâng, một mầu nhiệm đen tối của sự chết.“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu Christus, S. 32)

Như vậy, hôm nay, ngày thứ ba tuần thánh, chúng ta không chỉ ngắm nhìn vẻ đẹp của Giêsu, mà chúng ta còn được dẫn vào trong chiều sâu của vẻ đẹp vô song tuyệt mỹ nơi Giêsu, đó là khổ đau, là bội phản, là cái chết. Mời Bạn hãy đọc lại bài phúc âm của ngày hôm nay trong Phúc Âm Gioan, 13, 21-38. Bạn hãy giành thời gian và đọc lại nhiều lần đoạn Thánh Kinh này, và tự hỏi mình xem:

-         Giêsu đang ở trong hoàn cảnh nào?

-         Ngài đang phải đón nhận điều gì?

-         Ngài đã phản ứng ra sao trước thái độ và lời nói của người xung quanh?

-         Phần tôi, nếu tôi cũng đang có mặt bên cạnh Giêsu, tôi sẽ nghĩ, sẽ nói và sẽ có thái độ nào,

để qua đó bày tỏ niềm tin và tình yêu của tôi đối với Giêsu?

Cuối cùng, xin Bạn dâng lên một lời cầu nguyện nhé!


Thứ hai tuần thánh

Làm đẹp cho Giêsu

„Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.“ (2Cor 4,6)

Bạn thân mến,

Hôm qua, chúng ta đã cùng muôn người chào đón người đẹp vô song tuyệt mỹ là Đức Kitô. Không chỉ tạo vật dưới đất mở lời chúc tụng, mà chúng ta còn ngẩng cao đầu, mời gọi trời cao cũng hãy cất tiếng lên: „Hoan hô trên các tầng trời.“

Hoan hô, vì trên khuôn mặt của Đức Kitô, không chỉ tỏ lộ vẻ đẹp mỹ miều của chân lý, mà còn tỏ hiện vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời. Về điều này, Đức Thánh Cha đã nói: „Nếu lời nào diễn tả về vinh quang của Thiên Chúa, thì cũng chỉ về gương mặt của Đức Kitô, như nơi thánh Phaolô (ss. 2 Cor 4,6)“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu Christus, S. 14-15)

Vậy, chúng ta hãy ngước nhìn và ngắm gương mặt của Đức Kitô. Đấng là Ánh sáng bừng lên từ nơi tối tăm. Chúng ta cảm nhận như thế nào khi chúng ta ngắm nhìn Ngài? Khi ngắm nhìn Ngài, chúng ta, từ chính bản thân mình, có muốn làm một cái gì để góp một chút công sức tô thêm vẻ đẹp của Đức Kitô không?

Đây là một điều rất tếu! Vì chưa có bao giờ tôi lại nghĩ rằng, mình sẽ góp một chút gì để „làm đẹp cho Chúa.“ Hơn nữa, Chúa có cần đến sự góp phần của tôi không?

Trước khi đi tiếp, xin mời Bạn cùng dừng bước với tôi nơi đây, chúng ta đọc lại bài phúc âm của ngày thứ hai tuần thánh hôm nay, trong PÂ thánh Gioan 12, 1-11.

Trong câu chuyện này, có một điều chúng ta cùng chú ý, khi cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau, đến nỗi cả nhà sực mùi thơm, thì chính Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói: „"Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo? " Đức Giêsu phản ứng và trả lời thế nào đây? "Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu."

Đây là một trong số ít lần Đức Giêsu tỏ lộ ý muốn được người khác chăm sóc cho mình. Thử đặt mình trong câu chuyện này, mỗi người chúng ta hỏi mình xem, dầu thơm tôi làm đẹp cho Chúa là dầu thơm gì vậy? Tôi sẽ chọn dầu thơm nào trong tiệm nước hoa của cuộc đời để xức cho Chúa đây, để qua đó vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt của người đẹp vô song tuyệt mỹ là Đức Ki-tô?

Lạy Chúa Kitô, con cũng muốn làm đẹp cho Chúa.

Xin hãy chờ con một chút.

Con sẽ đi tìm loại dầu thơm hảo hạng nhất để xức lên đầu Chúa.

Dầu thơm đó là chính tấm lòng yếu hèn của con,

chính là cả con người nhỏ bẻ của con.

Vâng, yếu hèn và nhỏ bé, nhưng chứa đựng hương của hoa tình yêu.

Ước gì với chút dầu thơm này, vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời hơn nữa trên gương mặt của người đẹp vô song tuyệt mỹ là chính Chúa. Amen


Chúa Nhật lễ Lá

Người đẹp nhất trong muôn người đẹp

„Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
nét duyên tươi thắm nở môi ngài,
nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi.“ (Tv 45, 3)

Bạn thân mến,

Hôm nay, trong ngày lễ Lá chúng ta cùng với nhân loại chào đón người đẹp nhất giữa muôn người đẹp. Bạn hãy mường tường, cùng với muôn người Bạn đang đứng hai bên đường, trên tay cầm cành cây vạn tuế, và hồi hộp chờ đợi người đẹp vô song tuyệt mỹ.

Và hôm nay, chúng ta có thể mở miệng tung hô rằng:

„Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
nét duyên tươi thắm nở môi ngài,
nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi.“

Vâng, theo Đức Thánh Cha, thì „Giáo Hội với lời thánh vịnh trên đã xác tín và công nhận Đức Kitô là người đẹp nhất của muôn người. Nét duyên tươi thắm nở trên môi Ngài, hướng đến vẻ đẹp bên trong của những lời Ngài nói, hướng về sự vinh quang của Tin Mừng. Như vậy, vẻ đẹp được ca ngợi ở đây không phải là vẻ đẹp theo dáng vẻ bên ngoài của Đấng Cứu Thế, mà trong Ngài vẻ đẹp của chân lý được tỏ hiện, vẻ đẹp của chính Thiên Chúa, vẻ đẹp của Ngài làm cho chúng ta say mê, và thêm vào đó vẻ đẹp của Ngài tặng ban cho chúng ta sự tổn thương của tình yêu, một tình yêu thánh“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu Christus, S. 31)

Với tất cả tâm tình, trên tay cầm cành lá đã được làm phép, chúng ta cùng với Giáo Hội cất lời chúc tụng Đức Kitô, người đẹp vô song tuyệt mỹ:

Hoan hô con Vua Đa-vít:

Chúc tụng vua Israel,

Đấng nhân danh Chúa mà đến:

Hoan hô trên các tầng trời.

Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!

Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta.

Hoan hô trên các tầng trời!

Bạn cảm thấy sao khi cùng với mọi người cao lời chúc tụng?

Bầu khí đón mừng Đức Kitô, người đẹp vô song tuyệt mỹ, của muôn muôn người để lại cho bạn cảm nhận gì?

Giờ đây, Đức Kitô là ai đối với Bạn vậy?


Hình Suy Niệm
Đường Thầy mời gọi
"Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)



Thứ bảy sau CN V mùa Chay

 

Bị nộp – sẽ đổ ra

 

« Tất cả các con, cầm lấy mà ăn: Này là Mình Thầy. Sẽ bị nộp vì các con.

Tất cả các con, cầm lấy mà uống: Này là Chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Thầy. « 

(Kinh tạ ơn II)

 

Bạn thân mến,

Lời của Đức Kitô trong bữa tiệc ly đã trở thành một ngôn thức thánh, được nhắc đi nhắc lại cho đến hôm nay, và tiếp tục được nhắc lại cho tới ngày sau. Theo Đức Thánh Cha thì : « Đây là những từ ngữ chứa đựng một kho tàng vĩ đại và một chiều sâu thăm thẳm. Nếu ai muốn làm quen Đức Kitô, thì cách tốt nhất là có thể làm quen với Ngài trong tâm tình suy niệm những lời trên, cũng như trong lúc cử hành mừng sự hiện diện của Lời này, Lời đã trở thành Bí Tích. Bí Tích Thánh Thể là tổng thể của tất cả những gì về Đức Kitô. » (Joseph Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)

 

Hôm nay, trong nửa giờ chầu thánh thể này, xin mời Bạn hãy để những lời của Đức Kitô, lời mà Giáo Hội nhắc lại trong mỗi thánh lễ, sống động lại trong lòng Bạn.

 

Cụ thể, xin mời Bạn theo những bước sau:

-         Với tất cả tâm tình, chúng ta cùng bái gối thờ lạy Chúa và làm dấu thánh giá.

-         Quỳ xuống chúng ta nhẹ nhàng thở ra hít vào một vài lần.

-         Hướng nhìn lên Chúa Thánh Thể trong thinh lặng, và dâng Chúa một lời nguyện đơn sơ.

-         Sau đó chúng ta hãy thầm nhủ lời của Đức Kitô: « Tất cả các con, cầm lấy mà ăn: Này là Mình Thầy. Sẽ bị nộp vì các con. Tất cả các con, cầm lấy mà uống: Này là Chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Thầy"

-     Chúng ta « nhai đi nhai lại » lời này, và mỗi khi khám phá được điều gì sâu sa, thì chúng ta dừng lại và để cho tâm tình đó thấm vào lòng mình.

-         Kết thúc chúng ta cùng đọc lên lời kinh Lạy Cha


Thứ sáu sau CN V mùa Chay

Đường Thầy mời gọi

"Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)

„Điều gì sẽ xảy ra, nếu Đức Kitô không hiện ra, và không chết trên cây thập tự? Và không có Đức Kitô, thì thế giới này sẽ qua đi lâu rồi?

Chúng ta không thể nói như vậy được. Nhưng chúng ta có thể nói rằng, con người sẽ không tìm thấy một lối đi đến với Chúa. Như thế, con người chỉ có thể liên hệ với Chúa qua những „mảnh gãy“ chắp vá. Và cuối cùng con người chẳng biết Thiên Chúa là ai và là gì.

Dĩ nhiên, trong các tôn giáo lớn luôn có tia sáng của Thiên Chúa chiếu tỏa lên, nhưng rồi những tia sáng đó chỉ là và tiếp tục là những „mảnh gãy“ và những câu hỏi mà thôi. Nếu câu hỏi về Thiên Chúa không tìm thấy câu trả lời, nếu con đường dẫn đến Chúa bị bịt lại, nếu không có sự thứ tha đến từ quyền năng của Thiên Chúa, thì cuộc sống của đời người trở thành một cuộc thí nghiệm vô ý nghĩa. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã tự mình „xé toang“ tầng mây. Ngài đã chiếu tỏa một Ánh Sáng, và ban cho chúng ta một con đường. Đường đó chính là sự thật. Trên đường đó chúng ta được phép đi và sống. Và đường đó chính là sự sống“. (Joseph Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)

Bạn thân mến,

Một mẩu đối thoại giữa ký giả Peter Seewald với Đức Thánh Cha dẫn chúng ta khám phá sâu hơn về con đường của Đức Kitô đi.

Hôm qua, chúng ta đã cùng suy niệm về hình ảnh một Thiên Chúa chịu đau khổ và bất lực trước cái chết. Có thể chúng ta cũng sẽ đặt câu hỏi, điều gì xảy ra nếu Đức Kitô không phải đau khổ và phải chết? Công trình cứu độ sẽ như thế nào, nếu Đức Kitô từ chối con đường khổ nạn?

Chắc chắn là chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng có một điều mà Đức Thánh Cha nói rất rõ, là chúng ta sẽ không tìm thấy lối đi đến với Chúa. Vâng, nếu Thiên Chúa không xuất hiện và không chia sẻ cuộc sống với chúng ta, thì chúng ta chẳng có thể gặp gỡ được Ngài. Chúng ta không thể nhận biết được Ngài là ai đối với chúng ta. Nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã đi vào cuộc đời, và đã theo gót chúng ta cho đến đoạn đường đau khổ nhất, đó là đoạn đường thánh giá khổ nạn, và chia sẻ sự tồi tệ nhất của đời người, đó là cái chết. Qua chính cuộc sống và sự hiến dâng của Ngài, chúng ta có thể hiểu được phần nào điều Ngài có lần đã nói: „Thầy là đường, là sự thật và là sự sống“. Đường đó là đường của khổ đau, của thất bại, đường đó dẫn đến cái chết. Nhưng đường đó không dừng bước ở chỗ cái chết, mà xuyên suốt qua cái chết, để rồi dẫn đưa tất cả mọi cuộc đời tìm thấy sự thật, thấy chân lý. Chân lý của tình yêu,  với chân lý đó, con người tìm thấy một sự sống đích thực. Sự sống với Đức Kitô, với Cha, và Thánh Thần Chúa. Đó là hạnh phúc lớn lao nhất của từng con người đi trên con đường là chính Đức Kitô.

Hôm nay, trước những ngày Giáo Hội sống lại con đường khổ nạn của Đức Kitô. Có lẽ như ngày xưa, Đức Kitô sẵn sàng cất bước lên trên con đường đó, và Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng bước đi với Ngài. Vâng, đó là đường Thầy mời gọi. Chúng ta có đi không?

Lạy Cha,  xin hãy dẫn dắt chúng con đến với con đường của mọi con đườn,g đó là Đức Kitô. Xin ban cho chúng con can đảm, sức mạnh và niềm tin mạnh mẽ, đế Đức Kitô đi đâu, thì con vẫn trung tín theo Ngài, đặc biệt trên đoạn đường cam go nhất.

Vâng, dù sao chúng con luôn tin rằng. Đức Kitô còn là sự thật và là sự sống. Amen.


Thứ năm sau CN V mùa Chay

Một Thiên Chúa bất lực trước cái chết,

Bạn có chấp nhận không?

"Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại." (Mc 9, 31)

„Giêsu hướng các môn đệ về một điều, đó là Đấng Cứu Thế xuất hiện không như một lãnh tụ vĩ đại, sẽ tái lập vinh quang của nước Ít-ra-en với quyền lực như thuở xưa. Giêsu cũng không tự gọi mình là Đấng Cứu Thế, mà là Người Con. Con đường của Người Con thì hoàn toàn ngược lại. Trên con đường đó Người Con bất lực, tự mình đón nhận cái chết, bị trao nộp cho dân ngoại, như chính Ngài đã nói, và bị dân ngoại đóng đinh vào thập tự. Các môn đệ cần phải học biết về một vương quốc của Thiên Chúa như vậy trong thế giới này, chứ không khác hơn được“ (Joseph Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)

Bạn thân mến,

Niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa, Đấng chúng ta hy vọng, Đấng chúng ta tín thác, giờ đây bị thử thách. Vì Thiên Chúa đang tự mình đi vào trong đau khổ, đang tự mình đi vào con đường chông gai, con đường mà chẳng có ai, những con người có lý trí, muốn đi cả. Không chỉ thế, Đấng Cứu Thế còn bất lực khi đối diện với thần chết, và một cách nào đó đầu hàng trước quyền lực của thần chết. Đâu rồi hình bóng một Thiên Chúa mà chúng ta vẫn nói với nhau rằng, Ngài là nguồn của sự sống? Đâu rồi một Thiên Chúa đã từng nói những điều hay lẽ phải, đã từng làm những việc tốt lành, giúp đỡ rất nhiều anh chị em? Đâu rồi hình bóng một Thiên Chúa của tình yêu? Ngài có còn là Ngài nữa hay không?

Một Thiên Chúa bất lực trước đau khổ và cái chết, Bạn có chấp nhận Ngài hay không?

Bạn còn muốn tin tưởng vào Ngài nữa hay chăng?

Vâng, lúc này chính là lúc mà niềm tin của Bạn và của tôi đang bị tôi luyện thử thách.

Nhưng nếu chúng ta vẫn một lòng hướng nhìn lên Chúa, một lòng trung thành với Chúa, thì chúng ta sẽ không bao giờ thất vọng. Đừng quên rằng, trong 3 lần tiên báo của Giêsu về con đường chông gai, Giêsu không bao giờ quên thêm vào một câu ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng: „ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại“.

Lạy Chúa, chúng con tin Chúa, xin Chúa củng cố niềm tin yếu đuối của chúng con,

đặc biệt trong lúc này Chúa ơi! Amen


Thứ tư sau CN V mùa Chay

Con đường tự hủy

"Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.“ (Mt 16,24)

Bạn thân mến,

Hôm qua chúng ta đã cùng nhau nguyện xin Chúa ban cho chúng ta trái tim bằng thịt, trái tim dám can đảm để cho bị tổn thương, dám để cho anh chị em, đặc biệt anh chị em nghèo khổ và bất hạnh quấy rầy. Những ai có trai tim đó đều sẵn sàng trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng là môn đệ của Ngài, thì điều căn bản cần làm là gì vậy? „Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.“ Tinh thần này, Đức Thánh Cha đã nhìn trong ý nghĩa của mùa Chay, đặc biệt trên đoạn đường Thánh Giá:

„Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.“ (Mt 16,24) Trong những lời này, Đức Kitô tự mình giải thích cho chúng ta biết, „Đàng Thánh Giá“ là gì vậy – và chúng ta sẽ cầu nguyện và đi đàng thánh giá như thế nào: Đàng Thánh Giá là con đường của sự tự hủy mình, nghĩa là con đường của một tình yêu đích thực. Con đường này Ngài đã đi trước chúng ta, con đường này chúng ta học được qua Đàng Thánh Giá mà chúng ta cầu nguyện. Và với tâm tình đó chúng ta lại trở về với hạt lúa mì đã chết đi – trở về với Bí Tích thánh nhất, Bí Tích Thánh Thể. Trong Bí tích Thánh Thể hoa quả của cái chết Đức Kitô, và sự sống lại của Ngài luôn hiện diện sống động giữa chúng ta. Và Ngài luôn đi với chúng ta như đã đi với các môn đệ trên đường Emmaus“ (Đàng Thánh Giá của Joseph Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ sáu tuần thánh, 2005, phần dẫn nhập)

Có bao giờ Bạn đã đi con đường của tình yêu đích thực chưa?

Một câu hỏi rất vô duyên, nhưng lại rất đáng cần phải hỏi.

Để có thể đào sâu được câu hỏi vô duyên này, thì cần phải hỏi thêm:

Với Bạn thì tình yêu đích thực có nghĩa là gì?

Không biết Bạn sẽ trả lời như thế nào, nhưng theo tinh thần của Đức Kitô thì: „con đường của tình yêu đích thực là con đường tự hủy mình cho người mình yêu.“ Và chính Ngài, một Thiên Chúa, một con người, đã đi con đường đó tự hủy đó. Vâng, đường lên Giêrusalem không chỉ là con đường hành hương đến đền thánh, để cùng dân dân và nước nước trẩy hội vui mừng, thờ lạy Gia-vê Thiên Chúa, mà hơn hết là con đường tự hủy mình vì người mình yêu của Đức Kitô.

Ngày xưa cũng như hôm nay, Đức Kitô mời gọi mỗi người và mọi người: „Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.“

Chúng ta sẽ đáp lời mời gọi này như thế nào đây?

Chúng ta có muốn cùng lên Giêrusalem với Đức Kitô không?

Nhưng không phải để trẩy hội đâu, mà là để tự hủy cho người mình yêu đấy!

Chúng ta có dám trở nên tấm bánh bị bẻ ra cho người khác?

Chúng ta có dám với Đức Kitô trở thành hạt lúa mì chết đi,

để cho muôn vàn hạt khác sinh sôi nẩy nở không?

Lạy Chúa, theo giòng thời gian trôi, những ngày thánh đang từ từ lại đến với chúng con. Vâng, ngày Thánh vì Chúa đã ghi một dấu ấn rất sâu đậm trên thời gian này: Dấu ấn của tình yêu trên đường lên Giêrusalem để tự hủy mình vì chúng con và cho chúng con.

Chúa ơi, xin cho chúng con không chỉ biết nhận ra được, tình yêu cao vời của Chúa trong những ngày rất thánh này, mà còn giúp chúng con biết chia sẻ với Chúa những giây phút đau thương, để nhờ đó tình Thầy trò mình mãi mãi đậm sâu. Amen


Thứ ba sau CN V mùa Chay

Xin cho con trái tim bằng thịT 

“Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt” (Ed 11, 19)

 „Đàng Thánh Giá chỉ cho chúng ta thấy một Thiên Chúa, Đấng tự mình cùng đồng lao cộng khổ với con người. Tình yêu của Ngài không ở lại trên tầng trời cao thẳm thẳm mà chẳng ai có thể sờ tới. Thiên Chúa đã đi xuống với chúng ta, đi xuống cho đến tận cái chết trên thập tự (ss. Phil 2,8). Một Thiên Chúa cùng chịu đau khổ, một Thiên Chúa trở thành con người, để mang vác thập giá của chúng ta. Ngài muốn biến trái tim chai đá của chúng ta, và gọi mời chúng ta cùng biết đồng cảm, cùng biết đồng lao cộng khổ, Ngài ban cho chúng ta „trái tim bằng thịt“. Trái tim bằng thịt không đi ngang và phớt lờ trước hoàn cảnh đau khổ của người khác, mà trái tim đó dám tự để cho mình bị thương tổn, và dẫn đến một tình yêu có sức chữa lành, có tinh thần sẵn sàng giúp đỡ.“ (Đàng Thánh Giá của Joseph Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ sáu tuần thánh, 2005, phần dẫn nhập)

Bạn thân mến,

Chắc Bạn đã nghe rất nhiều lần bài hát „Và con tim đã vui trở lại“ của Đức Huy. Với tôi, chỉ với tựa đề bài hát này cũng nhắc nhớ tôi một điều rất quan trọng, mà tiên tri Ê-dê-ki-en nhắc tới qua lời của Gia-vê Thiên Chúa: “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt”

Vâng, con tim đã vui trở lại, vì con tim giờ đây đã trở thành con tim bằng thịt, không còn chai đá như ngày xưa nữa. Cái ngày xưa của hận thù, của sợ hãi, của ích kỷ và bất nhân. Không, với Gia-vê Thiên Chúa, và cụ thể với chính Đức Kitô, con người sẽ không còn được phép để cho con tim của mình ra chai đá nữa. Làm sao con tim có thể chai đá, khi Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mọi con tim, là chủ của mọi tâm hồn lại tự mình đưa vai, cùng gánh vác những nỗi đau khổ của chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta đến nỗi, Ngài đã rời bỏ trời cao, để xuống thật gần với chúng ta. Nhưng không chỉ thật gần mà còn hơn thế nữa, Ngài trở nên là xương là thịt, là một con người, mang một trái tim như chúng ta, và cuối cùng Ngài đã chết trên thập tự cho chúng ta. Vâng, Trái Tim Ngài đã bị tổn thương, Trái Tim Ngài đã bị chết đi, để cho trái tim của chúng ta vui trở lại.

Thực đây là một hành động rất cao cả của tình yêu.

Đức Kitô cũng đang kêu gọi chúng ta hãy cùng Ngài sống tinh thần này đó.

Phần chúng ta thế nào?

Chúng ta có dám để cho con tim của mình bị tổn thương không?

Nghĩa là chúng ta có dám để cho anh chị em đang đau khổ quấy rầy cuộc sống của mình không?

Chúng ta có dừng bước trước những người đau khổ, không chỉ để thẩy một đồng cắc bố thí vào cái lon sắt, mà còn trao tặng cho họ một bông hồng tình yêu không?

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết mở rộng lòng mình, để như Chúa chúng con dám can đảm sẵn sàng đến với anh chị em đang đau khổ, sẵn sàng để cho trái tim của chúng con bị tổn thương, để nhờ đó trái tim của anh chị em sẽ vui trở lại. Amen


Thứ hai sau CN V mùa Chay

Cuộc sống hiến dâng là cuộc sống sung mãn

Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.“ (Ga 12, 25)

„Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nhận lấy số mạng của hạt lúa mì cho chúng con. Hạt lúa đã rơi vào lòng đất và chết đi, để sinh ra nhiều hạt mới. (Ga 12, 24). Chúa đã mời gọi chúng con hãy bước theo Ch