„Ta là sự sống lại và là sự sống“

Phục Sinh đến, mến chúc Anh Chị Em thật nhiều
niềm vui, bình an và hạnh phúc.
Hôm nay Đức Kitô sống lại sẽ làm cho chúng
ta, những con người tội lỗi, qua bí tích rửa tội và qua việc
đóng đinh mình vào thập giá của Đức Kitô, trở thành con
người mới, con người mang dấu ấn Phục Sinh, mang hơi ấm sự
sáng.
Halleluia Halleluia Halleluia !!!
Chúa nhật Phục Sinh 1
Đức Kitô Phục Sinh – Cánh Cửa cuộc đời
„Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ
kính,
để Đức Vua vinh hiển ngự vào“ (Tv 24, 7)
Bạn
thân mến,
Phục Sinh – hai tiếng rất thân thương, hai tiếng đem lại
niềm hy vọng.
Nhưng làm sao có thể hiểu được và thấm thía được sứ điệp
Phục Sinh sâu sa của Đức Kitô, giữa một thế giới như là ngục
tù chỉ có lối vào mà không có lối ra đây?
Làm
sao có thể vẫn vui cười và chẳng bao giờ chán sống, khi vẫn
thấy bạo chúa của sự chết, của sự dữ vẫn mạnh mẽ, vẫn giương
oai trong cuộc đời?
Đức
Kitô Phục Sinh có là cánh cửa dẫn chúng ta đến với mảnh đất
tự do thực sự hay không?
Dưới đây xin chia sẻ cùng Bạn những suy tư của Đức Hồng Y
Joseph Ratzinger, giờ đây là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI.
Ý nghĩa của lễ Phục Sinh
Sự phục sinh của Đức Kitô làm thay đổi điều gì?
Một
cách nào đó sứ điệp Phục Sinh của Đức Kitô vượt khỏi khả
năng tưởng tượng của chúng ta. Sứ điệp Phục Sinh không dễ
dàng trực tiếp đi vào tâm hồn của chúng ta như sứ điệp
Giáng Sinh. Sự sinh ra nằm ở trong kinh nghiệm của con
người. Và sự sinh ra luôn mang trong mình niềm hy vọng và
niềm vui. Như vậy, câu chuyện của Con Thiên Chúa, sinh ra
như một hài nhi trong hang lừa dễ dàng đánh động con tim của
chúng ta và cũng có ý nghĩa đối với những người chưa có niềm
tin vào Thiên Tính của Hài Nhi. Còn Phục Sinh thì nằm ngoài
phạm vi kinh nghiệm của chúng ta. Chúng ta chỉ quen với sự
sống, sự sống hướng đến cái chết. Rudolf Bultmann đã diễn tả
rất rõ ràng sự bất lực của chúng ta về sứ điệp Phục Sinh.
Bultmann đã nói rằng: „Ngay cả khi điều đó xảy ra, thì phép
lạ của một thân xác chết sống lại có gì để nói với chúng
ta?“ Đây là câu hỏi: Phải chăng Phục sinh là một phép lạ rắc
rối khó hiểu, và chẳng thay đổi gì trong suy nghĩ của con
người?
Thiên Chúa trong nhà của con người?
Ở
đây phụng vụ Giáo Hội muốn tiếp tục giúp chúng ta, bằng cách
phụng vụ đã „chuyển ngữ“ điều không thể hiểu được vào trong
tranh ảnh và sự tưởng tưởng hợp với chúng ta, hay ít nhất
cũng đem lại cho chúng ta những điểm liên hệ. Những điểm đó
hướng con tim chúng ta đến với niềm tin Phục Sinh. Phụng vụ
đã dùng các biểu tượng như ánh sáng và nước. Phụng vụ đã
„múc“ từ kho tàng lớn lao của sự đau khổ, của việc cầu
nguyện, của sự nghi ngờ, của niềm hy vọng mà con người chúng
ta có, và cũng chất chứa sẵn trong Cựu Ước. Từ rất nhiều lời
Thánh Kinh mà phụng vụ từ lúc đầu tiên đã dùng để làm sáng
tỏ mầu nhiệm Phục Sinh, tôi chỉ chọn ra một tâm tình. Tâm
tình này kết nối Giáng Sinh và Phục Sinh, và qua đó làm cho
sự hiệp nhất của Kitô giáo được rõ ràng hơn. Tâm tình này ở
trong thánh vịnh 24: „Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên
nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào“ (câu
7) Bài hát trong mùa vọng của chúng ta: „Macht hoch die Tür
– Hỡi cửa đền hãy cất cao lên“ được khởi hứng sáng tác từ
lời trong thánh vịnh này. Trong nguồn cội thì thánh vịnh này
là một phần trong phụng vụ về Cửa, một phụng vụ tiến vào và
phụng vụ của các cánh cửa. Người ta hát bài thánh vịnh này
trong dịp long trọng rước hòm bia thánh vào đền thờ. Vâng,
người ta muốn mời Thiên Chúa vào trong ở trong nhà này, hiện
diện ở giữa mọi người, trở thành hàng xóm láng giềng và
người chia sẻ cùng một căn nhà. Thiên Chúa cần đi vào trong
ngôi nhà của con người, để biến ngôi nhà này trở thành ngôi
nhà Thiên Chúa, và trong đó Chúa sẽ biến thế giới của con
người trở thành thế giới của Thiên Chúa. Nhưng ngay lúc đó
thì người ta cảm nhận rằng, làm sao có thể xảy ra như vậy
được: Không có ngôi nhà nào của con người có thể lớn đủ, để
cho Thiên Chúa ngự vào. Ngài vượt cao hơn tầm mức không gian
của con người. Vâng, Thiên Chúa sẽ đến ở đâu và đến như thế
nào?
Một thế giới không có cửa giành cho Chúa?
Thế
giới của con người không có cửa giành cho Chúa. Hình như là
như vậy đấy.
Thế
giới đã tự khép mình lại. Thế giới là một ngục tù, một ngôi
nhà chết. Con người trong thời đại Cựu Ước và của các văn
hóa xa xưa khác nhìn ngục tù với hình ảnh của một thế giới
chết: Ai chết, thì không bao giờ trở về lại. Người ta đã
nhìn cõi chết như là một ngục tù vĩ đại và khủng khiếp,
trong đó một bạo chúa dữ tợn cai quản. Đó là một ngôi nhà
không đường trở về. Một cảm giác về điều này được rõ ràng
hơn, khi tất cả mọi con đường của chúng ta đều dẫn vào ngục
tù, nơi chỉ có lối vào mà không có lối ra. Như vậy chúng ta
chỉ là những tội nhân. Và thế giới của chúng ta chỉ là ngôi
nhà chết, một cái phòng ở trước lối vào ngục thất. Trong
thực tế: Nếu sự chết là chữ cuối cùng, thì thế giới này là
một phòng đợi dẫn đến cái hư không.
Những thi sĩ trong thời đại chúng ta đã diễn tả về viễn cảnh
khủng khiếp này. Franz Kafka đã đi vào chỗ thẳm sâu nhất của
sự sợ hãi. Trong sự tưởng tượng về một thế giới bị thống trị
hoàn toàn, ông ta đã tự giải thích về cuộc sống của mình.
Cuộc sống trong lâu đài như là một cuộc đợi chờ viễn vông,
một cuộc thử nghiệm không lối thoát, đi qua sự lộn xộn của
bàn giấy đế tới được người mình cần gặp, để đạt tới sự giải
thoát . Trong tiến trình này cuộc sống được diễn tả như là
một tiến trình với đích đến và cái chết. Lịch sử chấm dứt
với dụ ngôn về một con người, cả một cuộc đời đã chờ đợi
trước cánh cửa, và không thể bước vào bên trong, mặc dù cửa
đó được làm ra để mở đón mời con người. Thực, nếu Đức Kitô
không sống lại thì chẳng còn gì để nói ngoài dụ ngôn con
người được nhắc ở đây. Tất cả mọi điều khác đều là thuốc mê.
Tiếng la hét trong nghi ngờ, sự giải phóng mang tính cách
bạo lực mà chúng ta đã chứng kiến và trải qua, chính là kết
quả của một thế giới từ chối niềm hy vọng, từ chối Đức Kitô.
Một thế giới không còn là ngục tù.
„Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ
kính“. Câu thánh vịnh này không chỉ để hát chơi chơi, không
chỉ thuộc về phụng vụ cửa của thời xa xưa. Đó là tiếng kêu
của con người trong một thế giới vẫn còn chật chội, dù cho
người ta có bay ra khỏi vũ trụ, có đặt chân đến mặt trăng
hay cất cánh bay xa hơn nữa. Giáng Sinh chỉ là một nửa câu
trả lời của Kitô giáo cho tiếng kêu của này. Giáng Sinh nói
rằng: Không chỉ có Thần chết, mà con có Thiên Chúa, Đấng là
sự sống, và Thiên Chúa này có thể đến với chúng ta và Ngài
cũng muốn đến với chúng ta nữa. Vâng, Ngài đã mở đường rộng
thênh thang để đến với chúng ta. Ngài đã tìm thấy cánh cửa
đủ cao cho Ngài. Và còn hơn thế nữa: Ngài đã tạo nên cánh
cửa này. Nhưng lời đáp trả chỉ được kiện toàn, khi đó không
chỉ là lối vào giành cho Chúa để đến với chúng ta, mà còn là
lối ra giành cho chúng ta nữa. Vâng, câu trả lời chỉ có thể
thỏa mãn, khi sự chết không còn là một ngục tù không lối ra
nữa. Đó chính là nội dung của sứ điệp Phục Sinh. Như vậy
ngục thất không chỉ có lối vào mà còn có lối ra. Sự chết
không còn là ngôi nhà không có lối ra nữa, không còn là mảnh
đất không có lối về.
Giáo hội thời xa xưa đã nhìn thấy trong câu thánh vịnh này
một sự giải thích cho Đức Tin: „Với giáo hội thì đây là một
bài học của ngày thứ bảy tuần thánh – không phải là những
lời buồn đau, mà là những lời chiến thắng. Giáo hội đã diễn
tả lời này rất thi vị: cái then cửa của ngục tù chết chóc,
của ngục thất nhân trần đã bị bẻ gãy, tường lũy cắt chia đã
bị phá đổ, và mọi cổng vào đã được dương cao Giêsu, Đấng đã
làm tất cả những điều này, nắm lấy tay của tất cả những tội
nhân đang xếp hàng dài – Ađam và Evà cùng tất cả nhân loại,
và Ngài dẫn đưa tất cả vào mảnh đất tự do. Cuộc sống không
còn là phòng đợi dẫn đến cái hư không, mà sự sống là sự bắt
đầu của vĩnh cửu. Thế giới không còn là trại tập trung bao
quát, mà là một ngôi vườn hy vọng. Cuộc sống không còn là
một cuộc đi tìm viễn vông về ý nghĩa, với hình ảnh là những
bước lạc đường ở bàn giấy. Thiên Chúa không phải là một nhân
viên bàn giấy. Ngài không sống trong một lâu đài xa xôi, và
Ngài không ẩn mình đàng sau căn phòng chờ không có lối dẫn
vào phía trong. Cánh cửa đã mở toang. Cánh cửa đó là: Giêsu
Kitô.
Chỉ
cho mọi người thấy ánh sáng của cánh cửa này – Đó là ý nghĩa
của lễ Phục Sinh. Tiếng kêu mời của Ngài là, không phải phân
vân gì nữa, cứ bước theo Ánh Sáng này. Ánh Sáng này không
phải là một ảo tưởng viễn vông, mà là Ánh Sáng hướng về chân
lý thực có sức cứu rỗi.
(bài giảng về ý nghĩa Phục Sinh của Joseph Ratzinger,
Benedikt XVI, trong „Wer hilft uns leben?“, Herder Verlag,
2005, S. 132-135)
Bạn
thân mến,
Đọc
những suy tư của Đức Thánh Cha, Bạn cảm thấy Phục Sinh giờ
đây là gì đối với Bạn vậy?
Cánh cửa được Đức Kitô giương cao, để Ngài vào gặp Bạn và để
Bạn ra gặp Ngài. Cánh cửa đó nói cho Bạn điều gì về tương
quan của Đức Kitô giành cho Bạn?
Đức
Kitô có phải là „Cánh Cửa“ cuộc đời của Bạn không?
Bạn
có muốn giới thiệu cho anh chị em, đặc biệt những ai đang
ngồi trong ngục thất chỉ có lối vào mà không có lối ra, cánh
cửa tuyệt vời này, Đức Kitô Phục Sinh không? Bạn sẽ phải làm
thế nào?
Mến
chúc Bạn thật vui, thật rạng rỡ khi ra ra vào vào cánh cửa
là chính Đức Kitô Phục Sinh.
Nguyện xin Ngài là sự sống lại và là sự sống, luôn mở cánh
cửa là chính Ngài, để Bạn và tôi cùng tất cả mọi người đi
vào và tìm thấy sự thật, sự sống và sự sống lại vĩnh cửu.
Amen
Phục Sinh đến, mến chúc Anh Chị Em
thật nhiều niềm vui, bình an
và hạnh phúc.
Hôm nay Đức Kitô sống lại sẽ
làm cho chúng ta, những con người tội lỗi, qua bí tích rửa
tội và qua việc đóng đinh mình vào thập giá của Đức Kitô,
trở thành con người mới, con người mang dấu ấn Phục Sinh,
mang hơi ấm sự sáng.
Halleluia Halleluia
Halleluia !!!
Thứ bảy tuần thánh
Ngồi bên mộ Chúa không chỉ khóc là đủ
„Chiều đến,
có một người giàu sang tới. Ông này là người thành
A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su.
Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ
tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. Khi đã
nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và
đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông.
Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn bà Ma-ri-a
Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay
mặt vào mồ.“ (Mt 27, 57-61)
Giêsu, người bị
khinh khi và nhục nhã, giờ đây với tất cả sự tôn kính được
đặt vào trong mộ. Ni-cô-đê-mô đã đem theo 100 cân mộc dược
trộn với trầm hương. Hai chất liệu này tỏa ra một mùi hương
rất thơm. Giống như dịp xức dầu ở Bê-tha-ni-a, ở đây cũng là
số lượng vô cùng lớn. Số lượng lớn này nhắc nhớ chúng ta về
tình yêu phung phí, về sự phong phú của tình yêu Thiên Chúa.
Tình yêu được diễn tả trong sự hiến dâng của Con Thiên Chúa.
Thiên Chúa phung phí chính bản thân mình. Nếu mức độ của
Thiên Chúa thật là phong phú, thì không có gì của chúng ta
có thể nói là nhiều cho Chúa cả.Về điều này, trong tám mối
phúc thật Giêsu đã dạy chúng ta (Mt 5, 20). Nhưng ở đây
không lẽ chúng ta không nhớ đến lời của Thánh Phao-lô, Thiên
Chúa „là Đấng đã dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức
Ki-tô, như hương thơm, lan toả khắp nơi...“ (2 Kor 2, 14 tt)
Trong sự phung phí hương thơm, niềm tin của chúng ta cần là
hương thơm, hướng về dấu chân của sự sống.
Trong giây phút
mai táng Chúa vào mồ, lời của Đức Kitô đã được kiện toàn:
„Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất
mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết
đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác“ (Ga 12, 24) Giêsu đã
trở thành hạt lúa mì chết đi. Từ hạt lúa mục chết đi này mà
một phép lạ hóa bánh ra nhiều thật vĩ đại được bắt đầu.
Nhiều đến nỗi mà bánh được cung cấp cho đến tận cùng trái
đất: Ngài là Bánh sự sống, Bánh nhiều đến nỗi đủ cho tất cả
nhân loại, và ban cho nhân loại lương thực. Với lương thực
này con người sống trong chân lý: Lời vĩnh hằng của Thiên
Chúa. Lời trở thành Thịt (Ngôi Lời làm người) và trở
thành bánh cho chúng ta, qua Thập Giá và Phục Sinh.
Qua chính
việc mai táng của Chúa Giêsu mầu nhiệm Thánh Thể được tỏ
bày. (Đàng Thánh Giá của
Joseph Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ
sáu tuần thánh, 2005, chặng 14)
Bạn
thân mến,
Hôm
nay, như các anh chị em khi xưa chúng ta cùng canh mồ Chúa
nhé! Có thể như ông Ni-kô-đê-mô, chúng ta có muốn đem mộc
dược trộn với trầm hương để ướp xác Chúa không? Vâng, một
lần nữa Chúa cần đến hương thơm, nhưng lần này là cho thân
xác của Ngài đã chết đang nằm kia. Dù thân xác chết, nhưng
tình yêu không chết.
Hay
như các phụ nữ, ngồi đó quay mặt vào trong mộ, để thương nhớ
Chúa? Tuy nhiên, không ướt át như chúng ta vẫn thường khóc
và đau buồn khi ngồi bên mộ người thân, mà giờ đây là lúc
chúng ta ngồi đó, đọc lại“ tình yêu phong phú đến mức phung
phí của Thiên Chúa nơi sự hiến dâng của Đức Kitô. Thiên Chúa
yêu chúng ta đến mức độ, Người Con duy nhất của Chúa phải
chết nằm kia trong mồ. Một cái chết vì và cho chúng ta,
những kẻ bé mọn được Chúa yêu. Vâng, hạt lúa mì đã thực sự
chết, để cho bao hương thơm của hoa trái mới vừa mới nảy
sinh tỏa lan khắp nơi nơi.
Ước gì hương thơm này
chính là hương thơm niềm tin
của mỗi người chúng ta. Không
chỉ thơm, mà hoa trái còn là lương thực, là bánh nuôi ăn.
Ước gì bánh này được trao ban đến từng mỗi cuộc đời ở từng
góc phổ của thế giới này.
Lạy Chúa,
Ngồi bên mộ Chúa không chỉ khóc là đủ.
Bên mộ Chúa không chỉ có tiếng nức nở than van thương nhớ
Chúa.
Mà bên mộ Chúa còn có hương thơm của tình yêu, hương thơm
của niềm tin.
Bên mộ Chúa còn có bao sự sống non trẻ đang vươn cao.
Xin hãy giúp
chúng con không chỉ biết đau với Chúa, không chỉ biết dùng
mộc dược trộn với trầm hương ướp xác Chúa, mà còn biết đem
hương thơm của tình yêu, của hạt lúa mì, của bánh là sự sống
đến cho anh chị em mà chúng con gặp trên đường. Amen
Thứ sáu tuần thánh
Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái
„Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá;
bảng đó có ghi: "Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái." Trong dân
Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị
đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng
các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.“ (Ga 19, 19-20)
„Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ
thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-li,
Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy
Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? " Nghe vậy, một vài
người đứng đó liền nói: "Hắn ta gọi ông Ê-li-a! " Lập tức, một
người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm,
buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những
người khác lại bảo: "Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu
hắn không! " Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh
hồn. Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng
và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi
và nói: "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa."“ (Mt 27, 45-50
und 54)
„Trên thánh giá của Đức Kitô, ngoài tấm bảng được viết bằng
hai thứ tiếng của thế giới, - Hy-lạp và La-tinh, còn có ngôn
ngữ của dân được tuyển chọn – tiếng Híp-ri. Tấm bảng đó nói về
thân phận của Đức Kitô. Ngài là ai vậy? Là Vua dân Do-thái, là
người con của Đa-vít đã hứa ban. Phi-la-tô, một quan tòa bất
chính, dù chẳng muốn nhưng đã trở thành tiên tri. Trước toàn
công chúng trên thế giới, Vương quốc của Giêsu đã được loan
báo. Còn Giêsu thì không đồng ý nhận chức vị Me-si-a theo
nghĩa sai lầm của loài người, với quyền lực và sự giải phóng.
Nhưng bây giờ thì chức vị này được công bố, treo trên thánh
giá của Người bị đóng đinh. Như vậy, Giêsu thực là Vua của thế
giới.
Bây giờ Ngài đã thực sự được „đưa lên cao“. Trong lúc tự hủy
chính mình, thì Ngài lại vươn cao lên. Bây giờ Ngài đã làm cho
sứ vụ tình yêu được hoàn tất sung mãn. Giêsu đã tự chối bỏ
mình, nhưng chính lúc đó thì Ngài lại xuất hiện là một Thiên
Chúa thực sự, Thiên Chúa là tình yêu.
Bây giờ chúng ta biết rằng, Thiên Chúa là ai.
Bây giờ chúng ta nhận ra rằng, Vương Quốc thực sự như thế nào.
Giêsu đã cầu nguyện với thánh vịnh 22, bắt đầu với lời: „Lạy
Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con...“
(Tv 22, 2) Ngài đón nhận dân Do-thái đang đau khổ, Ngài đã đón
nhận cả nhân loại đang khổ đau, và cả nỗi thống khổ mù tối về
Thiên Chúa của họ. Ở tại nơi đó Ngài đã để Thiên Chúa hiện ra,
nơi mà Ngài đã thất bại hoàn toàn, và như không còn bóng dáng
gì nữa.
Thánh Giá của Đức Kitô là một sự kiện thật là tếu. Thế giới
trở nên tối tăm, nơi con Thiên Chúa đầu hàng trước cái chết.
Đất đai giao động. Và tại cây Thánh Giá này khởi sự một giáo
hội của dân ngoại. Viên đại đội trưởng nhận ra và tuyên xưng
Ngài là Con Thiên Chúa.
Từ Thánh Giá Ngài đã chiến thắng – vài chiến thắng mãi mãi .“
“ (Đàng Thánh Giá của Joseph
Ratzinger, ĐTC Biển Đức XVI, tại KOLOSSEUM Roma, thứ sáu tuần
thánh, 2005, chặng 12)
Lạy Chúa Giêsu, trong ngày
Chúa chết, mặt trời đã bị „nhuộm“ đen. Chúa luôn luôn bị đóng
đinh trở lại. Ngay trong giây phút lịch sử này chúng con sống
trong sự tối tăm về Thiên Chúa. Vì phải đau khổ tột cùng và
phải chịu đựng sự bất nhân của loài người, nên khuôn mặt của
Chúa đã bị „bôi“ đen, chẳng còn có thể nhận ra được nữa. Nhưng
chính trên Thánh Giá Chúa đã cho mọi người nhận ra Chúa. Vâng,
là một người đau khổ, và là một người yêu đang được giơ cao
lên. Ngay lúc này Chúa đã chiến thắng.
Xin giúp chúng con, trong giây
phút đen tối này và trong lúc lộn xộn,
vẫn nhận ra được khuôn mặt dấu
yêu của Chúa.
Xin giúp chúng con luôn biết
tin tưởng vào Chúa,
và luôn theo chân Chúa ngay
trong giờ phút đen tối và thê thảm nhất.
Xin hãy chỉ cho thế giới thấy
khuôn mặt mới mẻ của Chúa.
Xin cho chúng con thấy ơn Chúa
cứu độ. Amen
Thứ năm tuần Thánh
Bàn tiệc thánh hiến – bàn tiệc tình yêu
„ Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa,
tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su
cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh
em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em
hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế,
cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy,
Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm
như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Thật vậy, cho tới
ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em
loan truyền Chúa đã chịu chết“ (1 Cr 11, 23-26)
„Ở đây Giêsu liên hệ tới những điều căn bản của Cựu Ước. Một
đàng Giêsu hướng về giao ước ở núi Si-nai. Qua đó Ngài muốn
làm cho rõ ràng rằng, điều đã được bắt đầu ở Si-nai, giờ đây
sẽ được diễn ra: Giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với loài
người, giờ đây được hoàn tất. Bữa tiệc ly là sự thiết lập giao
ước mới. Một cộng đoàn huyết thống giữa Thiên Chúa và nhân
loại được kiện toàn, bằng cách chính Chúa đã trao ban mình cho
loài người...
Ở đây cũng có hình ảnh của Thập giá. Vì khi Đức Kitô ban mình
và máu, ban chính mình, thì điều kiện phải có là, Ngài đã thực
sự trao ban. Như vậy, những lời của Đức Kitô chứa đựng tinh
thần của Thập Giá. Tinh thần này được diễn ra, khi Thiên Chúa
biến đổi bạo lực chống lại Ngài trở thành hành động của sự tự
hiến dâng mình cho nhân loại.
Một điều nữa cũng tiềm ẩn ở đây. Đó là sự Phục
Sinh. Mớ thịt chết, thân xác chết người ta không thể cho đi để
làm của ăn. Chỉ vì Ngài sống lại, nên mình và máu của Ngài trở
nên mới. Đó không còn là việc ăn thịt người nữa, mà là sự hiệp
nhất với Đấng Phục Sinh sống động. » (Joseph Ratzinger,
Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 350-351)
Bạn thân mến,
Thứ năm tuần thánh, ngày giáo hội không chỉ
nhớ lại mà còn làm sống động lại bữa tiệc thành lập bí tích
thánh thể của Đức Kitô. Bữa tiệc này, với lời nói và hành động
hiến dâng của Đức Kitô, từ đó đến nay hơn 2000 năm rồi, vẫn là
bữa tiệc sống động và được mừng mỗi ngày trên khắp mọi nơi
trên địa cầu. Điều này không chỉ là một hiện tượng của quá
khứ, mà có thể nói rằng, là hiện tượng kéo dài mãi mãi, cho
đến khi bữa tiệc trên núi thánh sẽ được diễn ra trong ngày sau
cùng.
Vâng, đọc lại lời của Đức Kitô trong thư của
thánh Phao-lô và đọc những suy tư của Đức Thánh Cha, chúng ta
nhận ra được nhiều ý nghĩa sâu sa. Đó chính là tiến trình cứu
độ của Thiên Chúa. Tiến trình bắt đầu từ giao ước cũ đến giao
ước mới. Vâng, tiến trình của một Thiên Chúa trao ban chính
mình cho nhân loại, để ký kết giao ước tình yêu với muôn
người.
Tiến trình này « nở hoa » trên cây Thập Giá,
nơi sự hiến dâng đạt đến mức tột đỉnh. Nhưng nếu tiến trình
tình yêu này chỉ kết thúc nơi cái chết thê thảm kia của Đức
Kitô, thì có lẽ mọi chuyện đã đi vào dĩ vãng lâu rồi, và chẳng
có ai nhắc tới làm chi. Không, thập giá là cây nở hoa. Nhưng
hoa kia không chỉ đẹp rồi tàn, mà Thiên Chúa còn biến cái đẹp
bên ngoài, thành cái đẹp vĩnh cửu. Vâng, cái đẹp của hoa giờ
đây đâm trái Phục Sinh.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng vào bàn tiệc thánh
với Đức Kitô. Chúng ta hãy thực sự ý thức về ý nghĩa sâu sa
của bàn tiệc thánh. Bàn tiệc thánh hiến – bàn tiệc tình yêu.
Vâng, một tình yêu hiệp nhất con người với Đức Kitô, một Đức
Kitô không chỉ khổ đau rồi chết, mà còn là một Đức Kitô Phục
Sinh sống động hoàn toàn. Chúng ta hãy ở lại trong tương quan
hiệp nhất này, để hưởng cái vị đắng của khổ đau, và vị ngọt
của tình yêu thánh hóa khổ đau trở thành niềm vui Phục Sinh
trường cửu.
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa muôn ngàn lần về bữa
tiệc thánh hiến, bữa tiệc của tình yêu. Xin hãy làm cho chúng
con trở nên một với Chúa, Đấng vì yêu mà phải chết, Đấng vì ơn
cứu rỗi chúng con nên đã sống lại thực sự. Amen
Thứ
tư tuần thánh
Người đẹp
vô song tuyệt mỹ chẳng còn đáng để ngắm nhìn nữa sao?
„Người tôi
trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh,
như khúc rễ trên đất khô cằn.
Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong
đáng chúng ta ngắm nhìn,
dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.“ (Is 53, 2)
Bạn thân mến,
Hôm qua Bạn
đã suy niệm đoạn thánh kinh kể việc Chúa Giêsu đã công khai
hóa việc mình bị bội phản, bị bán đứng bởi chính môn đệ của
mình, và còn bị chối từ nữa. Bạn cảm nhận điều gì qua đoạn
Thánh Kinh đó?
Giêsu, người
đẹp vô song tuyệt mỹ, bị bội phản, bị chối từ. Và rồi điều gì
sẽ đến với Giêsu, đó là bắt bớ là tra tấn, là đau đớn và rồi
án tử và cái chết đau thương trên thập tự. Ở
trên thập tự đó, Giêsu “chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn
oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, ung mạo chẳng còn gì khiến
chúng ta ưa thích.“ Đó chính là thân phận của ngưòi
tôi trung, của người đẹp vô song tuyệt
mỹ. Vâng, „giờ đây chẳng còn có ai muốn ngắm nhìn người
đẹp của muôn người đẹp nữa. Phi-la-tô
đặt Giêsu giữa đám đông và nói: „Đây là người.“, để đòi hỏi sự
cảm thông thương xót cho người bị đánh đón, người đã mất đi vẻ
đẹp bên ngoài của mình.“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger,
Unterwegs zu Christus, S. 32)
Giờ đây,
chúng ta hãy đọc lại đoạn thánh kinh của ngày hôm nay của
Mát-thêu 26, 14-25. Bạn hãy đặt mình là một trong các môn đệ
trong câu chuyện. Bạn sẽ có phản ứng gì khi nghe Giêsu nói?
Bạn sẽ cảm thông với Giêsu như thế nào?
Từ từ Giêsu
sẽ đi vào con đường đau khổ. Bạn có muốn theo Ngài không? Với
Bạn Giêsu còn là người đẹp vô song tuyệt mỹ,nét duyên tươi
thắm nở môi ngài, nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi
mã, nữa không? Hay cũng như muôn người Bạn không còn muôn
người chẳng còn thích thú gì để nhìn dung mạo Giêsu nữa.
Cuối cùng Bạn
hãy tâm tình một chút với Giêsu.
Lạy Chúa,
..............................
Thứ
ba tuần thánh
Giêsu, ánh sáng cho muôn dân
„Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để người
đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.“ (Is 59, 6b)
Bạn thân mến,
Hôm qua chúng ta đã cùng chiêm ngắm vẻ đẹp Giêsu, và cũng làm
đẹp cho Giêsu, để vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên
khuôn mặt của Giêsu. Thật tuyệt vời phải không Bạn?
Vâng, khuôn mặt của Giêsu, của người tôi trung rạng ngời vinh
quang Thiên Chúa, để cho mọi dân dân nước nước nhìn ngắm,
chiêm ngưỡng, và cất tiếng ngợi khen Danh Chúa trên trời. Vì
thế, Giêsu chính là ánh sáng muôn dân, chính Giêsu đem ơn cứu
độ của Thiên Chúa đến mỗi tâm hồn, vào trong từng mái nhà, đến
mỗi xóm làng. Vâng, đến tận cùng trái đất.
Vẻ đẹp của Giêsu là thế đó.
Vẻ đẹp không giữ cho riêng mình.
Chân lý cần được trao tay.
Tình yêu cần được sẻ chia.
Thực, Giêsu không chỉ đẹp mà còn sống vẻ đẹp này nữa. Nghĩa là
Ngài đã dấn thân cho Chân Lý, sống cho tình yêu. Cụ thể, Ngài
đã liều mình chết cho nhân loại. Chúng ta dừng bước nơi đây để
nghe Đức Thánh Cha giải thích về tâm tình này: „Ai tin vào
Thiên Chúa, tin vào một Thiên Chúa đã tự bộc lộ tình yêu của
mình ra trong hình hài của kẻ bị đóng đinh, thì người đó nhận
ra rằng, vẻ đẹp là chân lý và chân lý là vẻ đẹp. Nhưng trong
sự đau khổ của Giêsu, thì người ta cũng học biết rằng, Vẻ đẹp
của chân lý chất chứa tổn thương, đau đớn, vâng, một mầu nhiệm
đen tối của sự chết.“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger,
Unterwegs zu Christus, S. 32)
Như vậy, hôm nay, ngày thứ ba tuần thánh, chúng ta không chỉ
ngắm nhìn vẻ đẹp của Giêsu, mà chúng ta còn được dẫn vào trong
chiều sâu của vẻ đẹp vô song tuyệt mỹ nơi Giêsu, đó là khổ
đau, là bội phản, là cái chết. Mời Bạn hãy đọc lại bài phúc âm
của ngày hôm nay trong Phúc Âm Gioan, 13, 21-38. Bạn hãy giành
thời gian và đọc lại nhiều lần đoạn Thánh Kinh này, và tự hỏi
mình xem:
-
Giêsu đang ở trong
hoàn cảnh nào?
-
Ngài đang phải đón
nhận điều gì?
-
Ngài đã phản ứng ra
sao trước thái độ và lời nói của người xung quanh?
-
Phần tôi, nếu tôi
cũng đang có mặt bên cạnh Giêsu, tôi sẽ nghĩ, sẽ nói và sẽ có
thái độ nào,
để qua đó bày tỏ niềm tin và tình
yêu của tôi đối với Giêsu?
Cuối cùng, xin Bạn dâng lên một lời cầu nguyện nhé!
Thứ hai tuần thánh
Làm đẹp cho Giêsu
„Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ
nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí
chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của
Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.“ (2Cor 4,6)
Bạn thân mến,
Hôm qua, chúng ta đã cùng muôn người chào đón người đẹp vô
song tuyệt mỹ là Đức Kitô. Không chỉ tạo vật dưới đất mở lời
chúc tụng, mà chúng ta còn ngẩng cao đầu, mời gọi trời cao
cũng hãy cất tiếng lên: „Hoan hô trên các tầng trời.“
Hoan hô, vì trên khuôn mặt của Đức Kitô, không chỉ tỏ lộ vẻ
đẹp mỹ miều của chân lý, mà còn tỏ hiện vinh quang của Thiên
Chúa rạng ngời. Về điều này, Đức Thánh Cha đã nói: „Nếu lời
nào diễn tả về vinh quang của Thiên Chúa, thì cũng chỉ về
gương mặt của Đức Kitô, như nơi thánh Phaolô (ss. 2 Cor 4,6)“
(Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu Christus, S.
14-15)
Vậy, chúng ta hãy ngước nhìn và ngắm gương mặt của Đức Kitô.
Đấng là Ánh sáng bừng lên từ nơi tối tăm. Chúng ta cảm nhận
như thế nào khi chúng ta ngắm nhìn Ngài? Khi ngắm nhìn Ngài,
chúng ta, từ chính bản thân mình, có muốn làm một cái gì để
góp một chút công sức tô thêm vẻ đẹp của Đức Kitô không?
Đây là một điều rất tếu! Vì chưa có bao giờ tôi lại nghĩ rằng,
mình sẽ góp một chút gì để „làm đẹp cho Chúa.“ Hơn nữa, Chúa
có cần đến sự góp phần của tôi không?
Trước khi đi tiếp, xin mời Bạn cùng dừng bước với tôi nơi đây,
chúng ta đọc lại bài phúc âm của ngày thứ hai tuần thánh hôm
nay, trong PÂ thánh Gioan 12, 1-11.
Trong câu chuyện này, có một điều chúng ta cùng chú ý, khi cô
Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức
chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau, đến nỗi cả nhà sực mùi
thơm, thì chính Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói:
„"Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho
người nghèo? " Đức Giêsu phản ứng và trả lời thế nào đây? "Hãy
để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai
táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào
cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu."
Đây là một trong số ít lần Đức Giêsu tỏ lộ ý muốn được người
khác chăm sóc cho mình. Thử đặt mình trong câu chuyện này, mỗi
người chúng ta hỏi mình xem, dầu thơm tôi làm đẹp cho Chúa là
dầu thơm gì vậy? Tôi sẽ chọn dầu thơm nào trong tiệm nước hoa
của cuộc đời để xức cho Chúa đây, để qua đó vinh quang của
Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt của người đẹp vô song
tuyệt mỹ là Đức Ki-tô?
Lạy Chúa Kitô, con cũng muốn làm đẹp cho Chúa.
Xin hãy chờ con một chút.
Con sẽ đi tìm loại dầu thơm hảo hạng nhất để xức lên đầu
Chúa.
Dầu thơm đó là chính tấm lòng yếu hèn của con,
chính là cả con người nhỏ bẻ của con.
Vâng, yếu hèn và nhỏ bé, nhưng chứa đựng hương của hoa tình
yêu.
Ước gì với chút dầu thơm này, vinh quang của Thiên Chúa
rạng ngời hơn nữa trên gương mặt của người đẹp vô song tuyệt
mỹ là chính Chúa. Amen
Chúa
Nhật lễ Lá
Người đẹp
nhất trong muôn người đẹp
„Giữa thế
nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
nét duyên tươi thắm nở môi ngài,
nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi.“ (Tv 45, 3)
Bạn thân mến,
Hôm nay,
trong ngày lễ Lá chúng ta cùng với nhân loại chào đón người
đẹp nhất giữa muôn người đẹp. Bạn hãy mường tường, cùng với
muôn người Bạn đang đứng hai bên đường, trên tay cầm cành cây
vạn tuế, và hồi hộp chờ đợi người đẹp vô song tuyệt mỹ.
Và hôm nay,
chúng ta có thể mở miệng tung hô rằng:
„Giữa thế
nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
nét duyên tươi thắm nở môi ngài,
nên ngài được Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi.“
Vâng, theo
Đức Thánh Cha, thì „Giáo Hội với lời thánh vịnh trên đã xác
tín và công nhận Đức Kitô là người đẹp nhất của muôn người.
Nét duyên tươi thắm nở trên môi Ngài, hướng đến vẻ đẹp bên
trong của những lời Ngài nói, hướng về sự vinh quang của Tin
Mừng. Như vậy, vẻ đẹp được ca ngợi ở đây không phải là vẻ đẹp
theo dáng vẻ bên ngoài của Đấng Cứu Thế, mà trong Ngài vẻ đẹp
của chân lý được tỏ hiện, vẻ đẹp của chính Thiên Chúa, vẻ đẹp
của Ngài làm cho chúng ta say mê, và thêm vào đó vẻ đẹp của
Ngài tặng ban cho chúng ta sự tổn thương của tình yêu, một
tình yêu thánh“ (Benedikt XVI, Joseph Ratzinger, Unterwegs zu
Christus, S. 31)
Với tất cả
tâm tình, trên tay cầm cành lá đã được làm phép, chúng ta cùng
với Giáo Hội cất lời chúc tụng Đức Kitô, người đẹp vô song
tuyệt mỹ:
Hoan hô
con Vua Đa-vít:
Chúc tụng
vua Israel,
Đấng nhân
danh Chúa mà đến:
Hoan hô
trên các tầng trời.
Hoan hô!
Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!
Chúc tụng
triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta.
Hoan hô
trên các tầng trời!
Bạn cảm thấy
sao khi cùng với mọi người cao lời chúc tụng?
Bầu khí đón
mừng Đức Kitô, người đẹp vô song tuyệt mỹ, của muôn muôn người
để lại cho bạn cảm nhận gì?
Giờ đây, Đức
Kitô là ai đối với Bạn vậy?
Hình Suy Niệm
Đường Thầy mời gọi
"Chính
Thầy là con đường,
là sự
thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)

Thứ bảy sau CN V mùa Chay
Bị nộp – sẽ đổ ra
« Tất cả các con, cầm
lấy mà ăn: Này là Mình Thầy. Sẽ bị nộp vì các con.
Tất cả các con, cầm lấy
mà uống: Này là Chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh
cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con
hãy làm việc này, mà nhớ đến Thầy. «
(Kinh tạ ơn II)
Bạn thân mến,
Lời của Đức Kitô trong
bữa tiệc ly đã trở thành một ngôn thức thánh, được nhắc đi
nhắc lại cho đến hôm nay, và tiếp tục được nhắc lại cho tới
ngày sau. Theo Đức Thánh Cha thì : « Đây là những từ ngữ chứa
đựng một kho tàng vĩ đại và một chiều sâu thăm thẳm. Nếu ai
muốn làm quen Đức Kitô, thì cách tốt nhất là có thể làm quen
với Ngài trong tâm tình suy niệm những lời trên, cũng như
trong lúc cử hành mừng sự hiện diện của Lời này, Lời đã trở
thành Bí Tích. Bí Tích Thánh Thể là tổng thể của tất cả những
gì về Đức Kitô. » (Joseph
Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)
Hôm nay, trong nửa giờ
chầu thánh thể này, xin mời Bạn hãy để những lời của Đức Kitô,
lời mà Giáo Hội nhắc lại trong mỗi thánh lễ, sống động lại
trong lòng Bạn.
Cụ
thể, xin mời Bạn theo những bước
sau:
- Với tất cả tâm tình,
chúng ta cùng bái gối thờ lạy Chúa và làm dấu thánh giá.
- Quỳ xuống chúng ta
nhẹ nhàng thở ra hít vào một vài lần.
- Hướng nhìn lên Chúa
Thánh Thể trong thinh lặng, và dâng Chúa một lời nguyện đơn
sơ.
- Sau đó chúng ta hãy thầm nhủ lời của
Đức Kitô: « Tất cả các con, cầm lấy
mà ăn: Này là Mình Thầy. Sẽ bị nộp vì các con. Tất cả các con,
cầm lấy mà uống: Này là Chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao
ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.
Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Thầy"
-
Chúng ta « nhai đi nhai lại » lời này, và mỗi khi khám phá
được điều gì sâu sa, thì chúng ta dừng lại và để cho tâm tình
đó thấm vào lòng mình.
- Kết thúc chúng ta
cùng đọc lên lời kinh Lạy Cha
Thứ sáu sau CN V mùa Chay
Đường Thầy mời
gọi
"Chính Thầy là
con đường, là sự thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)
„Điều gì sẽ xảy
ra, nếu Đức Kitô không hiện ra, và không chết trên cây thập
tự? Và không có Đức Kitô, thì thế giới này sẽ qua đi lâu rồi?
Chúng ta không thể
nói như vậy được. Nhưng chúng ta có thể nói rằng, con người sẽ
không tìm thấy một lối đi đến với Chúa. Như thế, con người chỉ
có thể liên hệ với Chúa qua những „mảnh gãy“ chắp vá. Và cuối
cùng con người chẳng biết Thiên Chúa là ai và là gì.
Dĩ nhiên, trong
các tôn giáo lớn luôn có tia sáng của Thiên Chúa chiếu tỏa
lên, nhưng rồi những tia sáng đó chỉ là và tiếp tục là những
„mảnh gãy“ và những câu hỏi mà thôi. Nếu câu hỏi về Thiên Chúa
không tìm thấy câu trả lời, nếu con đường dẫn đến Chúa bị bịt
lại, nếu không có sự thứ tha đến từ quyền năng của Thiên Chúa,
thì cuộc sống của đời người trở thành một cuộc thí nghiệm vô ý
nghĩa. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã tự mình „xé toang“ tầng mây.
Ngài đã chiếu tỏa một Ánh Sáng, và ban cho chúng ta một con
đường. Đường đó chính là sự thật. Trên đường đó chúng ta được
phép đi và sống. Và đường đó chính là sự sống“. (Joseph
Ratzinger, Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)
Bạn thân mến,
Một mẩu đối thoại
giữa ký giả Peter Seewald với Đức Thánh Cha dẫn chúng ta khám
phá sâu hơn về con đường của Đức Kitô đi.
Hôm qua, chúng ta
đã cùng suy niệm về hình ảnh một Thiên Chúa chịu đau khổ và
bất lực trước cái chết. Có thể chúng ta cũng sẽ đặt câu hỏi,
điều gì xảy ra nếu Đức Kitô không phải đau khổ và phải chết?
Công trình cứu độ sẽ như thế nào, nếu Đức Kitô từ chối con
đường khổ nạn?
Chắc chắn là chúng
ta không biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng có một điều mà Đức
Thánh Cha nói rất rõ, là chúng ta sẽ không tìm thấy lối đi đến
với Chúa. Vâng, nếu Thiên Chúa không xuất hiện và không chia
sẻ cuộc sống với chúng ta, thì chúng ta chẳng có thể gặp gỡ
được Ngài. Chúng ta không thể nhận biết được Ngài là ai đối
với chúng ta. Nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã đi vào cuộc
đời, và đã theo gót chúng ta cho đến đoạn đường đau khổ nhất,
đó là đoạn đường thánh giá khổ nạn, và chia sẻ sự tồi tệ nhất
của đời người, đó là cái chết. Qua chính cuộc sống và sự hiến
dâng của Ngài, chúng ta có thể hiểu được phần nào điều Ngài có
lần đã nói: „Thầy là đường, là sự thật và là sự sống“. Đường
đó là đường của khổ đau, của thất bại, đường đó dẫn đến cái
chết. Nhưng đường đó không dừng bước ở chỗ cái chết, mà xuyên
suốt qua cái chết, để rồi dẫn đưa tất cả mọi cuộc đời tìm thấy
sự thật, thấy chân lý. Chân lý của tình yêu, với chân lý đó,
con người tìm thấy một sự sống đích thực. Sự sống với Đức
Kitô, với Cha, và Thánh Thần Chúa. Đó là hạnh phúc lớn lao
nhất của từng con người đi trên con đường là chính Đức Kitô.
Hôm nay, trước
những ngày Giáo Hội sống lại con đường khổ nạn của Đức Kitô.
Có lẽ như ngày xưa, Đức Kitô sẵn sàng cất bước lên trên con
đường đó, và Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng bước đi với Ngài.
Vâng, đó là đường Thầy mời gọi. Chúng ta có đi không?
Lạy Cha, xin
hãy dẫn dắt chúng con đến với con đường của mọi con đườn,g đó
là Đức Kitô. Xin ban cho chúng con can đảm, sức mạnh và niềm
tin mạnh mẽ, đế Đức Kitô đi đâu, thì con vẫn trung tín theo
Ngài, đặc biệt trên đoạn đường cam go nhất.
Vâng, dù sao
chúng con luôn tin rằng. Đức Kitô còn là sự thật và là sự
sống. Amen.
Thứ năm sau CN V mùa Chay
Một Thiên Chúa
bất lực trước cái chết,
Bạn có chấp
nhận không?
"Con Người sẽ
bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày
sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại." (Mc 9, 31)
„Giêsu hướng các
môn đệ về một điều, đó là Đấng Cứu Thế xuất hiện không như một
lãnh tụ vĩ đại, sẽ tái lập vinh quang của nước Ít-ra-en với
quyền lực như thuở xưa. Giêsu cũng không tự gọi mình là Đấng
Cứu Thế, mà là Người Con. Con đường của Người Con thì hoàn
toàn ngược lại. Trên con đường đó Người Con bất lực, tự mình
đón nhận cái chết, bị trao nộp cho dân ngoại, như chính Ngài
đã nói, và bị dân ngoại đóng đinh vào thập tự. Các môn đệ cần
phải học biết về một vương quốc của Thiên Chúa như vậy trong
thế giới này, chứ không khác hơn được“ (Joseph Ratzinger,
Benedikt XVI, Gott und die Welt, S. 349)
Bạn thân mến,
Niềm tin của chúng
ta vào Thiên Chúa, Đấng chúng ta hy vọng, Đấng chúng ta tín
thác, giờ đây bị thử thách. Vì Thiên Chúa đang tự mình đi vào
trong đau khổ, đang tự mình đi vào con đường chông gai, con
đường mà chẳng có ai, những con người có lý trí, muốn đi cả.
Không chỉ thế, Đấng Cứu Thế còn bất lực khi đối diện với thần
chết, và một cách nào đó đầu hàng trước quyền lực của thần
chết. Đâu rồi hình bóng một Thiên Chúa mà chúng ta vẫn nói với
nhau rằng, Ngài là nguồn của sự sống? Đâu rồi một Thiên Chúa
đã từng nói những điều hay lẽ phải, đã từng làm những việc tốt
lành, giúp đỡ rất nhiều anh chị em? Đâu rồi hình bóng một
Thiên Chúa của tình yêu? Ngài có còn là Ngài nữa hay không?
Một Thiên Chúa bất
lực trước đau khổ và cái chết, Bạn có chấp nhận Ngài hay
không?
Bạn còn muốn tin
tưởng vào Ngài nữa hay chăng?
Vâng, lúc này
chính là lúc mà niềm tin của Bạn và của tôi đang bị tôi luyện
thử thách.
Nhưng nếu chúng ta
vẫn một lòng hướng nhìn lên Chúa, một lòng trung thành với
Chúa, thì chúng ta sẽ không bao giờ thất vọng. Đừng quên rằng,
trong 3 lần tiên báo của Giêsu về con đường chông gai, Giêsu
không bao giờ quên thêm vào một câu ngắn ngủi, nhưng lại rất
quan trọng: „ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống
lại“.
Lạy Chúa, chúng
con tin Chúa, xin Chúa củng cố niềm tin yếu đuối của chúng
con,
đặc biệt trong
lúc này Chúa ơi! Amen