mlcn1
Ngày tham gia: 15 6 2008 Số bài: 3622
|
Gửi: Bảy 10 31, 2009 2:16 pm Tiêu đề: HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ |
|
|
HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ
Thật là một trùng hợp ngẫu nhiên nhưng đầy kỳ thú, khi tôi được mời phụ trách trao đổi với các em Giới Trẻ Đa Minh Gp. Saigon, về đề tài HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ trong tháng 11 này, mà tháng 11 lại là tháng Giáo Hội dành riêng cầu cho các linh hồn nơi thanh luyện. Đây chính là dịp thể hiện sự hiệp thông – hiệp thông giữa thế giới hữu hình (Giáo Hội lữ hành) với thế giới vô hình (Giáo Hội thanh luyện) – mà hiệp thông vốn là tính chất căn bản của Giáo Hội Ki-tô Giáo như ĐTC Gio-an Phao-lô II đã khẳng định trong Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân : “Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đã trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông … Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người” (TH/KTHGD III, 32). HIỆP THÔNG cũng là một trong 4 trụ cột của Tinh thần Dòng Anh Em Thuyết Giáo : CẦU NGUYỆN – HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ – HỌC HỎI – TÔNG ĐỒ BÁC ÁI.. Xin được chia sẻ :
I. HIỆP THÔNG LÀ GÌ ? :
Trong Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân, ĐTC Gio-an Phao-lô II viết : “Giáo Hội không phải là một thực thể khép kín lại nơi chính mình, nhưng đúng hơn là thường xuyên mở ra cho công cuộc rao giảng Tin Mừng và đại kết đầy năng động, bởi vì Giáo Hội được sai đến trần gian để loan truyền và làm chứng, hiện tại hoá và truyền bá mầu nhiệm hiệp thông là mầu nhiệm tạo thành Giáo Hội : quy tụ mọi sự và mọi người trong Đức Ki-tô ; là bí tích hợp nhất bền vững cho tất cả mọi người”. Quả thực, sự đoàn kết thương yêu nhau chính là đặc trưng của đời sống hiệp thông trong Giáo Hội (“Giáo Hội là một cộng đồng hiệp thông và truyền giáo” – TH/KTHGD III, 32). Ngài cũng viết trong “Thông điệp về đại kết” (số 4) : “Khi tới giờ chịu khổ nạn, Đức Giêsu đã cầu nguyện : “Xin cho tất cả nên một” (Ga 17,21). Sự hợp nhất Chúa đã ban cho Giáo Hội của Người và trong đó Người muốn tất cả được quy tụ lại, không phải là điều thứ yếu, nhưng giữ vị trí trọng tâm trong công trình của Người. Và sự hợp nhất ấy cũng không phải là một đặc tính phụ thuộc của cộng đoàn môn đệ của Người ; trái lại, đó là thuộc bản chất của cộng đoàn ấy. Thiên Chúa muốn có Giáo Hội bởi vì Người muốn có sự hợp nhất, và cũng bởi vì tình yêu sâu thẳm của Người được biểu lộ trong sự hợp nhất ấy. Quả thật, sự hợp nhất này được Chúa Thánh Thần ban tặng không chỉ là việc tập hợp các cá nhân bên cạnh nhau. Nhưng là một sự hợp nhất được tạo nên bởi những liên hệ do việc tuyên xưng đức tin, việc lãnh nhận các bí tích và sự hiệp thông phẩm trật”.
Như vậy, hiệp thông là sự liên kết chặt chẽ với nhau, lưu chuyển và chan hoà cùng một tính chất giữa các phần tử riêng lẻ trong một tổng thể duy nhất, sống động (Hiệp : gom lại, tập hợp lại nhiều phần tử cá biệt thành một thực thể ; Thông : suốt, liên tục, luôn luôn không ngừng). Phạm trù hiệp thông rất rộng, khởi đi từ mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi (“Cầu chúc toàn thể anh chị em được tràn đầy ân sủng của Đức Giê-su Ki-tô, tình yêu của Thiên Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” – 2Cr 13, 13), sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với loài người, giữa thế giới hữu hình với thế giới vô hình, rồi đến sự hiệp thông giữa loài người với nhau, sự hiệp thông trong Giáo Hội, trong mỗi gia đình Ki-tô hữu … Xin giới hạn vấn đề trong phạm vi Giáo Hội phổ quát, và cách riêng, trong gia đình Đa Minh.
II. SỰ HIỆP THÔNG TRONG GIÁO HỘI PHỔ QUÁT :
Đức Giê-su Ki-tô thường cầu nguyện : “Xin cho tất cả nên một, lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ cũng được ở trong Chúng Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17, 21). ĐTC Gio-an Phao-lô II cũng nói trong Tông Huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân : “Sự hiệp thông này là chính mầu nhiệm Giáo Hội như Công Đồng nhắc lại, qua từ ngữ nổi tiếng của Thánh Cypriano : Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần….. Các hình ảnh Kinh Thánh được Công Đồng Va-ti-ca-nô II sử dụng nhằm giúp chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Giáo Hội, đã làm nổi bật thực tại Giáo Hội hiệp thông, trong chiều kích là sự hiệp thông của các Ki-tô hữu với Đức Ki-tô liên kết chặt chẽ với sự hiệp thông giữa các Ki-tô hữu với nhau. Các hình ảnh đó là : chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng liêng, đền thánh…” (THKTHGD II, 18 -20).
Hiệp thông, tự căn bản, đó là sự nối kết mật thiết với Thiên Chúa, qua trung gian của Đức Giê-su Ki-tô, và trong Chúa Thánh Thần. Con người đạt được sự hiệp thông nhờ Lời Chúa và các Bí tích. Bí tích Thánh Tẩy là cửa ngõ và là nền tảng của việc hiệp thông trong Giáo Hội. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và là cao điểm của đời sống Ki-tô Giáo. ĐTC Phao-lô VI nói : “Giáo Hội là một sự hiệp thông”, ĐTC Gio-an Phao-lô II cũng nói : “Giáo Hội là một cộng đồng hiệp thông và truyền giáo”, đó chính là sự tháp nhập các Ki-tô hữu vào đời sống của Đức Ki-tô, và lưu chuyển cùng một Đức Ái trong toàn thể cộng đoàn tín hữu, là hiệp nhất với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, và hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu trong Giáo Hội.
Hiệp thông là sự toàn vẹn, hay nói đúng hơn, thực tại ấy diễn tả nội dung cốt yếu của Mầu nhiệm, tức là của chương trình Thiên Chúa cứu độ nhân loại. Sự hiệp thông trong Giáo Hội là sự hiệp thông hữu cơ, tương tự như sự hiệp thông của một thân thể sống và hoạt động, bao hàm sự khác biệt và bổ túc cho nhau giữa các ơn gọi và hoàn cảnh sống, các tác vụ, các đặc sủng và trách nhiệm. Nhờ sự khác biệt và bổ túc cho nhau đó, một người giáo dân nhận thấy mình có tương quan với toàn thân thể, và đóng góp phần riêng của mình vào thân thể đó (“Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho.Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn … Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo ; người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi …” – Ga 15, 1-6).
Như vậy, sự hiệp thông trong Giáo Hội tự bản chất là một Mầu nhiệm khởi từ Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, là một ân sủng của Chúa Thánh Thần. Công Đồng Va-ti-ca-nô II viết : “Chúa Thánh Thần ngự trị trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự giữa đền thờ (1Cr 3, 16 & 6, 19) … Người dẫn đưa Giáo Hội vào trong chân lý toàn vẹn (Ga 16, 13) và bảo đảm cho Giáo Hội được hiệp nhất trong sự hiệp thông và phục vụ. Người huấn luyện và dẫn dắt Giáo Hội bằng muôn ơn theo phẩm chức và đoàn sủng, trang điểm Giáo Hội bằng hoa quả của Người” (Ep 4, 11-12 ; 1Cr 12, 4 ; Gl 5, 22).
III. SỰ HIỆP THÔNG TRONG GIA ĐÌNH ĐA MINH :
Trở lại với tên sáng lập của Dòng : Ordo Praedicatorum, viết tắt : O.P, (Ordo : một nhóm người ; Praedicatorum : giảng thuyết). Vậy O.P là một nhóm người (cùng theo đuổi một công việc, mà công việc đó là) giảng thuyết (Tin Mừng). Khi dịch sang tiếng Việt, dùng tiếng Dòng cho gọn và phù hợp với tính cách tu trì hơn.
Dòng Anh Em Thuyết Giáo là một tập thể sống và làm việc như thế nào ? Thư Tổng Hội Avilla 1986 gửi tập sinh viết : “Dòng cho anh thấy một sứ vụ khó khăn nhưng hấp dẫn. Đó là sứ mạng Rao giảng Tin Mừng bằng đường lối chân thực, bằng lời anh nói, bằng việc anh làm, bằng chính bản thân của anh. Một cuộc sống như thế quả không dễ dàng. Đúng là không dễ dàng, nhưng anh sẽ không lẻ loi cô đoc. Anh đang thuộc về một cộng đoàn những con người cầu nguyện, tìm kiếm suy tư, phấn đấu và chia sẻ với anh. Theo mức độ anh biết cởi mở, tiếp xúc, trao tặng, anh sẽ cảm nghiệm được sự hiệp thông huynh đệ”.
Rõ ràng Dòng Đa Minh đã đặt hẳn cuộc sống của mình trong Giáo Hội (“Giáo Hội là một cộng đồng hiệp thông và truyền giáo”), và vì Giáo Hội, sẵn sàng tiếp bước Thầy Chí Thánh Giê-su để hoàn tất công trình cứu độ nhân loại. Trải dài 8 thế kỷ, Dòng đã thể hiện cụ thể hình ảnh điềm mộng mà thân mẫu Thánh phụ Đa Minh hằng ấp ủ :Con chó ngậm đuốc chạy quanh trái đất, đem Tin Mừng đến khắp năm châu bốn biển. Qua 8 thế kỷ và cho mãi đến ngàn sau, Dòng Đa Minh đã sống một cuộc sống hiệp thông và đã chỉ hành động cho một sứ vụ duy nhất : Loan báo Tin Mừng.
IV. ĐỂ CÓ THỂ TRIỂN KHAI VẤN ĐỀ HIỆP THÔNG :
IV.1. Hiệp thông nơi Giáo Hội lữ hành : Khi chúng ta tìm hiểu, trao đổi hay thảo luận – thậm chí tranh cãi – về một vấn đề nào đó (vấn đề “hiệp thông”, chẳng hạn), theo thiển ý, thường thì cũng còn thấy tương đối dễ dàng. Nhưng đến khi thực sự áp dụng vào đời sống những điều đã được thống nhất, mới thấy quả thực là khó khăn. Đọc + nghe + tìm hiểu + suy niệm Lời Chúa, tuy cũng có những khó khăn nhất định, nhưng vẫn có thể vượt qua được ; tuy nhiên đến như đem Lời Chúa mà thực hành, mà áp dụng vào đời sống bản thân, thì mới thấy quả thực là thiên nan vạn nan. Cũng thế, khi triển khai vấn đề hiệp thông vào đời sống cộng đoàn Ki-tô hữu, chắc chắn chúng ta sẽ gặp những phản động lực rất mạnh, mà những phản động lưc ấy không hẳn chỉ là ngoại tại (từ bên ngoài tới – tức là từ khách thể), nó còn là những phản động lực nội tại (tự bản thân – tức là từ chủ thể). Những thông tin nhan nhản trên các phương tiện truyền thông (báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình …) : vợ chồng lục đục, ly hôn, cha mẹ hất hủi con cái, con cái bất hiếu với cha me, ông bà, rồi anh em xâu xé lẫn nhau, gia đình ly tán … Trong phạm vi gia đình mà còn như vậy, đừng nói chi đến những phạm vi rộng hơn như khu xóm, hàng xứ hàng tổng, hay những đoàn thể xã hội, hội đoàn tôn giáo … Cứ mạnh dạn nhìn vào gia đình Đa Minh, cũng không thiếu những minh chứng rất cụ thể và thật sinh động cho sự thiếu vắng … tinh thần hiệp thông !
Nói, thì lúc nào cũng nói rất trơn tru về một tinh thần hiệp thông huynh đệ rất đáng trân trọng ; nhưng khi áp dụng vào đời sống, sao cứ thấy đầy rẫy những mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm, lúc nào cũng chỉ thấy ngôn hành bất nhất ! Không dám vơ đũa cả nắm, cũng không bi thảm hoá vấn đề, nhưng phải thẳng thắn nhận chân một điều là chúng ta vẫn nói nhiều hơn làm – kêu gọi người khác sống hiệp thông thì được, nhưng đến chính bản thân thì lại … bị, tại, bởi, vì … trăm thứ lý do, không thực hiện được ! Nhìn vào tấm gương chói lọi của Thánh Tổ phụ Dòng Anh Em Thuyết Giáo, liệu chúng ta có cảm thấy tự thẹn với chính mình ?
Để triển khai vấn đề một cách cụ thể thiết thực, xin đi từ đơn vị nhỏ nhất, cơ bản nhất của xã hội, của Giáo Hội, đó là gia đình. Muốn cho gia đình được hiệp thông, thì tiên vàn mỗi cá nhân, mỗi thành viên trong gia đình phải biết dẹp bỏ những tự ái riêng tư, phải biết quên đi “cái tôi” để sống với nhau bằng một Tình Yêu đích thực. Cứ tự hỏi khi Thiên Chúa dựng nên loài người, thì tại sao Người không dựng nên chỉ một giống (nam hoặc nữ) cho đỡ phiền toái, mà lại là “có nam có nữ” ? Tại sao sự đối kháng giới tính không nhằm để tiêu diệt lẫn nhau mà là bổ sung cho nhau để trở nên hoàn thiện ? Rõ ràng cái gia đình đầu tiên của loài người được khai sinh từ Tình Yêu, nên sẽ triển nở và tồn tại mãi trên nền tảng Tình Yêu đó. Và khi không còn Tình Yêu trên trái đất này, loài người sẽ bị huỷ diệt, đó là hệ quả tất yếu. Phải chăng những dục vọng thấp hèn không xuất phát từ Tình Yêu đã làm nảy sinh những ghen ghét tị hiềm, những đố kỵ nhỏ nhen, những oán giận thù hằn, để đi tới những khủng bố đẫm máu, những chiến tranh tương tàn ? Cho nên, câu cách ngôn “Tu thân –> Tề gia –> Trị quốc –> Bình thiên hạ” vẫn luôn luôn đúng với con người, đặc biệt là với con-người-Ki-tô-hữu muốn “nên thánh giữa đời”. Muốn “tu thân” để nên thánh, để thành “những người lớn nhất Nước Trời”, điều kiện ắt có và đủ là phải “trở nên như những trẻ nhỏ” (Mt 18, 1-4), hay nói khác hơn là phải quay về với đời sống “nhân bản”, quay về với “cái gốc của con người”, với chính sự thánh thiện ban đầu mà Thiên Chúa đã trao ban. Mà cái gốc của con người – nền tảng của nhân sinh quan Thiên Chúa Giáo – lại chính là Tình Yêu, vì thế nên xin hãy sống và làm việc bởi Tình Yêu, vì Tình Yêu, cho Tình Yêu đích thực là chính Thiên-Chúa-Tình-Yêu.
IV.2. Hiệp thông với Giáo Hội thanh luyện : Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là lòng thương yêu : không những chỉ là “Lá lành đùm lá rách”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, / Người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà còn là “Uống nước nhớ nguồn”, nên đã dành cả tháng bảy (Âm lịch) để tưởng nhớ công ơn những người đã khuất (“Lễ Vu Lan : Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”). Với Ki-tô Giáo thì phạm trù hiệp thông không dừng lại ở Giáo Hội lữ hành, mà còn xuyên suốt sang Giáo Hội thanh luyện, Giáo Hội khải hoàn nữa, để tất cả quy tụ trong Mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, nên Giáo Hội đã dành cả tháng 11 hàng năm để tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố mà còn đang trong thời gian thanh luyện, để được Thiên Chúa đoái thương, ân ban phần thưởng Nước Trời. Như vậy thì giữa truyền thống dân tộc với truyền thống Ki-tô Giáo đã cùng chung một mục đích, tuy sự thể hiện có khác biệt. Phải chăng đây cũng là ưu điểm nổi trội trong công cuộc “Hội nhập văn hoá”, hỗ trợ đắc lực cho sứ vụ Truyền giáo của Giáo Hội ?
IV.3. Hiệp thông với Giáo Hội khải hoàn : Trong kinh Tin Kính, khi xác tín về Giáo Hội có câu “Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh thông công, tôi tin phép tha tội...” (Kinh Tin Kính Các Thánh Tông Đồ). Cụm từ “các thánh thông công” mang ý nghĩa gì ? Một cách nôm na dễ hiểu là : Các Thánh trên Thiên Quốc vẫn thông hiệp với công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội nơi trần thế. Cụ thể hơn là Giáo Hội lữ hành đang trên đường lữ thứ trần gian luôn cầu nguyện để đạt được mục đich chiếm hữu Nước Trời. Sự cầu nguyện ấy không chỉ dành riêng cho những tín hữu tại thế, mà còn rhể hiện tính hiệp thông cầu nguyện cho Giáo Hội thanh luyện. Đến khi các linh hồn đã hoàn tất cuộc thanh luyện, gia nhập Giáo Hội khải hoàn và lúc đó, chính các ngài - ở trước nhan Thiên Chúa - lại hiệp lời cầu nguyện cho Giáo Hội lữ hành. Tính hiệp thông xuyên suốt 3 Giáo Hội (1 Giáo Hội ở nơi thế giới hữu hình, và 2 Giáo Hội trong thế giới vô hình, siêu nhiên) để liên kết nên một trong Mầu nhiệm Thông hiệp Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiển nghĩ, nét đặc trựng nhất của Giáo Hội Hiệp thông chính là ở điểm này.
KẾT LUẬN :
Trong mỗi Thánh Lễ – một cuộc tái hiện Hy tế Thập Giá của Chúa Giê-su Ki-tô – thì việc cử hành Bí tích Thánh Thể là trung tâm điểm. Mầu nhiệm Thánh Thể cũng là trung tâm của đời sống Giáo Hội. Mà Giáo Hội là một cộng đồng hiệp thông với nhau và với Thiên Chúa Ba Ngôi. Toàn thể Giáo Hội đều cùng uống chung một chén, cùng ăn chung một tấm bánh, để cùng thi hành chung một sứ mạng rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Biểu tượng tuyệt vời của tính hiệp thông trong Hội Thánh Chúa là hình ảnh một tấm bánh trên bàn tiệc cộng đồng dân Chúa, một thân cây nho sum suê cành lá hoa quả tốt tươi. Mỗi Ki-tô hữu là một chi thể đều được hút nhựa từ thân cây nho, đều được chia phần từ tấm bánh Giê-su Ki-tô. Vậy hãy làm sao cho mọi người – cả trong và ngoài Giáo Hội – đều cùng được chung hưởng như chính bản thân mình. Đó không những là trách vụ, mà còn là quyền lợi của mỗi thành phần dân Chúa nói chung, mỗi Giáo dân Đa Minh nói riêng. Và đó cũng chính là một phương thế thi hành sứ vụ truyền giáo cách cụ thể và đắc lực nhất, bởi vì “trước khi rao giảng bằng lời nói, hãy rao giảng bằng đời sống” (Thư Mục Vụ 2003 của HĐGMVN). Hãy rao giảng Tin Mừng bằng chính đời sống hiệp thông trong Mầu nhiệm Thánh Thể.
Vâng, “Quả thật, sự hợp nhất này được Chúa Thánh Thần ban tặng không chỉ là việc tập hợp các cá nhân bên cạnh nhau. Nhưng là một sự hơp nhất được tạo nên bởi những liên hệ do việc tuyên xưng đức tin, việc lãnh nhận các bí tích và sự hiệp thông phẩm trật” (“Thông điệp về Đại Kết”, số 9). Chính sự hiệp thông thể hiện Đức Ái Ki-tô Giáo, là sự thông hiệp 3 Giáo Hội (GH lữ hành + GH thanh luyện + GH khải hoàn) trong Mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ mệnh duy nhất của Giáo Hội là Truyền Giáo, mà muốn truyền giáo, thì điều kiện ắt có và đủ là phải sống tình “Bác ái trong chân lý”, cậy nhờ vào sự hoạt động của Thần Khí Chúa (“Giáo Hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ mệnh đốí với mọi người. Như thế Giáo Hội cảm thấy mắc nợ đã nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đã ban tràn đức ái của Chúa Cha trong lòng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nốí kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh của Giáo Hội nằm ngay trong bản tính của mình như Chúa Ki-tô đã muốn : đó là sứ mệnh phải trở nên "dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất". Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người” – TH/KTHGD III, 32).
Với gia đình Đa Minh thì Tinh thần Dòng chính là một lề lối sống, một đường hướng hoạt động nhắm tới mục đích "Giảng thuyết Lời Chúa và cứu rỗi các linh hồn". Là một Kitô hữu, đồng thời là một thành viên trong gia đình Đa Minh, hơn ai hết, chúng ta cần phải thể hiện rõ tinh thần hiệp thông huynh đệ trong cuộc sống của chúng ta (trong Dòng, trong gia đình cũng như trong Giáo Hội, xã hội). Vâng, lạy Chúa ! "Xin hiệp nhất chúng con nên một trong Tình Yêu Chúa. Xin hiệp nhất chúng con như Ngài liên kết với Cha. Xin giải thoát chúng con xa điều bất hoà chia rẽ. Xin kết liên muôn người trong lòng mến Chúa Cha muôn đời" (Lm. Thành Tâm –"Bài ca hiệp nhất" – TCCĐ).
JM. Lam Thy ĐVD.
|
|