CHIẾC THẢM THỔ NHỈ KỲ
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
(Mới đây
tôi đến chơi nhà người bạn và thấy một
chiếc thảm rất đẹp trải ở nhà khách. Tôi
khen tấm thảm đẹp quá! Bạn tôi liền nói:
“Mới mua tại Thổ Nhỉ Kỳ đó…Mua khi đi
tháp tùng ĐGH Bêneđíctô XVI sang bên đó
trong chuyến công du mục vụ của Ngài !”.
Tôi liền nói:”Vậy có được đi sát Đức
Thánh Cha không?”. “Không đâu”, bạn tôi
trả lời! “Vậy đi theo từ xa chứ gì !”.
“Đúng rồi…cũng như bao nhiêu người
khác…theo dỏi từ Tivi ấy mà…Tuy nhiên
mua chiếc thảm nầy để kỷ niệm ngững ngày
trọng đại trong chuyến công du vô cùng
quan trọng nầy !” Ý kiến đặc biệt của
người bạn thúc đẩy tôi dành thời giờ để
đọc lại một số các tài liệu và các bài
tường thuật của báo chí và các phương
tiện truyền thông khác để viết 2 bài
này như một kỷ niệm gửi đến quý vị và
các bạn đọc trong dịp các ngày nghỉ lễ
sắp tới và cùng sống lại những ngày
trọng đại đó và cầu nguyện cho cuộc thăm
viếng đó đem lại những thành qủa tốt đẹp
cho hòa bình và tình thân hữu giữa mỗi
con người thuộc các chủng tộc, các nền
văn hóa, tôn giáo khác nhau.
Bài I:
THỔ NHỈ KỲ XƯA VÀ NAY
Bài
II: MỘT CUỘC THĂM VIẾNG LỊCH SỬ.
THỔ NHỈ
KỲ XƯA VÀ NAY
(Lm. Anphong
Trần Đức Phương).
Thổ Nhỉ Kỳ
ngày nay có tên chính thức là Nước Cộng
Hòa Thổ Nhỉ Kỳ: có Tổng Thống (Ahmet
Necdet Sezer), Thủ Tướng (Recep Tayyip
Erdogan) và Quốc Hội. Thủ đô là Ankara.
Theo tài liệu báo chí, dân số của Thồ
Nhỉ Kỳ hiện nay khỏang 72 triệu; trong
đó 80% là người Thổ, 20% là sắc dân
Kurk. Ngòai ra còn có khỏang một triệu
người di dân “tị nạn” từ các nước chung
quanh đến. Ngôn ngữ chính là tiếng Thổ,
nhưng cũng có sắc dân nói tiếng Kurk,
tiếng Àrập, tiếng Armenia, và tiếng Hy
Lạp. Về tôn giáo thì hầu hết là Hồi Giáo
(99.80%) (đa số là phái Sunni); một số
là Do Thái Giáo; Chính Thống Giáo có
khỏang 5.000 tín hữu (có 150 triệu tín
hữu Chính Thống Giáo trên tòan thế
giới). Công Giáo có 32.000 tín hữu (phần
nhiều sống tại Istanbul). Theo hiến pháp
Thổ, quyền tự do tôn giáo được tôn
trọng; tuy nhiên, theo báo chí, những
sắc tộc và tôn giáo thiểu số thường gặp
khó khăn trong sinh họat hàng ngày, và
thực hành tín ngưởng của mình. Các người
làm các công tác tôn giáo từ nước ngòai
vào cũng gặp khó khăn khi xin Giấy Nhập
Cảnh.
Thổ Nhỉ Kỳ
có hình thể như một hình vuông. Diện
tích tổng cộng là 814.578 km2; trong đó
790.200 km2 là thuộc Á Châu (phía Đông)
và 24.378 km2 là thuộc Âu Châu (phía
Tây). Nhìn trên Bản đồ Thế Giới, TNK nằm
giửa ngã ba Á Châu và Âu Châu; băng qua
biển Địa Trung Hải là Phi Châu. Phía Bắc
là biển Hắc Hải; phía Nam là Địa Trung
Hải. Phía Đông tiếp giáp Georgia (trước
thuộc Liên Bang Sô Viết), Armenia, và
Iran. Phía Tây giáp Bulgarie và Hy Lạp.
TNK đã có
một lịch sử lâu dài tử khi còn nằm trong
lảnh thổ của Đế Quốc Byzance. Trải qua
những biến cố khác nhau của lịch sử, đến
năm 1453, những người Thổ chiếm và thiết
lập Đế Quốc Hồi Giáo Ottamans, thủ đô
là Istanbul (đổi tên tử Constantinople).
Đến năm 1923, cuộc cách mạng do MUSTAFA
KEMAL (1881-1938) lảnh đạo đã lật đổ
chế độ Ottamans và thiết lập CỘNG HÒA
THỔ NHỈ KỲ và đã biến nước TNK trở nên
có tính cách dân chủ và tự do hơn; đồng
thời nhờ Ông mà cuộc cài tổ và tái thiết
TNK được tiến rất nhanh. Vì thế ngày
nay TNK tôn vinh Ông là “Người Cha của
những người TNK”. TNK đã được gia nhập
Liên Hiệp Quốc từ năm 1945; là thành
viên của NATO từ năm 1952; và đang hy
vọng được gia nhập EU. Ngày cách mạng
19/10/1923 là ngày chính thức thành lập
nước Cộng Hòa Thổ Nhỉ Kỳ và được mừng là
ngày Quốc Khánh.
TNK cũng nổi
tiếng về công ngiệp làm thảm đẹp không
kém gì thảm “Ba Tư”. Có một thời TNK
cũng nổi tiếng về có nhiều ngựa đẹp,
nhất là ở vùng Cappadocia xưa. Chử
Cappadocia có ngĩa “Đất ngựa đẹp”. Nói
đến ngựa chúng ta cũng nhớ đến câu
chuyện “Ngựa Thành Troie”. Troie là một
thành cổ xưa cũng thuộc TNK .
Nói đến TNK
, chúng ta cũng nhớ đến “Ông Già Noel”.
Ông Già Noel được gọi là “Santa Claus”
chính là tên gọi của Thánh Nichola; vì
trong tiếng Đức “Nichola” là “Klaus”.
Thánh Nichola sống vào thế kỷ IV và là
Giám Mục thành Myra, nay thuộc Thổ Nhỉ
Kỳ. Theo truyền thuyết Ngài là người hay
làm “phép lạ” để cứu những người gặp
hòan cảnh khó khăn. Đến thế kỷ thứ IX,
dân chúng người Đức đặc tên cho Ngài
“Người Xuất Hiện Buổi Chiều trước Lễ
Giáng Sinh!” có tên là “Santa Claus”.
Đến thế kỷ XI, dân chúng lại coi Ngài
như một Ông Già chuyên môn đi phát kẹo
cho trẻ em vào buổi chiều Đại Lễ Giáng
Sinh.
Vì là điểm
giao lưu thuận lợi giữa Đông và Tây,
giữa Á Châu và Âu Châu, TTNK đã đóng một
vai trò quan trọng trong lịch sử của Đế
Quốc Rôma xưa, của lịch sử Thế Giới và
của Giáo Hội Công Giáo. TNK đã được coi
là cây cầu lịch sử nối liền Phương Đông
và Phương Tây. Thánh Phaolồ đã từng đi
qua và sống ở những vùng thuộc Thổ Nhỉ
Kỳ ngày nay ; đặc biệt là hai thành phố
Ephêsô và Capadocia.
Thành phố cổ
ÊPHÊSÔ đã đổ nát và nay là một trong
những nơi khảo cổ nổi tiếng nhất thế
giới. Thời Đế Quốc Rôma, Êphêsô là một
thành phố đông dân cư và là trung tâm
thương mại rất thịnh vượng, nằm trên bờ
biển Egée; cũng là nơi có một Cộng Đòan
tín hữu Công Giáo rất thịnh vượng. Có
nhiều người Hy Lạp và Do Thái cư ngụ ở
đây. Thánh Phaolô trong cuộc hành trình
truyền giáo III đã đi qua đây và ở lại
khỏang 2 năm (theo Sách Công Vụ Tông Đồ
19, 10) hoặc 3 năm (CVTĐ 20, 31) (khỏang
năm 54-57) và thành lập Giáo Đòan
Êphêsô; sau đó Ngài từ giả Giáo Đòan
Êphêsô vào dịp Lễ Ngủ Tuần (1Côrintô
16,8) vì phải lên đường trở về
Giêrusalem (CVTĐ 19,21 và 20, 17-22).
Trong thời gian cư ngụ tại Êphêsô, Thánh
Phaolô đã viết “Thư I gửi Tín Hữu
Corintô” (I Cor 16, 8). Thánh Phaolô
cũng viết một lá thơ “Gửi Tín Hữu
Êphêsô” mà theo truyền thống thì Ngài đã
viết thơ này khi bị giam giử tại Rôma
(61-63). Tại Êphêsô, Thánh Phaolô gặp
một tín hữu Do Thái là Ông Apôlô. Là một
người có tài hùng biện và thông thạo
Kinh Thánh, Ông đã cộng tác nhiệt thành
với Thánh Phaolô trong việc rao giảng
Đạo Thánh Chúa (CVTĐ 18, 24…).
Theo truyền
thống, thì Thánh Gioan Tông Đồ Thánh Sử
cũng sống những năm vào cuối đời tại
Êphêsô (Đảo Patmos) và qua đời và được
an táng ở đây (khỏang năm 100). Cũng
theo truyền thống, Ngài đã viết Sách Tin
Mừng IV tại đây (theo Thánh Irênê) .
Sách Khải Huyền cũng được viết tại
Êphêsô do Thánh Gioan hoặc do nhóm môn
đệ của Ngài , va Thành Êphêsô là thành
phố đầu tiên được nêu lên trong 7 thành
đã được nói đến trong Sách Khải Huyền
(Kh 2, 1…). Căn cứ vào lời Chúa Giêsu
trên Thánh Giá đã trao phó Mẹ Maria cho
Thánh Gioan (Tin Mừng Gioan 19, 27), nên
cũng theo truyền thống thì Mẹ Maria đã
theo Thánh Gioan và sống những năm cuối
đời tại Êphêsô . Êphêsô cũng là một
trong những trung tâm sinh họat Kytô
giáo rất mạnh trong các thế kỷ đầu của
Giáo Hội. Một Công Đồng Chung quan
trọng của Giáo Hội đã họp tại đây vào
năm 431. Các Đức Giám Mục trên tòan thế
giới về đây để họp Công đồng tại Vương
Cung Thánh Đường Đức Trinh Nữ Maria,
chống lại bè rối Nestorie và đã cùng
tuyên xưng Tín Điều “Đức Mẹ Mẹ Thiên
Chúa”. Hòang Đế Justinian (527-565) đã
xây một Nhà Thờ vĩ đại ở dây, gọi là Nhà
Thờ Chính Tòa Thánh Gioan Tông Đồ, trên
một địa điểm mà lúc đó đã được các tín
hữu coi là nơi an táng Thánh Gioan Tông
Đồ , và là nơi hành hương rất phồn thịnh
suốt thời thượng cổ. Ngày nay Thánh
đườn cũng đả bị đổ nát và vẫn được càc
nhà khảo cổ đến khảo sát.
Hai thành
phố GALAT và CAPPADOCIA đều là những
thành phố cổ, củng đã đổ nát, ngày nay
thuộc miền Đông Thổ Nhỉ Kỳ, và cũng là
những địa điểm khảo cổ quan trọng .
Thánh Phaolô trong những cuộc hành trình
truyền giáo cũng đã đi qua Galát ( TDCV
18,23). Thánh Phaolô đã thành lập Giáo
Đòan Galat và viết lá thư “Gửi Tín Hữu
Galat”. Cappadocia cũng là trung tâm
họat động mạnh của Giáo Hội các thế kỷ
đầu; thời đó Cappadocia đã là nơi có
nhiều tín hữu và sinh họat Đạo Thánh
Chúa rất mạnh. Bây giờ còn ghi lại dấu
vết rất nhiều những Nhà Dòng, nhà
Nguyện làm sâu vào các hốc đá. Rải rác
khắp các thung lũng ở đây có tới 200 Nhà
Thờ cổ chạm trổ nghệ thật rất đẹp. Nơi
đây các nhà khảo cổ cũng khám phá ra
những “đường hầm trú ẩn” sâu dưới đất;
đó là nơi các tín hữu đã trú ẩn trong
thời gian bị bách hại. Cappadocia cũng
là quê hương của nhiều vị Thánh. Đặc
biệt là Thánh Basilio Cả (Basil the
Great) và Thánh Gregorio Nazian, Giám
Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Cà hai đều sống
vào thế kỷ thứ IV. Thánh Basiliô qua đời
vào năm 379, là vị Thánh đã có công rất
nhiều để bảo vệ Đức tin, nhất là về Mầu
Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và Mầu Nhiệm
Nhập Thể chống lại Bè rối Arians. Ngài
cũng nổi tiếng về sự can đảm để bảo vệ
những người nghèo khó và bảo vệ tính
cách độc lập của Giáo Hội đối với thế
quyền. Thánh Gregorio Nazian cũng nổi
tiếng là nhà Thần học lớn và cũng họat
động nhiều trong công cuộc cải tổ xã hội
để giúp nâng cao đời sống của dân nghèo.
Ngài đã từng là Tổng Giám Mục
Constantinople vào thời kỳ Giáo hội
đang phải chống lại Giáo Lý sai lầm của
bè rối Arians, Ngài đã được bầu làm chủ
tọa Công Đồng Constantinople I (381).
Thánh Gregorio Nazian qua đời vào khỏang
năm 390.
Constantinople là một thành phố có từ
thế kỷ VII ( trứơc Công nguyên) và có
tên là Byzance đã được Hòang Đế
Constantin I xây dựng lại từ năm
324-330, thiết lập Hòang Cung và đổi tên
là Constantinople và là thủ đô của Đế
Quốc Byzance. Đây cũng là một hải cảng
phồn thịnh, nằm trên bờ biển Hắc Hải, và
là nơi giao lưu văn hóa quan trọng giữa
Đông và Tây. Rồi trở thành một trung tâm
họat động chính trị, thương mại, văn hóa
và tôn giáo rất mạnh mẻ. Ngày nay Hải
Cảng này (nay đã được đổi tên là
Istanbul) vẫn rất phồn thịnh và vẫn là
nơi giao lưu văn hóa giữa hai luồng Văn
hóa Á Châu và Âu Châu. Đã có 4 Công Đồng
Chung họp ở đây: Constantinople I (381),
II (553), III (680-681), IV (869-870).
Constantinople cũng là trung tâm họat
động lớn của Giáo Hội Công Gíao. Đã có
4 Công Đồng Chung họp ở đây:
Constantinople I (381), II (553), III
(68o-81), IV (869-70). Constantinople đã
ghi dấu vết cuộc sống của nhiều Thánh
lớn của Giáo Hội. Thánh Gregorio Nazian
đã từng làm Tổng Gíam Mục ở đây vào thế
kỷ IV. Thánh Gioan Kim Khẩu (344-407)
Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh, củng đã
từng làm Tổng Gíam Mục ở đây cho đến
khi triều đình lúc đó bắt đi lưu đày vào
năm 403. Nổi tiếng là một nhà giảng
thuyết đạo đức và tài ba nên được đặt
tên là “Kim khẩu”. Ngài cũng thẳng thắn
chống lại sự xa hoa của thời đại và bênh
vực người nghèo khó nên bị triều đình
lúc đó ghét và bắt đi lưu đày. Thánh
Gregoro Nazian cũng là Tổng Gíam Mục
Constantinople (như đã nói ở trên). Nơi
đây cũng ghi dấu Đức Giáo Hoàng
Benedictô XV (sinh năm 1854, làm Giáo
Hòang từ 1914-1922), là vị Giáo Hòang
nổi tiếng về nhửng họat động cho Hòa
Bình Thế Giới. Người TNK rất mến thương
Ngài, vì Ngài đã làm nhiều nhà thương
cho TNK và trong Thế Chiến thứ I, Ngài
đã dùng đường lối ngọai giao để cứu
những tù nhân người TNK. Năm 1921, khi
khánh thành bức tượng lớn của Ngài tại
Istanbul, rất nhiều người Hồi Giáo đã
đến tham dự. ĐGH Gioan XXIII (sinh năm
1881; làm Giáo Hòang từ 1958 cho đến
khi qua đời 1963), người đã có công hiện
đại hóa Giáo Hội và mở Cộng Đồng
Vatican II (1962-1965), đã từng làm Sứ
Thần Tòa Thánh tại TNK 10 năm , và rất
được nhiều ngừơi TNK thương mến, nên
được gọi là “người bạn tốt của TNK”.
Khi Hồi Giáo chiếm TNK vào năm 1453 và
thiết lập Đế Quốc Hồi Giáo Ottomans,
liền đổi tên Constantinople thành
Istanbul và trở thành Thủ Đô của Đế Quốc
Ottomans. Đến năm 1923, khi nhà cách
mạng Mustafa Kemal thiết lập chính thể
Cộng Hòa TNK , ông rời thủ đô về Ankara
như hiện nay. Tuy nhiên, Istanbul vẫn là
một hải cảng phồn thịnh , một trung tâm
thương mại quan trọng . nơi sinh họat
mạnh mẽ về văn hóa, tôn giáo; củng vẩn
là nơi nối kết hai nền văn minh Á Châu
và Âu Châu.
Một vài địa
điểm khác đáng lưu ý: VIỆN BẢO TÀNG
HAGIA SOPHIA : trước là Vương Cung Thánh
Đường Hagia Sophia (Holy Wisdom) được
xây dựng do Hòang Đế Justinian vào năm
537. Là một Thánh Đường được coi là một
kiến trúc đồ sộ và đẹp nhất của Đế Quốc
Byzantine; vòm Thánh Đường rất đồ sộ,
chiều cao vươn lên gần 200 feet và rộng
102 feet. ĐGH Gioan Phaolô II đã lên
viếng nơi này khi Ngài thăm viếng TNK
vao nam 1979. Duc đương kim Gíao Hoàng
Bênêdicto XVI củng đến thăm nơi này
trong chuyến viếng thăm TNK tháng 11
(2006) vừa qua. Khi người Hồi Giáo chiếm
TNK vào thế kỷ XV đã đổi thành Hội Đường
Hồi Giáo. Sau cuộc Cách Mạng do Mustapha
Kemal lãnh đạo, chính quyền TNK đã lấy
lại ngôi đền này và đổi thành Viện Bảo
Tàng từ năm 1935.
NGÔI NHÀ MẸ
MARIA: ở gần Ephesus, thuộc miền núi, là
một ngôi nhà nhỏ bằng gổ, trên chân đồi,
có nhiều cây cối che khuất, được dân
chúng tin là nơi Mẹ Maria đã sống những
năm cuối đời dưới sự săn sóc của Thánh
Gioan Tông Đồ; vì khi bị treo trên Thánh
Giá, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ Maria cho
Thánh Gioan (PÂ Gioan 16, 27). Ngày nay
“Ngôi Nhà Đức Maria” mỗi năm được hàng
ngàn người đến kính viếng và cầu nguyện;
ngòai các tín hữu Công Giáo còn có đông
người Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và
khách du lịch ở các nơi đến thăm; cũng
có những người Việt Nam khi đi du ngọan
bằng tàu (cruise), khi ghé qua Ephesus,
cũng đến kính viếng “Nhà Đức Mẹ”. Địa
điểm này đã được tìm ra từ cuối thế kỷ
19 căn cứ vào những “thị kiến” của Chân
phứơc Anne Catherine Emmerich mà đả
được Thi sỉ Clemens Brentano ghi lại
trong nhửng cuốn sách ông đả xuất bản
sau khi bà đả qua đời (nam 1824). Dù
ông Clemens nói là chỉ làm việc như
một thư ký để ghi lại nhửng thị kiến
đó ; nhưng Giáo Hội không công nhận
tính càch đích thực của nhửng điều ghi
trong nhửng cuốn sách đó vì có nhiều
nghi ván. Hơn nửa , nử tu đả được tuyên
phong “Chân Phứơc” vì căn cứ vào đời
sóng thánh thiện chứ không phải vào
nhửng thị kiến đả được kể lại.Theo tường
thuật thì Chân phước Catherine là người
Đúc , thường ốm đau nằm liệt dường, hầu
như không “biết chử”, và chưa bao giờ ra
khỏi nứơc Đức (Hy vọng có dịp chúng tôi
sẻ viết đầy đủ hơn về điểm này).
Sau khi đã
đọc “ Thổ Nhỉ Kỳ Xưa Và Nay”, xin mời
quý vị đọc tiếp bài “Một Cuộc Thăm Viếng
Lịch Sử”. Nếu muốn biết thêm về nước Thổ
Nhỉ Kỳ, mời quý vị vào:
www.Turkish Embassy.org – Republic
of Turkey.
MỘT
CUỘC THĂM VIẾNG LỊCH SỬ.
(Linh Mục
Anphong Trần Đức Phương).
Thật là một
cuộc thăm viếng “lịch sử” rất quan
trọng và củng rất khó khăn mà ai củng
lo sợ là rát nguy hiểm. Các gíáo hửu
khắp nơi trên thế giới đều cầu nguyện
hằng ngày cho ĐGH trứơc khi Ngài lên
đừơng. Rồi vừa hồi hộp theo dỏi vừa cầu
nguyện xin Chúa va Mẹ Maria gìn giử Ngài
thóat khỏi “mọi sự dử” trong những ngày
Ngài đi thăm viềng . Mọi ngừơi đả thở
phào nhẹ nhõm và tạ ơn Chúa khi ĐGH trở
về Rôma bằng an. Bây giờ lại cầu nguyện
cho cuộc thăm viếng lịch sử này đem lại
những kết qủa tốt đẹp, đem lại tình
thân hữu và hòa hợp yêu thương giửa mọi
người thuộc mọi sắc tộc, văn hóa, tôn
gíao khác nhau để cùng chung tay xây
dựng Hòa bình thế giới và hạnh phúc cho
nhân loại .
Nhìn lại
lịch sử của Giáo Hội Công Giáo tại Thổ
Nhỉ Kỳ từ những thời kỳ đầu của Giáo
Hội, chúng ta thấy các ĐGH luôn hướng
về Thổ Nhỉ Kỳ và tìm dịp để nối kết lại
tinh thân hữu qua từng thế kỷ. Tuy
nhiên vì nhiều biến cố đau thương của
lịch sử, Giáo Hội tại TNK đã bị bách
hại hầu như bị hủy diệt ; nhưng vẫn tồn
tại trong âm thầm. Mãi đến sau cuộc cách
mạng của Mustapha Kemal ( 1881- 1938)
đem lại tự do và dân chủ cho nhân dân
TNK, Giáo Hội mới được công khai sinh
họat, dù vẫn còn gặp những khó khăn. Từ
ngày đó Giáo Hội đã tìm cách nối lại
liên lạc ngọai giao với Chính phủ Cộng
Hòa Thổ Nhỉ Kỳ và đã có Tòa Sứ Thần tại
đó. ĐGH Benêđíctô XV đã tích cực giúp
đở nhân dân Thổ Nhỉ Kỳ và Đức Gioan
XXIII đã làm Sứ Thần Tòa Thánh ở đây 10
năm và gây được nhiều thiện cảm với
chính phủ và nhân dân Thổ Nhỉ Kỳ. Sau
Cộng Đồng Vaticanô II, Đức Phaolô VI, vị
Giáo Hòang đầu tiên du hành ra khỏi nước
Ý sau nhiều thế kỷ, Ngài đã đến thăm Thổ
Nhỉ Kỳ và đã cố gắng nối kết tinh thần
hữu nghị với chính phủ, nhân dân Thổ Nhỉ
Kỳ sau việc tiếp xúc vớc các nhà lảnh
đạo Hồi Giáo, và Chính Thống Giáo. ( Xin
đọc bài “Thổ Nhĩ Kỳ Xưa Và Nay).
Đức Giáo
Hòang Benêđíctô XVI cũng đã lưu ý dặc
biệt đến vấn đề này và đã dự trù từ lâu
cuộc thăm viếng mục vụ Thổ Nhỉ Kỳ vào
tháng 11 (2006) vừa qua. Sau đó qua biến
cố hiểu lầm về bài diển văn của Ngài tại
Đại Học Đức Regensburg vào ngày 12/
9/2006, các phong trào Hồi Giáo nổi lên
chống đối ĐGH, nhiều ngừơi đã rất bi
quan về cuộc thăm viếng này. Nhiều người
cho là rất khó khăn và rất nguy hiểm.
Nhiều nhóm Hồi Giáo dọa giết Ngài. Tuy
vậy ĐGH quyết định cứ lên đường và Chính
Phủ Cộng Hòa TNK cũng vẫn sẳn sàng đón
tiếp DGH . Ngài được đón tiếp nồng hậu
và chuyến đi được kết quả tốt đẹp vượt
qua sự mong đợi. Những cuộc biểu tình
chống đối tưởng là sẽ rất mạnh mẽ khi
Ngài sang; nhưng điều đó đã không xảy
ra.Chỉ có những cuộc biểu tình nhỏ, và
chính phủ Thổ Nhỉ Kỳ đã huy động một lực
lượng cảnh sát mạnh mẻ để giử gìn an
ninh trật tự.
Nhiều người
chúng ta đã theo dõi chuyến đi này của
Đức Giáo Hòang qua nhiều phương tiện
truyền thông khác nhau. Chúng ta có thể
tổng lựơc như sau:
Sáng ngày
Thứ Ba 28/11/2006, Đức Giáo Hòang đã lên
chuyến phi cơ thuê bao Alitalia cùng với
Phái Đòan Tòa Thánh, trong đó có Đức
Hồng Y Walter Kasper ( Chủ Tịch Hội Đồng
Giáo Hoàng Cổ Vỏ Hiệp Nhất Kytô Hữu),
Đức Hồng Y Roger Etcherary (Cố vấn đặc
biệt; Ngài đã từng là Chủ Tịch Hội Đồng
Công Lý và Hòa Bình trước Đức Cố Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận) và đòan truyền thông,
báo chí. Tuyên bố với Phái Đòan tháp
tùng, Đức Giáo Hòang nói đây là một cuộc
thăm viếng trước hết có tính cách mục vụ
để thắt chặt thêm tình thân hữu với
Chính Phủ và Nhân Dân TNK, với anh em
Hồi Giáo và Chính Thống Giáo. Ngài nói
: chuyến đi có tính cách mục vụ và thân
hữu, không có cao vọng nhiều, và cũng
không có tính cách chính trị.
Tới Phi
trường Ankara vào sáng ngày 28/11/2006
lúc trời hơi lạnh, nhưng có nắng ấm, ĐGH
đã được Thủ Tướng Thổ Nhỉ Kỳ và Phái
Đòan đứng ở đầu tấm thảm đỏ chổ máy bay
đậu, để đón tiếp. Thủ Tướng TNK lúc đầu
tưởng không thể đón tiếp ĐGH vì chương
trình của Ông quá bận rộn vào ngày đó;
nhưng sau cùng Ông đã xếp chương trình
để đón tiếp Đức Giáo Hòang tận phi
trường. Sau khi bắt tay, chụp hình
chung, Ông hướng dẫn ĐGH đi trên thảm đỏ
vào Phòng Tiếp Tân Quý Khách, hội đàm
với ĐGH 20 phút, sau do ĐGH ra xe để
đi vào thành phố Thủ Đô Ankara. Sau cuộc
hội đàm, Thủ Tướng tuyên bố với báo chí
là đã xin ĐGH ủng hộ Thổ Nhỉ Kỳ để được
gia nhập EU và ĐGH đã đồng ý. Ông cũng
nói, trong cuộc hội đàm ĐGH luôn tỏ
thiện cảm với nhân dân TNK. Sau cuộc
tiếp đón ĐGH , Thủ Tướng TNK đã lên
đường để đi họp Hội Nghị Thượng Đỉnh
Khối NATO.
Trên đường
đi vào Thủ Đô Ankara để đến gặp Tổng
Thống Thổ Nhỉ Kỳ tại Dinh Tổng Thống,
ĐGH đã dừng lại viếng thăm lăng mộ của
Nhà Cách Mạng Mustafa Kemal, đặt vòng
hoa tưởng niệm, rồi vào bảo tàng viện
bên cạnh để ghi Sổ Lưu Niệm. Tổng Thống
Ahmet Necdet Sezer đã ra đón tiếp ĐGH
khi Ngài xuống xe, chụp hình chung, rồi
hướng dẫn ĐGH vào trong Dinh Tổng Thống
và hội đàm 15 phút. Đây là cuộc đón tiếp
chính thức ĐGH của chính phủ TNK. Trong
cùng ngày đầu thăm viếng này, ĐGH cùng
Ông Ali Bardakoglu, người đứng đầu Tôn
Giáo Vụ TNK , hội đàm trong vòng 30
phút ở văn phòng Tôn Giáo Vụ, cùng với
một số chức sắc Hồi Giáo Thổ Nhỉ Kỳ,
trong đó có vị Đại Giáo Trưởng Hồi Giáo
ở Ankara. Đức Giáo Hòang cũng đọc một
bài diển văn tại đây. Cuộc tiếp xúc rất
thân thiện và cởi mở và bàn đến viển ảnh
trong tương lai để có được sự thông cảm
hiểu biết giữa anh em Hồi Giáo và Công
Giáo. Ông Ali Bardakoglu nhấn mạnh đến
sự quan trọng của những cuộc gặp gở đối
thọai và tương kính lẫn nhau và nói lên
mối lo sợ là các nước phương Tây ngày
càng đồng hóa Hồi giáo với khủng bố và
bạo động; trong khi Hồi giáo là Đạo hòa
bình . ĐGH kêu gọi sự hợp tác giữa các
tôn giáo để xây dựng Hòa Bình và sự Hòa
hợp cần thiết giữa cho thế giới đang
đầy những giết chóc, đổ máu. Ông Ali
Bardakoglu sau đó đã ca ngợi cuộc thăm
viếng của ĐGH như một bước tích cực để
dẩn đến sự Hòa giải và cùng hướng về “sự
tương kính, công chính và bình đẳng!”.
Cùng ngày
ĐGH đã gặp phái đòan Ngọai Giao ở Tòa
Khâm Sứ. Có chừng 90 vị Đại Sứ các nước
hiện diện. Trong cuộc nói chuyện, ĐGH đã
nói sự cần thiết tìm ra những giải pháp
để chấm dứt những căng thẳng về chính
trị giữa các quốc gia, những cuộc khủng
bố và chiến tranh khắp nơi trên thế
giới, nhất là ởTrung Đông. Ngài nói:
“Hòa bình thực sự chỉ có được khi có sự
công bằng. Cần phải sử đổi những chênh
lệch về kinh tế, và chấm dứt những áp
bức về chính trị gây ra những căng thẳng
và tranh chấp giữa các nước”. ĐGH cũng
nói đến tự do tôn giáo , các cuộc đối
thọai và thành thực hợp tác giữa các tôn
giáo cùng đóng góp một cách thích cực
vào việc xây dựng xã hội và bảo vệ những
giá trị của con người trong xã hội đang
tiến rất nhanh về kỷ thuật. Phải làm sao
để những tiến bộ của thời đại giúp vào
việc phát triển nhân lọai và bảo vệ
những giá trị của gia đình và xã hội.
“Những cuộc đối thọai trong tinh thần
tương kính lẫn nhau phải là nền tảng
giúp chấm dứt những cuộc khủng bố, chiến
tranh và tranh chấp về tôn giáo”. ĐGH
cũng ca ngợi Hiến Pháp TNK đã có những
điều khỏan bảo vệ quyền tự do tôn giáo;
vì các dân tộc có tinh thần dân chủ đều
có bổn phận bảo đảm quyền tự do này.
Cuộc gặp gở các nhà ngọai giao đã kết
thúc một ngày thật bận rộn nầy.
Dù là một
ngày thật bận rộn, nhưng kết qủa ngày
đầu tiên nầy thật tốt đẹp. Những cuộc
đón tiếp rất nồng hậu; các cuộc gặp gở
đều thân mật và cởi mở. Mọi người cảm
thấy rất nhẹ nhỏm sau ngày đầu tiên nầy.
Ngày hôm sau
(29/11/06) ĐGH đã rời Thủ Đô Ankara để
đi Cổ Thành Ephesus, viếng thăm “Nhà Mẹ
Maria” và dâng lễ ngòai trời kính Đức Mẹ
Maria. Đây là Thánh Lễ đầu tiên cho dân
chúng trong cuộc viếng thăm, ĐGH đã kêu
gọi các tín hữu hãy luôn sống vui vẻ
sẳn sàng chấp nhận mọi khó khăn, noi
gương Cha Andrea Santoto, một nhà truyền
giáo đã bị sát hại dịp tháng 2/2006
trong một cuộc bạo động của một nhóm
trẻ thiếu niên Hồi Giáo. ĐGH cũng kêu
gọi các tín hữu hãy sống hòa hợp với
nhau, và luôn giữ tình thân hữu với các
anh em Hồi Giáo và Chính Thống Giáo; hãy
luôn luôn là những “ người xây dựng Hòa
Bình!”. Phần Đức Giáo Hòang, Ngài luôn
yêu mến và hiệp thông với Giáo Hội tại
TNK đang còn gặp những khó khăn thử
thách.
Hôm nay và
những ngày tiếp theo, ĐGH nhắm vào việc
nối tình thân hữu với anh em Chính Thống
và Hồi Giáo. ĐGH đã viếng thăm Bảo Tàng
Viện Hagia Sophia. Ngài dừng lại ở đây
25 phút để chiêm ngắm sự huy hòang và
những điêu khắc tuyệt vời của một Thánh
Đường Bizantino thuở xưa! Nơi đây, vào
năm 1979, khi viếng thăm TNK, ĐGH Gioan
Phaolô II cũng đến thăm. Trước khi rời
Bảo tàng viện, ĐGH đã ký Sổ lưu niệm và
viết: “Trong thế giới có nhiều dị biệt,
nhưng chúng ta vẫn có được niềm tin nơi
Thiên Chúa duy nhất. Xin Thiên Chúa soi
sáng cho chúng ta và giúp chúng ta nhận
ra con đường dẩn đến Tình thương và Hòa
bình!”.
Sau khi rời
Bảo Tàng viện Hagia Sophia, ĐGH viếng
thăm Đền Thờ Hồi Giáo “Blue Mosque” nổi
tiếng tại Istanbul. Vị Đại Giáo Trưởng
Mystafa Nagrici đã hướng dẩn ĐGH. Khi vị
Giáo Trưởng cầu nguyện, ĐGH cũng nghiêm
trang cầu nguyện (sau này khi đã trở lại
Rôma, ĐGH nói lúc đó Ngài cầu nguyện xin
Chúa là Chúa trời đất, và là Chúa nhân
từ của cả nhân lọai, ban cho mọi người
có niềm tin nhận ra họ là người Chúa đã
dựng nên và xin cho họ luôn là những
chứng nhân của tình yêu huynh đệ). Hai
vị gặp nhau trong 20 phút và rất thân
tình; ngược hẳn lại với những căng thẳng
trước đây giữa anh em Hồi Giáo và ĐGH.
Hai vị đã trao tặng phẩm cho nhau làm
lưu niệm. Khi nhận tặng phẩm do vị Giáo
Trưởng tặng, Đức Giáo Hòang để tay lên
và nói: “Xin cám ơn Ngài về tặng phẩm
này. Chúng ta hãy cầu nguyện cho tình
thân hữu giữa chúng ta cũng như tình
thân hữu của tòan thể nhân lọai”. Khi
chia tay, vị Giáo Trưởng đã nói với Đức
Giáo Hòang: “Xin Ngài hãy luôn nhớ đến
chúng tôi!”. (Your Holiness, please
remember us!).
Đối với
Chính Thống Giáo, Đức Giáo Hòang đã gặp
gở Đức Thượng Phụ Bartolomeo I (Giáo Chủ
Chính Thôang Giáo Thổ Nhỉ Kỳ), Thượng
Phụ Mesrob II ( Giáo Chủ Chính Thống
Giáo Armenia), Thượng Phụ Ausuf Cetin
(Giáo Chủ Chính Thống Giáo Syria).
Thượng Phụ
BartolomeoI đã ra đón ĐGH tại Phi trường
Istanbul (ĐGH đã đi máy bay từ Thủ Đô
Ankaraa đến Cổ thành Ephesus để dâng
Thánh lễ, rồi đến phi trường Istanbul
vào buổi chiều ngày 29/11/06). Từ phi
trường Istanbul, hai vị đã đến chủ tọa
buổi cầu nguyện ban chiều tại Nhà Thờ
Thánh Georges (Nhà Thờ Chính tòa Chính
Thống Giáo) cùng với một số Giáo sĩ
Chính Thống khác. Buổi cầu nguyện mở đầu
hai ngày quan trọng để gặp gở và tìm con
đường hiệp nhất giửa Chính Thống Giáo và
Công Giáo; đó là chủ đích quan trọng của
cuộc thăm viếng TNK của ĐGH. Hai vị đã
cùng tiến lên dọc long Thánh Đường có
bình hương khói nghi ngút dẩn đầu, trong
khi ca đòan hát thánh ca bằng tiếng Hy
Lạp. Buổi cầu nguyện thật sốt sắng, đặc
biệt tưởng nhớ đến hai Thánh Tông Đồ
Phêrô và Anrê. Sau giờ cầu nguyện, ĐGH
đã nói lời ca ngợi: “…. Nơi này, qua
nhiều thế kỷ, đã có nhiều vị tử đạo, các
nhà Thần học, Chủ Chăn, các Nhà Dòng và
biết bao những tín hữu nam nữ thánh
thiện!”. ĐGH cũng nhắc đến cuộc thông
hiệp hòa giải giữa hai Giáo Hội vào năm
1965, khi Đức Phaolô VI đến đây và cùng
với Thượng Phụ Giáo Chủ Athenagoras đã
hủy vạ tuyệt thông cho nhau (vào năm
1054) . Sau cuộc thăm viếang của ĐGH
Phaolô VI là cuộc thăm viếng thắm tình
hữu nghị của ĐGH Gioan Phaolô II vào năm
1979. Thượng Phụ Bartolomeo I cũng nhắc
đến hai cuộc gặp gở lịch sử đó và coi
như những cuộc thăm viếng thật quý giá
và cần thiết. Sau đó Thượng Phụ nói: “
Tôi hết lòng tạ ơn Chúa đã dẫn đưa Đức
Giáo Hòang đi theo bước chân của các vị
tiền nhiệm và đến đây hôm nay trong cùng
một tinh thần cởi mở và hòa hợp…”. Sau
hết, hai vị đã đến kính viếng Thánh tích
của hai Thánh Gregorio Nazian và Gioan
Kim Khẩu cả hai đều dã là Tổng Giám
Mục Thành Constantinople.
Sáng ngày
30/11/2006 (Lễ trọng kính Thánh Anrê
Tông Đồ), Thượng Phụ Bartolemeo I đã đến
dâng lễ trọng thể tại Nhà thờ Thánh
George. Thánh lễ trọng thể kính Thánh
Tông Đồ Anrê, bổn mạng của Tòa Thượng
Phụ Constantinople. Trong khi Thượng Phụ
Chủ Lễ thì ĐGH hiện diện tại ngai tòa
bên cạnh Cung thánh. Thánh lễ dài gần 3
giờ đồng hồ; cũng khói hương nghi ngút
quyện với lời kinh tiếng hát của cộng
đoòan dự lễ đông đảo. Trong bài giảng,
Thượng Phụ đã kêu gọi mọi người phải cầu
nguyện xin Chúa đem lại sự hòa hợp yêu
thương giữa con cái Chúa: “Chúng ta cần
quỳ xuống, khiêm tốn và thành thực xám
hối những lỗi lầm trong quá khứ, xin
Chúa tha thứ và làm cho ngày hiệp nhất
trọn vẹn được sớm đến”. Trong bài nói
chuyện với Cộng Đòan vào cuối Thánh lễ,
ĐGH cũng nhắc lại lời kêu gọi xám hối
và xin Chúa tha thứ, để anh em cùng hiểu
biết và thương yêu nhau như những người
con Chúa; “vì chính sự hòa hợp, thành
thực yêu thương nhau mới có thể làm cho
công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa
được mọi người tin tưởng và đón nhận!”.
Trong khi lên Rước Lễ, lúc đi ngang qua
ngai tòa ĐGH, mọi giáo dân Chính Thống
Giáo đều cúi đầu tỏ lòng tôn kính; có
một em nhỏ chạy đến hôn nhẫn ĐGH.
Sau Thánh
Lễ, hai vị đã ra ban-công Nhà Thờ để ban
phép lành cho giáo dân tụ tập đông đảo
tại quảng trường. Sau đó hai vị đã nắm
tay nhau dơ lên cao, rồi cùng mỉm cười
vẫy tayvới dân chúng đang hoan hô vui
vẻ phía dưới. Hai vị đã tặng nhau kỷ vật
lưu niệm. ĐGH đã tặng Thượng Phụ một
Chén Thánh, nói lên sự thông hiệp qua Bí
Tích Thánh Thể. Thượng Phụ đã tặng DGH
Cuốn Bổn Sách Tin Mừng, nói lên sự
thông hiệp và tình yêu theo Tin Mừng
Chúa Giêsu đã rao giảng. Sau cùng hai
vị đã ký vào Bản Tuyên Ngôn chung “quyết
tâm tiếp tục đối thọai về thần học và
tích cực cộng tác trong họat động xã
hội; đặc biệt là việc cổ vỏ tinh thần và
giá trị Kitô giáo cho xã hội ngày nay
đang càng ngày càng bị thế tục hóa. Bản
tuyên ngôn cũng nhấn mạnh đến việc phải
giúp đở những người nghèo, những nạn
nhân của bạo động, của khủng bố (nhất là
ở Trung Đông), những người dân ở những
nơi mà quyền tự do tôn giáo chưa được
bảo đảm hòan tòan.
ĐGH cũung đã
gặp gở thân mật Thượng Phụ Giáo Chủ
Armenia Mesrob, rồi Đức Thượng Phụ Giáo
Chủ Syria Yusuf Cetin; sau đó là vị
Trưởng Giáo Do Thái TNK Rabbi Ishah
Haleva vào buổi chiều hôm nay
(30/11/2006) tại Tòa Khâm Sứ tại
Istanbul. Đặc biệt vào buổi tối hôm nay,
một nhóm đông các bạn trẻ Công Giáo đã
bất ngờ đến Tòa Khâm Sứ để chào mừngDGH.
ĐGH xuất hiện để cầu nguyện với các bạn
trẻ, rồi chúc lành cho mọi người và nói:
“ Cha luôn nhớ đến chúng con trong lời
cầu nguyện!”.
Sáng sớm
ngày 01/12/2006, ngày cuối cùng của cuộc
thăm viếng, ĐGH đã đến cùng cầu nguyện
buổi sáng với Thượng Phụ Chính Thống
Armenia Mesrob II tại Nhà Thờ Chính
Thống Armeria. Hai vị cũng mhắc đến
tinh thần “đại kết” cần thiết để sống
hòa hợp như những người con cái trong
cùng một gia đình của Chúa. Sau đó, ĐGH
đã đến dâng Thánh Lễ tại Nhà Thờ Chánh
Tòa Chúa Thánh Thần cùng với cộng đòan
Công Giáo ở đây. Đức Thượng Phụ
Bartolomeo I cũng hiện diện. Trước Thánh
Lễ ĐGH đã làm phép tượng Đức Bênêđíctô
XV và Tượng Đức Gioan Phaolô VI. Hôm
nay, ĐGH dâng lễ kính Chúa Thánh Thần.
Vì có nhiều chủng tộc khác nhau, nên
trong thánh lễ đã dùng tới 7 ngôn ngử
khác nhau. Trong bài giảng, ĐGH đã kêu
gọi mọi tín hữu hãy yêu thương, đòan kết
với nhau và yêu thương liên kết với
những người anh em khác tín ngưỡng: “Anh
chị em hãy luôn sống hòa hợp yêu thương
theo lời Chúa Giêsu đã dạy: Khi chúng
con sống hòa hợp yêu thương nhau, lúc đó
mỗi người mới nhận ra chúng con là môn
đệ đích thực của Cha. Ví thế anh chị em
hãy tiếp tục làm những gì có thể được để
chửa lành những vết thương chia rẽ và
hận thù, hầu cùng sống trong hòa hợp yêu
thương. ĐGH cũng ám chỉ đến cuộc tàn sát
những người Công Giáo Armenia vào những
năm 1915-1918 do chính quyền Hồi Giáo
Ottomans gây ra. Trong cuộc cưởng bách
di dân nầy gần một triệu rữơi (hơn một
nửa dân số Armenia hồi đo) đã bị giết .
Sau Thánh Lễ, Thượng Phụ Bartolomeo đã
cùng ban phép lành cho giáo dân. Rồi hai
vị cùng đi xuống dọc theo lòng Thánh
đường và mỉm cười và chào các giáo dân
đang tỏ lòng nồng nhiệt tôn kính.
Thánh Lễ
sáng hôm nay kết thúc 4 ngày thăm viếng
TNK của ĐGH. Sau đó ĐGH ra phi trường
Istanbul để trở về Rôma. Trước khi lên
máy bay, ĐGH đã nói những lời cám ơn sâu
xa đến chính quyền các cấp và Ngài nói
tuy Ngài ra về nhưng vẫn “để lại một
phần tâm hồn của Ngài tại Istanbul!” (I
am leaving a part of my heart in
Istanbul!”.
Trong những
ngày thăm viếng TNK của ĐGH , các cơ
quan truyền thông và báo chí TNK đều
đưa tin thuận lợi về cuộc thăm viếng này
và ca ngợi ĐGH là một người bình thản và
khiêm tốn; nhưng cũng là người họat bát,
những lời nói và cử chỉ rất thích hợp.
Tất cả đều vui mừng vì cuộc thăm viếng
đã êm đẹp không xảy ra những gì đáng
tiếc như nhiều người lo sợ. Hơn nữa các
cuộc tiếp xúc vớc các cấp chính quyền,
với ngọai giao đòan, với các đại diện
Hồi Giáo, và các tôn giáo đều rất cởi mở
và thân thiện.
Xin tạ ơn
Chúa và cầu xin Chúa làm cho cuộc thăm
viếng của Đức Giáo Hòang đem lại nhiều
hiệu quả tốt đẹp; góp phần vào việc xây
dựng sự hòa hợp mọi người thuộc mọi
chủng tộc, văn hóa, tôn giáo khác nhau
để cùng chung tay xây dựng Hòa bình thế
giới và hạnh phúc cho nhân lọai:
“Xin hiệp nhất chúng con nên một trong
tình yêu Chúa. Xin hiệp nhất chúng con
như Ngài liên kết với Cha. Xin giải
thóat chúng con xa điều bất hòa chia rẽ!
Xin kết liên mọi người trong lòng mến
Chúa Cha muôn đời”. (Trích Bản Thánh Ca
“Bài Ca Hiệp Nhất” của Thành Tâm).
